Câu hỏi trong tiếng tày - Pdf 84

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
––––––––––––––––––
VŨ HUYỀN NHUNG CÂU HỎI TRONG TIẾNG TÀY Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC
Mã số: 60.22.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. TẠ VĂN THÔNG
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 0
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI ........................................................................... 1
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ ................................................................................ 2
2.1. Các nghiên cứu về hành vi hỏi và câu hỏi trong ngôn ngữ học ở
nƣớc ngoài và ngôn ngữ học ở Việt Nam................................................ 2
2.2. Các nghiên cứu về tiếng Tày và câu hỏi tiếng Tày ........................... 5
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ........................................ 6
3.1. Mục đích nghiên cứu ....................................................................... 6
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................................... 6
4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ........................................ 7
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu ...................................................................... 7
4.2. Phạm vi nghiên cứu ......................................................................... 7
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................................................... 8
6. ĐÓNG GÓP MỚI ................................................................................... 9
6.1. Về mặt lí luận .................................................................................. 9
6.2. Về mặt thực tiễn .............................................................................. 9
7. CẤU TRÖC LUẬN VĂN ...................................................................... 9
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ....................................... 10

2.2.1. Câu hỏi đích thực ........................................................................ 61
2.2.1.1. Câu hỏi lựa chọn .................................................................. 62
2.2.1.2. Câu hỏi không lựa chọn ....................................................... 70
2.2.2. Câu hỏi không đích thực ............................................................. 72
2.2.2.1. Câu hỏi có giá trị cầu khiến .................................................. 74
2.2.2.2. Câu hỏi có giá trị biểu cảm................................................... 77
2.2.2.3. Hỏi - khẳng định .................................................................. 84
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2.2.2.4. Hỏi - phủ định ...................................................................... 85
CHƢƠNG 3: CÂU HỎI TRONG CÁC TRUYỆN NGẮN CỦA “TUYỂN
TẬP NÔNG VIẾT TOẠI” ............................................................................ 90
3.1. NÔNG VIẾT TOẠI VÀ “TUYỂN TẬP NÔNG VIẾT TOẠI” .......... 90
3.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA CÂU HỎI TRONG CÁC TRUYỆN NGẮN CỦA
“TUYỂN TẬP NÔNG VIẾT TOẠI” ........................................................ 92
3.2.1. Đặc điểm về hình thức ................................................................ 92
3.2.2. Cách sử dụng câu hỏi trong các truyện ngắn của Nông Viết Toại ..... 97
3.2.2.1. Dựa vào kết quả thống kê và khảo sát .................................. 97
3.2.2.2. Câu hỏi trong các truyện ngắn tiếng Tày của Nông Viết Toại
xét trên bình diện hoạt động giao tiếp ............................................... 97
3.2.2.3. Câu hỏi trong truyện ngắn tiếng Tày của Nông Viết Toại xét
trên bình diện hành vi ngôn ngữ ..................................................... 104
3.3. VAI TRÕ CỦA CÂU HỎI TRONG CÁC TRUYỆN NGẮN CỦA
NÔNG VIẾT TOẠI ................................................................................ 108
3.3.1. .................................................................................................. 108
3.3.2. Khắc họa hình tƣợng nhân vật .................................................. 109
3.3.3. Tạo nên nét riêng trong phong cách của một nhà văn miền núi viết
về miền núi ......................................................................................... 112
KẾT LUẬN ................................................................................................ 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 118

