Phần I
Tổng quan về thương mại quốc tế
1. Nguồn gốc của Marketing quốc tế : Cơ hội và thách thức
Minh hoạ về Marketing : Sự phát sinh việc đa quốc tịch hoá các tập đoàn.
Khác nhiều công ty của Mỹ, không chủ đích hoạt động kinh doanh ở nước ngoài, Beatrice Foods –
một công ty thực phẩm và sản phẩm tiêu dùng lớn thứ 2 ở Mỹ đã tự nhận mình là một doanh nghiệp quốc tế
mà trong đó Mỹ là một trong các thị trường công ty đang hoạt động. Mong muốn trở thành công ty đứng
đầu thế giới như tập đoàn Nestle.A của Thụy Sĩ. Công ty Beatrice đã nhận ra điều tất yếu rằng nếu là một
pháp nhân Mỹ hoạt động theo luật pháp Mỹ thì sẽ bị giới hạn hoạt động và gặp những khó khăn về thuế.
Công ty này đã từ bỏ quốc tịch Mỹ bằng việc chuyển trụ sở đăng ký sang quốc gia khác, mặc dù trụ sở chính
vẫn ở Chicago. Từ “foods” trong tên của tập đoàn này trước đây nhằm ngụ ý Beatrice Foods là một công ty
Mỹ có thể sẽ được loại bỏ. Mục tiêu của công ty Beatrice trong 10 năm tới là tăng doanh thu trên thị trường
quốc tế từ 23% so với tồng doanh thu lên 40%.
Trường hợp của công ty Beatrice đã nêu lên tầm quan trọng của marketing quốc tế và sự mong
muốn chuyển đổi từ công ty quốc gia thành công ty đa quốc gia. Khi cạnh tranh quốc tế ngày càng trở nên
mạnh mẽ thì các công ty nếu không có khuynh hướng quốc tế hoá kịp thời sẽ gặp nhũng ảnh hưởng bất lợi.
Một doanh nghiệp khôn ngoan phải có tâm lý quyết đoán và cái nhìn tiến bộ, linh hoạt về thị trường thế giới
hơn là chỉ phản ứng hay tự vệ. Theo đó mà các vấn đề có thể gặp phải sẽ được chuyển thành những thử
thách hay cơ hội.
Cuốn sách này tập trung vào việc lập kế hoạch, tiến hành thực hiện và kiểm soát các nguồn lực hợp
tác với mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá các cơ hội thị trường toàn cầu. Cuốn sách đánh giá tầm quan trọng
của marketing quốc tế, đối với Mỹ và đối với cả thế giới. Mở rộng hơn là sự đánh giá tầm ảnh hưởng của các
nền văn minh khác nhau trên thế giới tới quá trình marketing quốc tế. Sách đưa ra quan niệm rõ ràng, đầy
đủ về các khái niệm và vấn đề cơ bản trong thương mại quốc tế nói chung và marketing quốc tế nói riêng.
Cuối cùng, sách sâu chuỗi các khái niệm và kĩ năng marketing căn bản thành một hệ thống nằm trong thế
giới thương mại, gắn kết trực tiếp chúng với các quyết định marketing quốc tế mà trọng tầm là sự hợp tác
trong marketing.
Sách tiếp cận từ tổng thể đến chi tiết. Cụ thể là phần 1 và 2 đưa ra cái nhìn tổng quát về thương
mại thế giới và môi trường kinh doanh trên thị trường thế giới. Phần 3 tập trung vào việc lập kế hoạch thâm
nhập thị trường, nhấn mạnh vào các vấn đề thông tin thị trường, phân tích thị trường và các chiến lược xâm
nhập thị trường. Phần 4 đề cập tới vấn đề đưa ra quyết định marketing – cũng là phần quan trọng nhất của
từ “đa quốc gia” vào sau định nghĩa về marketing vừa nêu. Mặc dù định nghĩa của Hiệp Hội Marketing Mỹ tỏ
ra hữu dụng trong một số trường hợp, nhưng nó lại trở nên thiếu xót trong một vài trường hợp giả định mặc
nhiên. Những hạn chế này càng trở nên lớn hơn khi định nghĩa được mở rộng ra thành marketing quốc tế.
Một hạn chế của định nghĩa này là nó đã giới hạn marketing chỉ là “các hoạt động kinh doanh”. Một
hạn chế khác nữa là định nghĩa áp đặt rằng một sản phẩm khi sản xuất xong thì phải sẵn sàng được đem
bán cho khách hàng trong khi rất nhiều trường hợp một công ty phải định rõ nhu cầu tiêu dùng của khách
hàng trước khi tạo ra một sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Nhu vậy hướng của định
nghĩa này là “chúng ta bán những gì chúng ta làm” mà đáng ra là “chúng ta làm cái ta có thể bán”. Chức
năng của marketing chưa trọn vẹn vì định nghĩa dừng lại khi hàng hoá được bán đi, mà sự hài lòng của
khách hàng sau khi mua mới có tính chất quyết định trong những lần mua hàng tiếp theo. Chính những lời
phàn nàn của những nhà nhập khẩu Châu á và của những người sử dụng là nguyên nhân dẫn đến sự thất
bại của các công ty Mỹ khi họ cung cấp phụ tùng thay thế và dịch vụ hậu mãi cho các thiết bị đã bán.
