Lạm phát và những biện pháp ngăn ngừa lạm phát - Pdf 84

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ – HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
________________________
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ HỌC VĨ MÔ
VÀ SỰ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ
Đề tài: Lạm phát và những biện pháp ngăn ngừa lạm phát trong
điều hành nền kinh tế quốc dân.
Người hướng dẫn: TS. Đào Đăng Kiên
Người thực hiện đề tài: Lê Thanh Hải
Lớp: CH14C
1
LỜI NÓI ĐẦU
Sau một thời gian dài bị lãng quên, gần đây lạm phát ở Việt nam lại bắt đầu
được một số các nhà kinh tế trong nước và ngoài nước đưa ra tranh luận. Sở dĩ vấn
đề này được quan tâm vì gần đây chỉ số giá tiêu dùng trong nền kinh tế tăng đột
biến trong nửa đầu năm nay, CPI tăng 7,2% và dự đoán có thể còn tiếp tục tăng vào
những tháng cuối năm ở mức hai con số là hoàn toàn có thể. Điều này đã vượt qua
kế hoạch kiềm chế lạm phát ở mức 5% như kế hoạch đầu năm của Quốc Hội.
Chính phủ cũng có nhiều cuộc hội thảo với sự tham gia của nhiều cơ quan như
Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Viện Quản lý Kinh tế Trung ương, Quỹ Tiền
tệ Quốc tế (IMF) nhằm tìm ra nguyên nhân của sự tăng giá và tìm kiếm những giải
pháp cho việc ổn định giá cả trong thời gian tới. Cuộc tranh luận hiện nay xoay
quanh vấn đề liệu sự tăng giá này có phải là lạm phát không? Nguyên nhân dẫn đến
tăng giá hiện nay có gì khác so với nguyên nhân tăng giá vào những năm 80? Có
một vài cách giải thích khác nhau về vấn đề này. Một số thiên về quan điểm của
phái trọng tiền (monetarist), cho rằng tăng giá hiện nay là do tăng tiền và không có
gì khác nhau giữa việc tăng giá vào những thập niên 80 so với hiện nay và trách
nhiệm này thuộc về Ngân hàng Nhà nước. Một số khác thiên về phái cơ cấu
(structuralist), cho rằng tăng giá hiện nay là do tăng chi phí sản xuất mà nó bắt
nguồn từ yếu tố khách quan bên ngoài, việc tăng giá này chỉ nhất thời nên không

chứ không phải sự dao động đột ngột trong mức giá tổng quát.
3
II. Cách đo lường lạm phát:
Lạm phát được đo lường bằng tỷ lệ lạm phát mà nó là suất tăng của mức giá
tổng quát theo thời gian. Vấn đề đặt ra trước tiên là mức giá tổng quát được tính
toán như thế nào?
Hai thước đo thông dụng phản ánh mức giá tổng quát là chỉ số giá tiêu dùng
(CPI) và chỉ số điều chỉnh GDP (GDP deflator). Chỉ số giá tiêu dùng là một tỷ số
phản ánh giá của rổ hàng hoá trong nhiều năm khác nhau so với giá của cùng rổ
hàng hoá đó trong năm gốc. Chỉ số giá này phụ thuộc vào năm được chọn làm gốc
và sự lựa chọn rổ hàng hoá tiêu dùng. Nhược điểm chính của chỉ số này là mức độ
bao phủ cũng như sử dụng trọng số cố định trong tính toán. Mức độ bao phủ của
chỉ số giá này chỉ giới hạn đối với một số hàng hoá tiêu dùng và trọng số cố định
dựa vào tỷ phần chi tiêu đối với một số hàng hoá cơ bản của người dân thành thị
mua vào năm gốc. Những nhược điểm mà chỉ số này gặp phải khi phản ánh giá cả
sinh hoạt là (1) không phản ánh sự biến động của giá hàng hoá tư bản; (2) không
phản ánh sự biến đổi trong cơ cấu hàng hoá tiêu dùng cũng như sự thay đổi trong
phân bổ chi tiêu của người tiêu dùng cho những hàng hoá khác nhau theo thời gian.
Chỉ số điều chỉnh GDP là loại chỉ số có mức bao phủ rộng nhất. Nó bao gồm tất cả
các hàng hoá và dịch vụ được sản xuất trong nền kinh tế và trọng số tính toán được
điều chỉnh tùy thuộc vào mức độ đóng góp tương ứng của các loại hàng hoá và dịch
vụ vào giá trị gia tăng. Về mặt khái niệm, đây là chỉ số đại diện tốt hơn cho việc
tính toán tỷ lệ lạm phát trong nền kinh tế. Tuy nhiên, chỉ số giá này không phản ánh
trực tiếp sự biến động trong giá hàng nhập khẩu cũng như sự biến động của tỷ giá
hối đoái. Nhược điểm chính của chỉ số giá này là không thể hiện được sự thay đổi
của chất lượng hàng hoá khi tính toán tỷ lệ lạm phát và chỉ số không phản ánh được
sự biến động giá cả trong từng tháng.
Việt Nam trong những năm qua cũng sử dụng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) để
tính tỷ lệ lạm phát và sử dụng nó cho mục đích điều hành chính sách tiền tệ. Ngoài
những nhược điểm như phân tích ở trên, chỉ số này không phản ánh được tình hình