hữu ích góp phần thực hiện những yêu cầu đã và đang đặt ra đối với ngôn ngữ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2
và văn hóa Tày, cũng nhƣ đối với việc giáo dục tiếng Tày ở vùng đồng bào
Tày hiện nay.
Vì những lí do trên, đề tài “Câu hỏi trong tiếng Tày” đƣợc chọn làm
hƣớng nghiên cứu trong luận văn này.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1. Các nghiên cứu về hành vi hỏi và câu hỏi trong ngôn ngữ học ở
nƣớc ngoài và ngôn ngữ học ở Việt Nam
2.1.1. Nhƣ đã nói ở trên, hỏi với hình thức thể hiện và tính mục đích của
nó, là một đối tƣợng đƣợc chú ý đặc biệt trong nghiên cứu ngôn ngữ học.
Theo V.A. Xmirnov và V.K. Phin thì: “Cần xếp hỏi vào số những khái niệm
có ý nghĩa chung đối với toàn bộ khoa học và văn hóa. Việc nghiên cứu nó có
ý nghĩa cả trên quan điểm nhận thức luận và quan điểm sử dụng vào các mục
đích khác” (Trích theo Lê Đông [16; 3]).
Thực tế nghiên cứu ngôn ngữ cho thấy, khi nghiên cứu về hành vi hỏi và
câu hỏi, phần lớn các nhà khoa học đã tập trung miêu tả câu hỏi về mặt hình
thức, các thành phần, mô hình cấu trúc, các phƣơng tiện sử dụng để tạo nên
các loại câu hỏi khác nhau. Việc nghiên cứu câu hỏi gắn với các hoạt động
giao tiếp cụ thể với các mục đích trong các hoàn cảnh giao tiếp khác nhau còn
hạn chế.
Thời gian gần đây, cùng với sự phát triển của ngữ nghĩa - ngữ dụng
học, các nhà khoa học đã chú ý hơn đến mục đích giao tiếp, đến mối quan
hệ giữa ngữ nghĩa - ngữ dụng, đến các nhân tố cơ bản tác động đến các
hành vi ngôn ngữ trong đó có hành vi hỏi. Tiêu biểu là các công trình của
J.L. Austin (1962), của J.R. Searle (1975). Đặc biệt, trong tác phẩm của
mình, J.R. Searle đã chỉ ra 12 kiểu loại khác nhau khi phân loại các hành

...
Ngoài các công trình nghiên cứu trên, còn có thể kể đến một số bài tạp
chí, một số khóa luận tốt nghiệp đại học nhƣ:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

4
- Câu trả lời và câu đáp của câu hỏi, Lê Đông, Ngôn ngữ (số phụ), 1985.
- Cách tổ chức câu hỏi trong tiếng Kơ ho, Tạ Văn Thông, Trong:
Những vấn đề ngôn ngữ học về các ngôn ngữ Phƣơng Đông, Viện Ngôn
ngữ học., 1985.
- Thử tìm hiểu phát ngôn hỏi và phát ngôn trả lời trong sự tương tác
lẫn nhau giữa chúng trên bình diện giao tiếp, Nguyễn Chí Hòa, Ngôn ngữ
số 1, 1993.
- Vai trò của thông tin tiền giả định trong cấu trúc ngữ nghĩa - ngữ dụng
của câu hỏi, Lê Đông, Ngôn ngữ số 2, 1994.
- Một vài đặc điểm chung của câu nghi vấn (qua ngôn liệu một số ngôn
ngữ), Nguyễn Đăng Sửu, Kỉ yếu hội thảo Ngữ học trẻ, 1998.
- Một số tiểu từ tình thái đứng cuối câu dùng để hỏi, Nguyễn Thị Tuyết
Mai, những vấn đề ngôn ngữ học, Kỉ yếu hội nghị khoa học 2001, Viện Ngôn
ngữ học.
- Giá trị ngữ nghĩa - ngữ dụng của câu hỏi trong truyện ngắn Nguyễn
Công Hoan, Hà Thị Văn, Khóa luận tốt nghiệp, Khoa Ngôn ngữ học (Đại học
khoa học xã hội và nhân văn), 2004.
- Câu hỏi trong truyện ngắn Nam Cao, Nguyễn Thị Hồng Nhung,
khóa luận tốt nghiệp, Khoa Ngôn ngữ học (Đại học Khoa học xã hội và
nhân văn), 2005.
. . . . .
Có thể thấy rằng thời gian qua ở Việt Nam, việc nghiên cứu câu hỏi chủ
yếu trên ngữ liệu tiếng Việt. Câu hỏi tiếng Việt đã dành đƣợc nhiều sự chú ý

9. Nguyễn Thị Lƣơng, Tiếng Tày ở Na Hang, Khóa luận tốt nghiệp Đại
học Tổng hợp, H., 1994.
10. Hoàng văn Ma, Loại từ trong tiếng Tày - Nùng, Trong: Ngôn ngữ
dân tộc thiểu số ở Việt Nam - Một số vấn đề về quan hệ cội nguồn và loại
hình học, Nxb KHXH, H., 2002