Thêm một hạn chế của định nghĩa này là sự tiêu tốn tiền của khi quá nhấn mạnh vào việc phân phối
các sản phẩm đi các nơi so với các khía cạnh khác của quá trình kếp hợp marketing. Phải thừa nhận chính
định nghĩa nhỏ hẹp này đã là nguyên nhân làm cho một số công ty Mỹ nghĩ rằng chức năng kinh doanh
quốc tế của họ chỉ đơn giản là xuất khẩu những sản phẩm có thể được từ một nước này sang một nước
khác.
Cụm từ “đa quốc gia” khi được thêm vào định nghĩa cũng không loại bớt đi được các hạn chế của
định nghĩa này. Hơn nữa, cụm từ này cường điệu hoá những nét giống nhau giữa các quốc gia, bên cạnh
đó còn quan niệm bản chất của marketing quốc tế một cách quá đơn giản khi nhìn nhận quá trình xử lý
marketing như một bản sao chép các quyết sách và sử dụng chúng giống nhau tại mọi địa điểm kinh doanh
khác nhau.
Vào năm 1985, một định nghĩa mới đã khắc phục được hầu hết những hạn chế này được Hiệp Hội
Marketing Mỹ thông qua. Theo đó, nó được sử dụng như một định nghĩa cơ bản của marketing quốc tế và
được phát biểu như sau: marketing quốc tế là quá trình xử lý mang tính chất đa quốc gia trong việc lập kế
hoạch và thực thi các công đoạn hình thành, định giá, quảng bá, phân bố những ý tưởng, hàng hoá và dịch
vụ nhằm mục đích tạo ra các trao đổi để có thể thoả mãn những yêu cầu của cá nhân hay tổ chức. Trong
định nghĩa mới được thông qua bởi Hiệp Hội Marketing Mỹ này chỉ có một từ “đa quốc gia” được thêm vào.
Với ngụ ý rằng những hoạt động marketing phải được một vài quốc gia cùng tham gia, và những hoạt động
này bằng mọi cách nên được liên kết xuyên suốt giữa các quốc gia.
nhân vật này tạo ra sự quảng bá hêt sức rộng rãi tại gia đình ở khắp các nước.
Thứ ba, định nghĩa này nhận ra rằng sẽ là không thích hợp nếu các hãng sản xuất tạo ra các sản
phẩm rồi sau đó mới tìm kiềm thị trường để tiêu thụ. Sẽ là không thích hợp nếu nhà sản xuất đi tìm kiếm
khách hàng cho những sản phẩm đã sản xuất, công việc sẽ mang tính logic hơn khi chúng ta tìm hiểu nhu
cầu của khách hàng trước, sau đó sẽ tạo ra các sản phẩm để thoả mãn nhu cầu đó. Để đáp ứng những thị
trường ở ngoài nước, quá trình này cần phải có những sản phẩm được cải tiến. Trong một vài trường hợp,
nếu sản xuất sản phẩm theo cách thức này sẽ có thể đưa đến phương pháp mới để đáp ứng nhu cầu của
khách hàng ngoài nước ( một sản phẩm mới là sản phẩm được tạo ra dành riêng cho thị trường ngoài
nước). Phương hướng của công ty AT&T trước đây là thiết kế những sản phẩm dành riêng cho người tiêu
dùng Mỹ, sau đó áp dụng với các sản phẩm cho những thị trường ngoài nước. Cho đên bây giờ công ty này
đã hiểu rằng họ phải định hướng quản lý sao cho có thể nhìn xa hơn được những nhu cầu của thị trường
Mỹ.
Thứ tư, định nghĩa này thừa nhận rằng địa điểm hay sự phân bố chỉ là một phần trong sự kết hợp
marketing và khoảng cách giữa các thị trường làm cho nó không quan trọng hơn mà cũng chẳng kém đi so
với những thành phần khác của quá trình kếp hợp này. Địa điểm, sản phẩm, việc quảng bá và giá cả (4P), 4
thành phần này phải thống nhất và xuyên suốt với mục đích đưa ra được một sự kếp hợp marketing được
người tiêu dùng ưa chuộng.
Quy mô của marketing quốc tế.
Một cách để có thể hiểu khái niệm marketing quốc tế là xem xét những khác nhau và giống nhau
của các định nghĩa về marketing nội địa, marketing ngoài nước, marketing so sánh, thương mại quốc tế, và
marketing đa quốc gia.
Marketing nội địa
được định nghĩa là công việc thực hành marketing nằm trong
phạm vi nghiên cứu hoặc những thị trường trong nước. Từ những triển vọng của marketing nội địa, các
phương pháp marketing được sử dụng ngoài phạm vi thị trường trong nước là marketing ngoài nước. Như
vậy,
marketing ngoài nước
bao gồm quá trình hoạt động marketing nội địa nhưng được thực hiện trong
phạm vi một nước thứ hai. Một công ty của Mỹ sẽ thực hiện phương pháp marketing nội địa trên nước Mỹ
và thực hiện phương pháp marketing ngoài nước tại Anh. Đối với một công ty của Anh thì ngược lại, họ thực
marketing đa quốc gia sẽ được hoán đổi vị trí cho nhau. Thêm vào đó, bài học sẽ sử dụng ví dụ nước Mỹ
( cùng với Nhật, Tây Đức để mở rộng hơn một chút cho bài học) như một điểm gốc để đưa ra những ý kiến
khác nhau xoay quanh quá trình marketing quốc tế. Không nên áp đặt phương pháp giải quyết vấn đề này
thành một định hướng chủ đạo cho mọi quốc gia. Đúng hơn, phương pháp giải quyết này chỉ là một sự kiện
xảy ra tất yếu, tại vì cuộc thảo luận sẽ sử dụng những quốc gia khác nhau như những điểm để tham khảo.