lên, thu nhập GDP bình quân đầu người từ 402 USD năm 2000 tăng lên 836 USD
năm 2007, số hộ nghèo giảm dần, đời sống nông dân cải thiện rõ rệt, nhiều công
trình kinh tế xã hội được hoàn thành, hội nhập sâu rộng với các nước trên thế giới
(tổng kim ngạch xuất nhập khẩu VN năm 2007 chiếm 156% GDP), gia nhập Tổ
chức thương mại thế giới WTO,.. VN được các nước trên thế giới đánh giá tốt và
khen ngợi.
Hiện nay nước ta đang đứng trước khó khăn thực sự, chỉ số giá cả tiêu dùng
tăng nhanh năm 2007 là 12.63% và 3 tháng đầu năm 2008 tăng trên 9%, đặc biệt là
cán cân thương mại năm 2007 thâm hụt lớn, nhập khẩu 62,7 tỷ USD tăng +39.6%
so với năm 2006, xuất khẩu 48.6 tỷ USD tăng 21,9%, nhập siêu 14,1 tỷ USD (năm
2006 nhập siêu 5 tỷ USD), nhập siêu chiếm tỷ lệ rất đáng lo ngại 19,8%GDP (lưu ý
việc nhập siêu tăng nhanh có yếu tố giá cả thế giới (xăng dầu, sắt thép, sợi bông,
chất dẻo..) tăng cao do đồng USD yếu), cán cân vãng lai thâm hụt ở tỷ lệ cao trên
6% GDP ở mức đáng lo ngại…
Kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn suy giảm mạnh 4,9% năm 2007, dự
báo xuống 4% năm 2008, thương mại quốc tế giảm mạnh so với năm 2006. Nền
kinh tế Mỹ (chiếm ¼ GDP toàn thế giới) đang suy giảm chuyển qua suy thoái, ảnh
hưởng đến giá cả nguyên vật liệu, lương thực thực phẩm trên thế giới gia tăng đột
biến, lạm phát xảy ra ở nhiều nước, thị trường tài chính thế giới thiệt hại khoảng
3500 tỷ USD. Vì vậy bài toán kiềm chế lạm phát ở nước ta hiện nay là bài toán
phức tạp và vô cùng khó khăn, vừa kiềm chế lạm phát, vừa đảm bảo tăng trưởng.
Do đó, khi triển khai giải pháp kiềm chế lạm phát, cần có sự đồng thuận và chia sẻ
của các cấp, của mọi người, của người đi vay và người cho vay, giữa ngân hàng và
doanh nghiệp, giữa Ngân hàng Nhà nước và ngân hàng thương mại, giữa người gởi
tiền và ngân hàng huy động vốn, giữa tổ chức xuất khẩu với tổ chức nhập khẩu,
giữa cái riêng và cái chung…Phải sử dụng cả giải pháp ngắn hạn (tỷ giá, lãi suất,
hạn mức, thắt lưng buộc bụng, trợ giá, trợ cấp …) và dài hạn (kiểm soát tín dụng,
chi tiêu công, nâng cao năng lực sản xuất trong nước, tăng năng suất lao động…).
6
Đặc biệt cần bình tĩnh đối phó vì chúng ta đã có nhiều kinh nghiệm chống lạm phát

nhưng thường hình thành từ những chính sách thu chi ngân sách hay tiền tệ mở
rộng.
- Lạm phát trơ ì (lạm phát quán tính): có xu hướng dai dẳng ở cùng tỷ lệ
cho đến khi những sự kiện kinh tế gây ra nó thay đổi. Nếu lạm phát cứ đều đặn, tỷ
lệ lạm phát thịnh hành có thể được dự đoán và do đó được đưa vào các hợp đồng
tiền lương và tài chính, điều này lại tiếp tục duy trì nó. Tỷ lệ lạm phát quán tính đôi
khi ngụ ý lạm phát cơ bản hay cốt lõi.
Thông thường những cú sốc đối với nền kinh tế từ phía cung hay cầu làm
cho tỷ lệ lạm phát thực tế di chuyển lên trên hay xuống dưới tỷ lệ lạm phát cơ bản.
Các cú sốc chính về phía cầu bao gồm sự tăng nhanh của tổng cầu do dự đoán thu
nhập sẽ tăng.
Lạm phát do chính sách, lạm phát do cầu kéo được nhận thấy ở nhiều nền
kinh tế đang chuyển đổi, là kết quả của những chính sách thu chi ngân sách hạn chế
không đầy đủ và việc tài trợ bằng tiền cho thâm hụt ngân sách. Thông thường,
những cú sốc bên ngoài như những cú sốc xuất phát từ tăng giá năng lượng hay thu
hẹp thương mại với các bạn hàng truyền thống có xu hướng bổ sung cho áp lực lạm
phát.
8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status