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

6
11. Hoàng Văn Ma, Lục Văn Pảo, Từ điển Việt - Tày - Nùng”, “Từ điển
Tày - Nùng - Việt, Nxb Từ điển bách khoa, H., 2005.
12. Lƣơng Bèn (chủ biên), Slon phuối Tày (dùng cho cán bộ công tác tại
vùng dân tộc), TN., 2007.
.......
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã tập trung chú ý đến một
số khía cạnh cụ thể của tiếng Tày nhƣ: nguồn gốc lịch sử, vị trí của tiếng Tày
và Nùng, mối quan hệ giữa tiếng Tày - Nùng với nhau và với tiếng Việt, chức
năng xã hội của tiếng Tày, hệ thống chữ viết, các quy tắc chính tả và ngữ
pháp của tiếng Tày - Nùng, giới thiệu khái quát tiếng Tày - Nùng về: ngữ âm,
từ vựng, ngữ pháp…
Có thể thấy, nhìn chung trong ngôn ngữ học Việt Nam, hành vi hỏi và
câu hỏi đã trở thành đối tƣợng quan tâm ngày càng sâu sắc hơn của nhiều nhà
khoa học. Tuy nhiên, cho đến nay chƣa có một công trình nào xem xét riêng
về câu hỏi trong tiếng Tày. Có thể nói đây là một mảnh đất chƣa có ngƣời
khai phá. Đó vừa là khó khăn nhƣng cũng có thể xem là thuận lợi cho việc
thực hiện đề tài “Câu hỏi trong tiếng Tày” này.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn có mục đích miêu tả và chỉ ra các đặc điểm câu hỏi tiếng Tày
về các mặt: hình thức cấu tạo, các đặc điểm ngữ nghĩa - ngữ dụng.

- Câu hỏi xét về mặt ngữ nghĩa - ngữ dụng, tức là sự sử dụng câu hỏi
tiếng Tày trong những hoàn cảnh khác nhau, nhằm thể hiện các ý đồ giao tiếp
khác nhau của ngƣời nói.
- Đối với các truyện ngắn trog “Tuyển tập Nông Viết Toại” luận văn sẽ
tập chung miêu tả một số đặc điểm chính trong câu hỏi ở các tác phẩm này,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

8
trên cơ sở đó chỉ ra một số vai trò dễ nhận thấy qua việc sử dụng câu hỏi của
nhà văn.
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này, luận văn áp dụng những phƣơng pháp nghiên
cứu chủ yếu sau:
- Phƣơng pháp ngôn ngữ học điền dã:
Trong việc thu thập tƣ liệu câu hỏi tiếng Tày, phƣơng pháp này cần sử
dụng khi tìm hiểu, nghe, ghi trực tiếp các cứ liệu ngôn ngữ trong sinh hoạt
hàng ngày của ngƣời Tày ở một số địa phƣơng thuộc tỉnh Cao Bằng. Các chủ
thể phát ngôn các câu này có thể thuộc nhiều độ tuổi khác nhau, giới tính khác
nhau, có trình độ, nghề nghiệp khác nhau. Nội dung phát ngôn có thể liên
quan đến các chủ đề đa dạng thuộc đời sống, trong các mối quan hệ gia đình,
bạn bè, đồng nghiệp..., trong các hoàn cảnh giao tiếp khác nhau.
- Phƣơng pháp thống kê phân loại:
Căn cứ vào ngữ liệu về câu hỏi tiếng Tày đƣợc thu thập trong các tác
phẩm văn học cụ thể, tác giả sẽ tiến hành thống kê các dạng câu hỏi tiếng Tày
đã đƣợc sử dụng, phục vụ cho các mục đích nghiên cứu trong luận văn.
- Phƣơng pháp miêu tả (với các thủ pháp phân tích, tổng hợp):
Trên cơ sở thống kê, phân loại, luận văn tiến hành phân tích, tổng hợp
các câu hỏi và các phƣơng tiện sử dụng trong tạo lập câu hỏi tiếng Tày, chỉ ra
các đặc điểm của câu hỏi tiếng Tày và các quy tắc của chúng trong cấu tạo và

Chƣơng 2- Đặc điểm câu hỏi tiếng Tày
Chƣơng 3 - Câu hỏi trong các truyện ngắn của “Tuyển tập Nông Viết Toại”
Trong phần phụ lục gồm có:
- Trang bìa của “Tuyển tập Nông Viết Toại” và một số trang chính văn
của tuyển tập.
- Một số hình ảnh về cuộc sống, sinh hoạt văn hóa của ngƣời Tày.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