Bên cạnh đó sẽ là thích hợp hơn nếu chúng ta chọn Mỹ là điểm gốc tại vì những người sử dụng cuốn sách
này đầu tiên đều rất thân quen với thị trường nước Mỹ.
Không phải bàn cãi gì nữa khi ta nói rằng sự sống và cái chết là hai quy luật giống nhau trong tự
nhiên. Có vẻ như sẽ là sai nếu chúng ta cho rằng marketing nội địa và marketing quốc tế là hai quá trình
tương tự trong tự nhiên, nhưng không phải như vậy, có thể hiểu rằng quá trình marketing quốc không phải
là cái gì khác mà chính là quá trình marketing nội địa với mức độ rộng hơn. Những ý kiến sai lầm có thể là
nguyên nhân của việc đưa ra những quyết định chủ quan trong quá trình marketing kết hợp tại Mỹ khi
chuyển sang những thị trường khác, giống như biểu diễn tại sơ đồ 1-4. Marketing nội địa bao gồm một tập
hợp những
được bắt nguồn từ thị trường nội địa. Marketing quốc tế phức tạp hơn vì một nhà làm công tác thị
trường phải giải quyết các vấn đề khó khăn về hệ thống tiền tệ, tài chính, pháp luật và văn hoá khác nhau.
Ví dụ như: các công ty Mỹ làm việc ở Nam Phi phải đấu tranh với các tổ chức người da đen tại đó và cả với
sự phản đối trong chính nước Mỹ. Phức tạp hơn là luật của một số Thành phố và một số bang lại yêu cầu
công ty hoạt động ở Nam Phi cũng phải đóng những khoản tiền cho quỹ phúc lợi xã hội.
Hình 1.5 cho thấy cho thấy sự giao nhau của một số nhân tố môi trường, đó là sự chia sẻ những
điểm tương đồng giưã các quốc gia có liên quan. Mức độ giao dịch giữa Mỹ và Phương Tây lớn hơn giữa Mỹ
và các châu lục trong các quốc gia khác.
Chiến lược Marketing hỗn hợp được xác định bởi các nhân tố không thể kiểm soát được trong môi
trường kinh doanh của mỗi quốc gia cũng như sự tác động giữa các nhân tố ( xem hình 1.6). Để có được
kết quả tối ưu nhất, chiến lược Marketing hỗn hợp của một công ty phải được giảm nhẹ bớt để phù hợp với
một môi trường mới. Mức độ giao dịch giữa các yếu tố không thể kiểm soát được sẽ cho biết mức độ mà 4P
của chiến lược Marketing phải thay đổi – giao dịch càng lớn, càng phải giảm nhẹ bớt.
Khả năng ứng dụng của Marketing
Một câu hỏi khá thú vị được đặt ra là liệu các nước xã hội chủ nghĩa và các nước kém phát triển có
cần áp dụng các chiến lược Marketing (M) hay không. Cần nhấn mạnh rằng những nước này thì nhu cầu cơ
tới xuất khẩu nhưng sở thích của người dân Mỹ lại không phải là sở thích của tất cả mọi người. Chính suy
nghĩ sai lầm này đã làm cho rất nhiều công ty của Mỹ đã lựa chọn cách thức dễ dãi và thiếu sáng suốt đơn
giản hoá những chiến lược M nhằm mở rộng thị trường ra nước ngoài.
Người ta thường nhầm lẫm Mar mix và Mar truyền thống. Mar truyền thống nghe có vẻ như là phổ
biến và vì thế có thể áp dụng cho mọi quốc gia. Nhưng M truyền thống thực tế lại ngụ ý một M mix với cùng
một tiêu chuẩn cho tất cả thị trường. Ví dụ: định hướng (hướng dẫn) tiêu dùng thì không có nghĩa là nên áp
dụng lại cùng một chiến lược M trong những môi trường kinh doanh khác nhau.
Những đặc điểm của các tập đoàn đa quốc gia (MNCs)
Các tập đoàn đa quốc gia là những diễn viên chính trong các hoạt động kinh tế quốc tế. Như đã
trình bày ví dụ về tập đoàn Beatrice, các công ty con luôn mong muốn được có cùng khuynh hướng hoạt
động mang tính quốc tế hơn. Vì vậy, cần phải biết rõ một MNC là gì và nó đóng vai trò như thế nào trong
hoạt động kinh tế quốc tế.
Xung quanh MNC
s
vẫn còn rất nhiều ý kiến khác nhau và rất khó có thể lý giải cho đúng. Người ta
cho rằng MNCs có nhiều ảnh hưởng và có uy tín. Bên cạnh đó MNCs còn tạo ra lợi ích cho xã hội làm thuận
tiện hơn cho cán cân kinh tế. Ông Miller giải thích: “ các nguồn vốn tài nguyên, vốn lương thực và công
nghệ đã phân bổ một cáh không đồng đều trên khắp hành tinh và tất cả đều là những nguồn cung ngắn
hạn, vì thế cần nhất là có một công cụ hiệu lực để thúc đẩy hoạt động sản xuất và phân phối những hàng
hoá và dịch vụ một cách nhanh chóng, hiệu quả. Công cụ hiệu lực đó chỉ là MNC. Mặt khác đi cùng với MNC
là sự khai thác bóc lột tàn khốc. Các MNC bị nên án vì đã di chuyển các nguồn lực vào và ra khỏi một quốc
gia mà không quan tâm nhiều đến lợi ích xã hội. Bất chấp việc các MNC được nhìn nhận có tính tiêu cực hay
tích cực thì chúng vẫn tồn tại và điều quan trọng là hiểu được khi nào một công ty sẽ trở thành thành viên
của MNC.
Thuật ngữ MNC này nhấn mạnh đến sự to lớn. Mười tập đoàn đa quốc gia khổng lồ hàng đầu không có sự
hiện diện của Mỹ đánh gia dựa trên doanh thu đó là: Royal Dutch/ Shell, British Petroleum, Toyota, IRI, ENI,
Unilever, Pemex, Elf Aquitaive, Cie. Francaise desPetroles và Tokyo Electric Power. Người ta không thường
xuyên sử dụng tiêu trí doanh thu làm tiêu trí chính trong việc nhìn nhận liệu một công ty có làm đa quốc gia
hay không. Trên thực tế thì, theo ban kinh tế và xã hội của Liên Hợp Quốc thì với doanh thu 100 triệu $
không được xem là đa quốc gia. Dựa trên tiêu trí đó, tập đoàn Culligan sẽ không đủ tiêu chuẩn là một công
Nguồn lực con người hay là những người làm thuê ngoại quốc được xem bình thường như là một
phần của những đòi hỏi của một MNC về hoạt động hơn là xem nó như là một phần của đòi hởi về mạt cơ
cấu dù cho các nhà quản lý hàng đầu chắc hẳn muốn có những nhân công có khá năng hoạt động độc lập.
Người ta cũng xem tổng lượng công nhân thuê ở nước ngoài của một công ty như một tiêu trí đánh gía MNC
cơ cấu. Trong nhiều trường hợp, sự sẵn lòng sử dụng nhân công nước ngoài được xem như một tiêu trí
quan trọng để đánh giá đa quốc gia. Ví dụ như Avon đã mướn 370.000 phụ nữ Nhật Bản để bán các sản
phẩm của mình tới từng hộ trong nước Nhật. Siemens nổi tiếng toàn thế giới về khách hàng tiêu dùng sản
phẩm của mình và các sản phẩm công nghiệp có khoảng 300.000 nhân công trong 123 quốc gia trên thế
giới.
Định nghĩa MNC thông qua hành vi
Hành vi là một cài gì đó có phần ít chính xác để là thước đo cho tính chất đa quốc gia của một công
ty hơn qua cơ cấu và hoạt động mặc dù nó không kém phần quan trọng. Tiêu trí này liên quan đến đặc
điểm về hành vi của người quản lý đứng đầu. Bởi vậy, một công ty sẽ có thể mang tính đa quốc gia hơn khi
những nhà quản trị của nó suy nghĩ có tầm quoc tế hơn. Suy nghĩ này, được biết đến như tâm của quả đất
và phải phân biệt được giữa hai thái độ hay khuynh hướng khác, đó là khuynh hướng coi trọng tính dân tộc
(Ethuocentricty) và khuynh hướng coi trọng tính kỹ thuật (Polycentricity) .
“ Ethuocentricity” hướng mạnh vào thị trường trong nước. Thị trường và khách hàng nước ngoài
không được đánh giá cao và thậm trí còn bị coi là thiếu khả năng thưởng thức, thiếu tinh tế và có ít cơ hội.
Việc tập trung đưa ra quyết định vì thế là một sự cần thiết. Thường xuyên sử dụng những cơ sở trong nước
để sản xuất các sản phẩm tiêu chuẩn (có nghĩa là nhưng sản phẩm không cần có sự biến đổi đặc biệt nào)
xuất khẩu nhằm đạt được mục đích kinh doanh tưong xứng. “ Hội chứng xe to” của Detroit là một minh
chứng cho khuynh hướng “ Ethuocentricity” . Tại một thời điểm, tổng công ty Môtô (General motor – GM)
đãc coi xe cho những công ty con ở nước ngoài của mình sản xuất ra như sản phẩm nước ngoài. Gần đây
hơn tính chất quốc tế hoá đang thay chỗ cho tính dân tộc một cách õ ràng, điều này dễ thấy khi công ty này
đã tổ chức lại hoạt động quốc tế của mình và được người đứng đâù của công ty con ở nước ngoài của công
ty GM lên chức phó chủ tịch ( như quyền lợi của các bộ phận trong nước ).
“ Polycentricity” khuynh hướng đối ngược lại với “ Ethuocentricity” hướng mạnh vào thị trường nước
kinh doanh. Nó tập trung vào sự khác biệt giữa 2 thị trường được tạo ra bởi những biến đổi bên trong như
là thu nhập, văn hoá luật và các chính sách. Giả định rằng mỗi thị trường là duy nhất và vì thế mà khó cho
những người đứng ngoài có thể hiểu dược. Bởi vậy nên tuyển những nhà quản trị doanh nghiệp và cho
một thế kỷ rưỡi qua, Jardine đã thay đổi lãnh thổ về mặt pháp lý sang vùng Bermuda trước khi Hồng Kông
được trả lại cho Trung Quốc vào năm 1997. Sự thay đổi như vậy đã đem lại cho Jardine những lợi ích cả về
thuế lẫn an ninh. Công ty này đã có được những ưu đãi thuế do sau đó Hồng Kông đã tăng thuế thu nhập
công ty từ 17% lên 18,5%. Còn về mặt an ninh, những lợi ích kinh doanh của công ty ở ngoài lãnh thổ
Hồng Kông (chiếm đến 28% tổng thu nhập của công ty) đã được bảo vệ không bị ảnh hưởng bất lợi do thay
đổi trong môi trường kinh doanh vì giờ đây, bất kỳ sự kiện tụng nào cũng được xem xét theo luật Bermuda
chứ không phải luật Hồng Kông.