10
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1.Những vấn đề liên quan đến câu hỏi
1.1.1.1. Câu và sự phân loại câu theo mục đích phát ngôn
Trong hệ thống các đơn vị ngôn từ làm thành ngôn bản, câu là đơn vị
ngôn ngữ nhỏ nhất có chức năng thông báo, có cấu tạo ngữ pháp nhất định
với một ngữ điệu mang một ý nghĩa tƣơng đối trọn vẹn, giúp biểu thị một
nhận định và có thể kèm thái độ của ngƣời nói hoặc biểu thị thái độ tình cảm
của ngƣời nói.
Câu có thể đƣợc xem xét dƣới nhiều bình diện khác nhau: không chỉ ở
bình diện cấu trúc thuần túy, mà cả ở mặt ngữ nghĩa và mặt sử dụng. Theo
cấu trúc cú pháp, câu có thể đƣợc phân loại thành các kiểu: câu đơn và câu
phức. Theo truyền thống câu đơn có thể đƣợc phân biệt thành câu đơn bình
thƣờng, câu một thành phần và câu đặc biệt: câu phức có thể phân biệt thành
câu ghép đẳng lập, câu ghép chính phụ. Trong nội bộ câu ghép có thể đƣợc
phân biệt nhỏ hơn nữa. Ngoài ra, còn có sự phân biệt: câu đơn, câu phức và
câu ghép. Xét về mặt mục đích phát ngôn câu có thể đƣợc chia thành bốn loại
sau: Câu tƣờng thuật (câu kể), câu cầu khiến (câu mệnh lệnh), câu cảm thán

1.1.1.2. Mối quan hệ giữa câu hỏi và câu trả lời
Hỏi và trả lời có mỗi quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. “Đây là mối
quan hệ cơ bản nhất quy định bản chất bên trong của bản thân các câu hỏi
và là nơi bộc lộ rõ nét nhất những đặc điểm ngữ nghĩa - ngữ dụng của các
câu hỏi nói chung cũng nhƣ từng loại câu hỏi nói riêng.” (Dẫn theo Lê
Đông, [16, 15]).
Trong giao tiếp, hỏi và trả lời là hai mặt thống nhất, biện chứng lẫn nhau.
Hỏi là nguyên nhân nảy sinh câu trả lời. Ngƣợc lại, trả lời là đích hƣớng tới

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

12
của câu hỏi. Mục đích mà câu trả lời và câu hỏi cùng hƣớng đến là làm sáng
tỏ, sáng rõ cái chƣa biết, chƣa rõ.
Để đạt đƣợc mục đích trên, theo Lê Đông giữa câu trả lời và câu hỏi phải
có sự tƣơng hợp trên các phƣơng diện sau:
a. Sự tƣơng hợp về hiệu lực ở lời (hay sự tƣơng hợp về khung tình thái
mục đích phát ngôn)
Ngữ nghĩa học hiện đại, xét theo quan điểm của Ch. Bally thì trong
cấu trúc ý nghĩa của câu có hai thành tố cơ bản là: Modus (tình thái hiển
ngôn và ngầm ẩn) tƣơng ứng với dictum (nội dung mệnh đề). Khung tình
thái về hiệu lực tại lời thƣờng đƣợc trình diễn bằng cấu trúc gồm một số
thành tố cơ bản nhƣ:
- Ngƣời nói, gắn với hành động nói năng nhƣ một số đặc trƣng cơ bản
của nó, đóng vai trò là chủ thể tình thái. Tính tình thái đƣợc xác lập theo quan
điểm của ngƣời nói. Nó phản ánh vị trí của ngƣời nói với tính cách là chủ thể
của hành vi phát ngôn, và là một biểu hiện về sự có mặt của ngƣời nói trong
câu, cho dù cái tôi chủ thể đó có một hình thức biểu hiện tƣờng minh hay
ngầm ẩn (Benvenist, dẫn theo Lê Đông [16,17]).
- Thái độ đánh giá của ngƣời nói đóng vai trò là những vị từ tình thái

tỏ những điều mà ngƣời hỏi đang cần. Chính câu hỏi đã quy định trƣớc cách
tổ chức và phân bố thông tin trong câu trả lời tƣơng ứng.
d. Sự tƣơng hợp về tiền giả định
Mỗi quan hệ thống nhất, chặt chẽ giữa câu hỏi và trả lời cũng đƣợc thể
hiện rõ thông qua sự tƣơng hợp về tiền giả định.
Tiền giả định là yếu tố tạo nên cái chỉnh thể ngữ nghĩa của câu hỏi. Đồng
thời còn là yếu tố tạo nên tính thống nhất về logic - ngữ nghĩa giữa câu hỏi và
câu trả lời. Chấp nhận tiền giả định chứa trong câu hỏi là một điều kiện để mở
rộng đối thoại và đảm bảo sự tƣơng hợp về hiệu lực tại lời. Đây chính là một
tiêu chuẩn nội dung của câu trả lời.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