Các công ty Thuỵ Điển nhìn chung đã tiếp nhận khuynh hướng quốc tế này. Là một nước nhỏ, Thuỵ
Điển có một số ít các nhà cung cấp nội địa, và sự hạn chế này đã khiến cho việc sử dụng các nhà cung cấp
nước ngoài trở nên cần thiết. Và một điều rất tự nhiên là các công ty Thuỵ Điển có “tinh thần dân tộc” rất
thấp và thường có thái độ ưu ái đổi với các nhà cung cấp ngoài châu Âu hơn hơn các công ty ở một số nước
châu Âu lớn.
Những lợi ích của Marketing quốc tế
Trong một báo cáo kinh tế gửi lên quốc hội năm 1985, Tổng thống Mỹ Reagan đã đưa ra nhận xét:
“Những lợi ích của tự do thương mại thật rõ ràng: nó tạo ra nhiều việc làm hơn, khiến cho việc sử dụng các
nguồn lực quốc gia hiệu quả hơn, tạo ra sự đổi mới nhanh hơn, mức sống được nâng cao ở cả quốc gia này
và các quốc gia tự do thương mại với nó.” Marketing quốc tế ảnh hưởng hàng ngày đến người tiêu dùng Mỹ
theo nhiều cách, mặc dù tầm quan trọng của nó thì vẫn chưa được hiểu thấu đáo hoặc không được nhìn nh
ận. Các quan chức chính phủ và những quan sát viên khác thường hay nói đến những khía
cạnh tiêu cực của kinh doanh quốc tế. Mặc dù, rất nhiều trong số những khía cạnh đó là hoàn toàn tưởng
tượng chứ không có thật. Những lợi ích của marketing quốc tế cần được bàn luận công khai nhằm loại bỏ
những quan niệm sai lầm này.
Để tồn tại
Vì phần lớn các quốc gia không được may mắn như nước Mỹ về quy mô thị trường, nguồn lực và
các cơ hội, họ phải tiến hành thương mại với các nước khác để tồn tại. Hồng Kông là lãnh thổ hiểu rất rõ
vấn đề này. Không có lương thực và nước từ Trung Quốc, thuộc địa này của Anh sẽ không thể tồn tại lâu
dài. Một số quốc gia ở châu Âu cũng vậy bởi phần lớn các quốc gia châu Âu có quy mô tương đối nhỏ.
Không có thị trường nước ngoài, các công ty châu Âu không thể có được tính kinh tế nhờ quy mô để có thể
cạnh tranh với các công ty Mỹ. Trong một quảng cáo của mình, Nestlé đã đề cập tới quốc gia Thuỵ Sỹ của
mình như một nơi thiếu nguồn lực tự nhiên và do đó công ty đã buộc phải dựa vào thương mại và đi theo
hơn nữa là tập đoàn ITT mà các hoạt động ở nước ngoàI chỉ chiếm 37% tổng doanh thu nhưng lại tạo ra
67% lợi nhuận. Những công ty Mỹ với những khoản lợi nhuận khổng lồ thu được từ thị trường nước ngoàI
là Exxon, Occidential, IBM, Phillip, Bchlumberger , Mobil, Texaco, Chevron, Allied, và Amoco.
Đa dạng hóa.
Nhu cầu đối với hầu hết các sản phẩm đều chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố mang tính chu kỳ như
chu kỳ kinh tế và các nhân tố theo mùa như thời tiết. Và kết quả không mong muốn của sự biến đổi này là
sự biến động về doanh thu, cáI mà tiếp đó có thể biển động đủ mạnh để gây ra việc xa thảI người lao
động. Một cách để phân tán rủi ro là lựa chọn những thị trường ở nước ngoàI như một giảI pháp cho vấn
đề nhu cầu đa dạng. Những thị trường này thậm chí những biến động bởi tạo ra các thị trường tiêu thụ cho
sản phẩm cho doanh nghiệp có công xuất sẩn xuất dư thừa. Ví dụ , thời tiết lạnh có thể làm giảm sức tiêu
thụ của nước ngọt. Nhưng không phảI tất cả các nước đều bước vào mùa đông đồng thời cùng một lúc và
một vàI nước vẫn có thời tiết khá ấm áp quanh năm. Một tình huống tương tự cũng xảy ra đối với chu kỳ
kinh doanh: Chu kỳ kinh doanh tại Châu Âu thường muộn hơn chu kỳ kinh doanh tại Mỹ. Việc bán hàng tại
thị trường nội địa và tại thị trường nước ngoàI trong sự khác biệt về thời gian xảy ra chu kỳ kinh tế vẫn
cólợi cho các công ty chẳng hạn như Culligan. Mặc dù, Culligan phảI đối đầu với mức suy giảm về doanh
thu tại thị trường nội địa trong những năm 1970 và 1971, nhưng tổng doanh thu của công ty vẫn không
mấy thay đổi bởi có sự tăng lên trong doanh thu ở nước ngoàI. Nói cách khác, doanh thu ở nước ngoàI sụt
giảm lại được vực dậy bởi doanh thu trong nước đang tăng mạnh.
Lạm phát và giá cả của hiện đại hóa.
Lợi nhuận của việc xuất khẩu rõ ràng là đầy sức thuyết phục. Nhưng nhập khẩu cũng đem lại lợi
nhuận cao cho thị trường Mỹ, bởi vì chúng góp phần dụ trữ năng lực sản xuất cho nền kinh tế Mỹ. Nếu
không có nhập khẩu ( hoặc có một vàI hạn chế trong nhập khẩu ) thì sẽ không mang lại động lực cho các
doanh nghiệp nội địa trong việc ổn định giá cả hàng hóa của họ.Việc thiếu cơ hội lựa chọn sản phẩm nhập
khẩu buộc những người tiêu dùng phảI trả tiền nhiều hơn, gây ra lạm phát và đẩy nhanh lợi nhuận của các
công ty trong nước lên quá cao. Sự biến động này thường đóng vai trò khởi đầu cho yêu cầu của công
nhân về mức lương cao hơn; đẩy mạnh hơn nữa nạn lạm phát . Những hạn nghạch nhập khẩu được đưa ra
đối với loại ôtô của Nhật đã giữ được 46200 việc làm trong ngành công nghiệp của Mỹ nhưng với một chi
phí lên đến 160000$ cho một việc làm một năm. Chi phí quá lớn này đã gây ra việc tăng thêm (vào năm
1983) 400$ vào giá mỗi ôtô của Mỹ và 1000$ vào giá mỗi hàng nhập khẩu từ Nhật . Khoản lợi này thuộc
về Detroit tạo nên một mức lợi nhuận cao kỷ lục đối với các nhà sản xuất ôtô của Mỹ. Những khoản lợi ngắn
(200000 việc làm).
Lợi ích về việc làm đã đước khẳng định trong các khóa họp phân tích các số liệu này của các cơ
quan chính phủ của Mỹ với mô hình hàng hóa ra- vào của nền kinh tế Mỹ. Xuất khẩu 10 tỷ đôla tạo ra
khoảng 193000 việc làm mới và 82600 việc cho người lao động. Nhập khẩu một lượng tương tự lại làm mất
đi179000 việc làm với 100600 việc của những người đang làm việc. Hơn một nửa số việc làm mới do kết
quả của việc tăng xuất khẩu là các công việc của nhân viên cổ trắng với doanh thu và vị trí marketing thu
được ở mức cao nhất.
Mức sống.
Thương mại cho phép các nước và người dân của họ được hưởng mức sống cao hơn mà tự họ có
thể có. Nừu không có thương mại thì sự khan hiếm hàng hóa buộc họ phảI trả nhiều hơn cho một lượng
hàng hóa ít hơn. Việc tìm kiếm các hàng hóa như chuối có thể không thể có được. Cuộc sống tại Mỹ sẽ trở
lên rất khó khăn nếu không có nhiều loại kim loại mang tính chiến lược đối với nền kinh tế, những loại này
phảI nhập vào. Thương mại cũng khiến cho các ngành dễ dàng tiến hành việc chuyên môn hóa và thu được
lợi trong việc sử dụng nghuyên liệu thô, trong khi cùng lúc đó lại tăng được hiệu quả sản xuất. Một sự lan
truyền quá trình đổi mới qua biến giới quốc gia là rất hữu ích thông qua sản phẩm của thương mại quốc
tế. Thiếu thương mại quốc tế sẽ cản trở luồng sóng đổi mới truyền đI trên thế giới.
Hiểu biết về quy trình Marketing.
Marketing quốc tế không nên được hiểu là một trường hợp phụ hay đặc biệt của Marketing nội địa.
Thực tế thì điều ngược lại mới đúng. Theo như điều giảI thích của Cox thì “ điều này nghe có vẻ nghịch lý
nhưng nó đúng là thế. CáI mà mỗi chúng ta dựa vào chủ yếu là từ những so sánh của hệ thống Marketing
nội địa chứ không phảI cáI mà họ nói với chúng ta về những thứ khác, mà là họ buộc chúng ta tìm hiểu về
chính chúng ta để hiểu cáI chúng ta sẽ quan sát thấy ở nước ngoài.” Thorelli và Becker có cùng ý kiến
“Bằng việc tìm hiểu Marketing trong những nền văn hóa khác nhau nhà nghiên cứu (hoặc sinh viên) thu
được những sự hiểu biết sâu sắc hơn về Marketing theo cách của riêng họ”. Việc học Marketing quốc tế do
đó thực sự có giá trị trong việc đưa ra những hiểu biết thấu suốt về mô hình hành vi thường nhận thấy ở
trong nước.
Phần lớn các nhà xuất khẩu thờ ơ của thế giới.