14
1.1.2. Lí thuyết hội thoại
1.1.2.1. Sự trao lời, trao đáp và tương tác trong hội thoại
Hội thoại: là hình thức giao tiếp thƣờng xuyên, phổ biến của ngôn ngữ.
Nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác. Trong bất kì
một cuộc hội thoại nào cũng bao gồm ba vận động chủ yếu: trao lời, trao đáp
và tƣơng tác.
Trao lời: là vận động mà ngƣời nói (SP1) nói ra và hƣớng lời nói của
mình vào phía ngƣời nhận (SP2), cốt để nhận biết đƣợc lời đƣợc nói ra đó là
dành cho SP2. Trong một cuộc song thoại, việc xác định SP2 là đơn giản. Tuy
nhiên trong những cuộc đa thoại cần phải xác định ngƣời nghe đích thực đối
với lƣợt lời đó. Thông thƣờng SP1 và SP2 là hai ngƣời khác nhau, trừ trƣờng
hợp độc thoại. Tuy vậy, ngay cả trong trƣờng hợp độc thoại ở ngƣời nói có sự
phân đôi nhân cách (còn gọi là sự phân thân): nhân cách nghe và nhân cách
nói. Đó vừa là SP1 vừa là SP2, khi hoạt động theo nhân cách SP1 hay SP2 tự
mình “biến thành” hai nhân vật khác nhau.
Để có đƣợc lời trao, sự có mặt của SP1 là tất yếu. Điều đó thể hiện ở

đáp. Nhƣng nhƣ đã nói đây chỉ là sự loại trừ sự hồi đáp mang tính lâm thời.
Trong chiều sâu những diễn ngôn này vẫn cần đến sự hồi đáp hiển ngôn
hoặc không hiển ngôn ở ngƣời tiếp nhận.
Tương tác: Trong hội thoại, các nhân vật hội thoại ảnh hƣởng lẫn nhau,
tác động qua lại với nhau và có thể làm biến đổi nhau. Trƣớc cuộc hội thoại,
giữa các nhân vật giao tiếp có sự khác biệt, thậm chí đối lập, trái ngƣợc nhau
về các mặt nào đó. Nếu không có sự khác biệt này thì giao tiếp thành ra thừa.
Trong hội thoại và qua hội thoại những khác biệt này giảm dần và mất đi hoặc
mở rộng ra căng lên thành xung đột. Nhân vật hội thoại cũng là nhân vật liên
tƣơng tác. Họ có thể tác động qua lại bằng mọi phƣơng tiện đặc biệt là bằng
ngôn ngữ. Liên tƣơng tác trong hội thoại trƣớc hết là sự tƣơng tác giữa các
lƣợt lời của SP1 và SP2... Nhƣ vậy lƣợt lời vừa là cái chịu tác động vừa là

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

16
phƣơng tiện mà SP1, SP2 sử dụng để gây ra tác động đối với lời nói và qua
lời nói tác động đến tâm sinh lí của nhau.
Hội thoại có thể ở hai cực: điều hoà nhịp nhàng, hoặc hỗn độn. Trong các
cuộc đối thoại đều phải có sự hoà phối các hoạt động của các đối tác về mọi
mặt. Sự hoà phối này nếu hoàn hảo thì hội thoại sẽ nghiêng về cực thứ nhất,
nếu không tốt thì hội thoại sẽ nghiêng về cực thứ hai. Trong quá trình hoà
phối, mỗi nhân vật phải tự hoà phối, tức là tự mình điều chỉnh hành động, thái
độ, lƣợt lời của mình theo từng bƣớc của đối thoại, để khớp với những biến
đổi của đối tác và của tình huống diễn ra. Vì con ngƣời là sinh vật có ý thức
và ý chí, nên sự tự hoà phối không phải là bị động mà chủ động, chủ định.
Giữa các nhân vật tƣơng tác có sự liên hoà phối, nghĩa là có sự phối hợp
trong quá trình tự hoà phối của từng nhân vật. Sự liên hoà phối có thể theo
trục nối tiếp hoặc trục đồng thời. Theo trục nối tiếp, nhân vật này biến đổi
cách ứng xử của mình sau khi đối tác đã thực hiện một biến đổi nào đấy. Sự