Mỹ vừa là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới ( cho tới khi bị thay chỗ một cách tạm thời cho Tây Đức
vào năm 1980) và đồng thời cũng là nước thiếu chú ý tới việc xuất khẩu nhất trên thế giới. Trong nhiều
năm, Mỹ thống trị thương mại thế giới nhờ lợi dụng hoàn cảnh nghèo túng của những nước khác do chiến
Không phảI tất cả các công ty Mỹ đều phảI có trách nhiệm về sự suy giảm sức cạnh tranh của Mỹ
trong thương mại quốc tế. Bẩy công ty của Mỹ đã hoạt động khá thành công tại nước ngoàI và còn tiếp tục
thành công nữa. Thậm chí tại cả thị trường rất khó tính là thị trường Nhật Bản, các tập đoàn Mc Donald’s;
Coca-Cola và Kentncky Fried Chicken, cùng với các công ty của Mỹ khác đã thu được những thành công
đáng kể. Vấn đề là ở chỗ một lượng lớn các công ty Mỹ không thể biến sức mạnh ở trong nước của mình
thành sức mạnh tại thị trường nước ngoài.
Không có gì đáng phảI ngạc nhiên là không một ai muốn thừa nhận rằng đIũu đó là do các hoạt
động nghèo nàn của các công ty Mỹ. Các nhà quản lý thì đổ lỗi cho người lao động và chính phủ; người lao
động thì đổ lỗi cho chính phủ và nhà quản lý, và cứ thế . Thực tế thì những đIũu ấy là chưa đủ cho mọi
người gồm cả nhà quản lý, nhà khoa học, người lao động và chính phủ.
Nhà quản lý: Theo một nghiên cứu do phòng thương mại của Mỹ tiến hành, 92% các công ty Mỹ
chỉ hoạt động trong thị trường nội địa , gần 250000 nhà sản xuất Mỹ nhưng chỉ có 10% trong số họ là xuất
khẩu với chưa đến 1% tron số các công ty này đã xuất 80% sản phẩm xuất khẩu của Mỹ. Những sự phát
hiện này dường như khẳng định thêm quan đIểm rằng việc kinh doanh ở Mỹ không có định hướng quỗc tế.
Tại sao rất nhiều hãng đã thất bại trong việc mở rộng thị trường thông qua xuất khẩu và cáI gì đã
cản trở họ? Những lời bào chữa là:(1) thị trường nước ngoàI quá nhỏ, (2) thị trường nước ngoàI qua xa,(3)
lợi nhuận xuất khẩu qua nhỏ, (4) việc xuất khẩu quá khó khăn, (5) những hàng hóa này đều bán được rất
tốt tại thị trường nội địa. Những lời bào chữa này không còn giá trị khi một ai đó cân nhắc về trường hợp
của Nhật Bản và Tây Đức đã đạt hiệu quả rất cao trong thương mại quốc tế.
Mỹ là nền kinh tế lớn nhất thế giới, thị trường lớn nhất, là nhà nhập khẩu lớn nhất dẫn đầu thế giới
và cùng với Tây Đức và Nhật Bản đứng đầu thế giới về xuất khẩu.
Xuất khẩu hàng hoá
• Kim ngạch buôn bán hai chiều của Mỹ lên đến tổng số 677 tỷ đôla vào năm 1987,với xuất khẩu đạt
252 tỷ đô la và nhập khẩu là 424 tỷ đô la và mức thâm hụt cán cân thương mại là 171 tỷ đô la.
• Mỹ xuất khẩu 5.4% sản phẩm quốc nội vào năm 1987- sau mức đỉnh đIểm là 8,1% vào năm 1980
và giảm 5,1% vào năm 1986. Vào năm 1986, Tây Đức xuất khẩu được 25,9%; Canada 25,1%; Mỹ
19,3% và Nhật Bản là 10,5%.
• Hàng xuất khẩu chiếm khoảng 14% tỷ trọng hàng công nghiệp của Mỹ.
• Tổng lượng hàng xuất khẩu gồm có 79% là hàng công nghiệp ; 12% là hàng nông sản và 9% là
khoáng sản và nguyên nhiên vật liệu.
quản lý và các môn học khác đều mang tính toàn cầu.
Hơn nữa, bằng chứng về sự thờ ơ của thế giới về đào tạo đại học là chỉ có ít sách giáo khoa và báo
chí có liên quan đến những vấn đề cơ bản trong thương mại quốc tế. Hơn nữa, về bản chất, phần lớn việc
giành được học bổng mang tính tượng trưng nhiều hơn là mang tính lý thuyết hay tính kinh nghiệm chủ
nghĩa. Những học bổng giành được mang tính tượng trưng này, trong khi rất hữu ích, thì chỉ là chuyện vặt
dựa chủ yếu vào lời nhận xét ngẫu nhiên và mang tính cá nhân hơn là dựa vào những cuộc đIũu tra chính
xác. Cũng tương tự các môn học mang tính tượng trưng cũng trở lên thực sự quá nhanh chóng. CáI m thực
sự đang thiếu là các lý thuyết có thể cung cấp một nền tảng phân tích cơ bản để có thể hiểu được và dự
đoán được những rắc rối có liên quan. Các trường cao đẳng kinh doanh của hệ thống các trường cao đẳng
của Mỹ (AACSB) đã đang khuyến khích các trường về kinh doanh đưa kinh doanh quốc tế vào chương trình
giảng dạy. Các trường đại học có thể áp dụng hoặc không áp dụng những lời gợi ý này .