"Hãy làm cho phần đóng góp của anh, chị (vào cuộc hội thoại) đúng như
nó được đòi hỏi ở giai đoạn nào (của cuộc hội thoại) mà nó xuất hiện phù
hợp đích hay phương hướng của một cuộc hội thoại mà anh, chị đã chấp
nhận tham gia vào” (Dẫn theo Đỗ Hữu Châu [9, 229]). Nguyên tắc cộng tác
hội thoại trên đƣợc Grice diễn giải ra thành bốn phƣơng châm nhỏ:
a. Phƣơng châm về lƣợng, với hai yêu cầu:
- Hãy làm cho phần đóng góp của anh có lƣợng tin đúng nhƣ đòi hỏi của
đích cuộc hội thoại.
- Đừng làm cho đóng góp của anh lớn hơn yêu cầu mà nó đòi hỏi.
b. Phƣơng châm về chất, với sự phát biểu tổng quát:
Hãy cố gắng làm cho phần đóng góp của anh là đúng, đặc biệt là:
- Đừng nói điều gì mà anh tin rằng không đúng
- Đừng nói điều gì mà anh không có đủ bằng chứng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

18
c. Phƣơng châm quan hệ (còn gọi là phƣơng châm quan yếu), với yêu cầu:
- Hãy nói những điều có liên quan đến hội thoại
4. Phƣơng châm cách thức, với yêu cầu:
- Tránh lối nói tối nghĩa
- Tránh lối nói mập mờ
- Hãy nói ngắn gọn
- Hãy nói có trật tự.
Ngoài các phƣơng châm trên, khi giao tiếp các bên tham gia còn phải chú
ý đến phƣơng châm lịch sự và khiêm tốn.
Các phƣơng châm nói trên đúng cho những cuộc hội thoại chân thực,
trong đó các bên tham gia thực sự muốn làm cho cuộc thoại đạt hiệu quả một
cách rõ ràng, trực tiếp. Nếu đƣợc nhƣ vậy, cuộc hội thoại sẽ đạt đƣợc tính
cộng tác giữa các bên tham gia, đạt đƣợc tính quan yếu, khi những điều đƣợc

thể là do chủ ý của ngƣời tham gia hội thoại. Theo một số nhà nghiên cứu
thì đó là "chiến thuật giao tiếp". Khi đó ngƣời ta dùng ngôn ngữ làm công
cụ thể hiện một ý nghĩa khác. Tƣơng tự nhƣ vậy, sự vi phạm nguyên tắc
cộng tác hội thoại của các câu trả lời gián tiếp cũng thƣờng không phải là
ngẫu nhiên. Nó luôn kèm theo nghĩa hàm ẩn mà ngƣời trả lời có chủ định
truyền tới ngƣời hỏi.
1.1.3. Lí thuyết về hành vi ngôn ngữ
1.1.3.1. Khái niệm về hành vi ngôn ngữ
Theo F.de.Sausure, giữa ngôn ngữ và lời nói có sự phân biệt rõ rệt và
triệt để. Quan điểm này đã thống trị, chi phối các nghiên cứu về ngôn ngữ học
trong một thời gian dài. Mãi đến những năm 60 của thế kỉ XX với các công
trình của J.L.Austin (1962), của J.Searle (1969) quan hệ giữa ngôn ngữ và lời
nói mới đƣợc nhìn nhận một cách đúng đắn và đầy đủ hơn. J.L.Austin và
J.Searle là những ngƣời đầu tiên đề xuất lí thuyết về hành vi ngôn ngữ
(HVNN). Theo các các tác giả này, ngôn ngữ không chỉ đƣợc dùng để thông

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

20
báo hay miêu tả một cái gì đó, mà quan trọng hơn là đƣợc dùng để "làm cái gì
đó", để thể hiện các hành động. Các hành động đƣợc thể hiện qua lời nói đƣợc
gọi là hành động ngôn từ (hay hành vi ngôn ngữ - HVNN).
Ở Việt Nam, từ những năm đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX, các nhà ngôn
ngữ học Việt Nam đã quan tâm tìm hiểu về vấn đề này, trên cơ sở ghi nhận ý
kiến của những chuyên gia Ngữ dụng học và vận dụng nghiên cứu những biểu
hiện của hành vi ngôn ngữ trong thực tế tiếng Việt, tác giả Đỗ Hữu Châu cho
rằng : "Khi chúng ta nói năng là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một
hoạt động mà phương tiện là ngôn ngữ" [9, tr.88]. Cùng quan điểm nhƣ vậy
Nguyễn Đức Dân phát biểu : "Khi thực hiện một phát ngôn trong một tình
huống giao tiếp cụ thể, qua cung cách phát ngôn và cấu trúc của nó người nói


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status