Lao động: Lao động có tổ chức đã tạo nên một sự đóng góp đầy ý nghĩa trong việc bảo vệ lợi ích
của người lao động. Nhưng trong nhiều trường hợp các nguyên tắc lao động và việc phân chia công việc lại
được củng cố nhờ việc người lao động có khuynh hướng hạn chế năng suất lao động. Việc quản lý đã đựơc
đưa vào đối với các tổ chức nghiệp đoàn dựa vào giả thiết là nền kinh tế Mỹ đủ mạnh để trang trảI các
khoản chi phí cho những nguyên tắclao động thực sự không hiệu quả. Một giả thiết khác là các công ty khác
trong đó có các công ty cùng ngành sẽ chấp nhận những nguyên tắc tốn kém này. Nhưng hiện nay, người
tiêu dùng đang có những sản phẩm tiêu dùng của nước ngoàI rẻ hơn để lựa chọn. Bảng 1-10 là một ví dụ
đIún hình về quan đIểm của người lao động có tổ chức cáI mà vừa đáng khen lại vừa đáng chê. Theo như
những bằng chứng hiện có thì trong bất kỳ trường hợp nào nhập khẩu và đầu tư đều là đIũu tồi tệ không
cần thiết cho vấn đề việc làm của Mỹ .
Công chúng: Công chúng Mỹ đã góp phần một cách mù quáng vào thâm hụt thương mại của Mỹ. Theo
như điều tra của tạp chí Wall Street Journal vào năm 1985 và “NBC news” đã đưa ra được một vàI bằng
chứng. Trong số những người Mỹ được hỏi có 51% đều ủng hộ các biện pháp hạn chế nhập khẩu với mục
đích là bảo vệ các ngành sản xuất trong nước . Lối suy nghĩ này được ủng hộ bởi rất nhiều các tổ chức gồm
các quan chức chính phủ và các chính trị gia. Họ đã sai lầm trong việc đánh giá chi phí khổng lồ gắn liền với
các biện pháp hạn chế thương mại. Một cách đầy nực cười là bởi lẽ những trả giá cho mô hình này, những
người chịu ảnh hưởng xấu là những người có thu nhập trung bình hoặc thấp. Những hạn chế thương mại về
quần áo , đường , ôtô do đánh một mức thuế thu nhập 23% là quá nặng đối với một gia đình gồm toàn
những người có thu nhập dưới 10000 USD nhưng lại chỉ đánh mức thuế 10% đối với một gia đình có thu
Anh là một sự so sánh có lợi khác.Đã từng là một quốc gia thịnh vượng và có công nghệ kĩ thuật tiên
tiến, Anh đã vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế khủng khiếp.Đã có lần nước Anh phải đối mặt với những
vấn đề tương tự như những vấn đề mà Mỹ đang phải đối mặt hiện nay.Những nhà quản lí và công nhân
không tin tưởng nhau và thường phàn nàn với chính phủ các khó khăn.
Sự khác nhau cơ bản giữa hai nước này là hệ thống lập kế hoạch kinh tế quốc gia củ Anh, cái đã
chứng minh sự kém hiệu quả của việc thiếu vắng sự hợp tác giữa người lao động và người quản lí.Ngược lại,
Mỹ nhìn chung thường cho phép các nhóm tự ra quyết định.Tuy nhiên, dẫn đến sự thiếu đoàn kết.
Mỹ có một sự lựa chọn.Mỹ có thể đi theo con đường của Anh hoặc đi theo sự chỉ dẫn của Đức và
Nhật.Có thể xã hội Mỹ quá thông thoáng nên sự can thiệp của chính phủ đối với sự bành trướng của Nhật
và Đức là không thể hoặc không thoả mãn. Do đó, rõ ràng là sự hợp tác và sự cam kết từ các bên là rất
cần thiết. Chính phủ Mỹ có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng cường sự nhất trí rộng rãi giữa
các đại diện của chính phủ, các nhà kinh doanh, các học giả chuyên nghiệp, người tiêu dùng và người lao
động trong việc lập chính sách.Có một vài dự luật trong quốc hội đề nghị sáng lập một hội đồng độc lập
quốc gia về hợp tác để cung cấp một diễn đàn cho những người đại diện của người lao động, nhà kinh
doanh và chính phủ để nhận biết các vấn đề kinh tế quốc gia và phát triển các chiến lược các chính sách để
giải quyết nhữnh vấn đề này.
Tất cả các bên cần phải xem xét lại vai trò của mình trong thương mại.Các nhà quản lí nên đặt ra
câu hỏi làm thế nào để có thể theo đuổi lợi nhuận mà công nhân không bị xa lánh quá mức.Lao động có tổ
chưc cần phải chú ý rằng lương, lợi nhuận và bảo hiểm nghề nghiệp không thể tăng nếu không có sự tăng
năng suất lao động nếu việc giảm nhân công có thể được hạn chế trong những thời kì nền kinh tế khó
khăn.Các tổ chức chuyên nghành cần phải đảm bảo ngân quỹ cho việc nghiên cứu quốc tế. Hệ thống lí
thuyết cũng có một vai trò trong việc giới thiệu cho người tiêu dùng biết về những chi phí to lớn của chủ
nghĩa bảo vệ thương mại để họ có thể hiểu rõ hơn về việc áp dụng hàng loạt các biện pháp bảo hộ(hoặc
không áp dụng) mà các nhà sản suất, các nhà chính trị và các nhà lãnh đạo nhân công Mỹ đề xuất.Chính
phủ Mỹ cần một chính sách thương mại rõ ràng và nhất quá.Hiện tại các chính sách của Mỹ là không rõ ràng
và không thể dự đoán được, những nỗ lực nửa vời của Mỹ trong việc xúc tiến thương mại đã đem lại một
kết quả không mong muốn.Cuối cùng tất cả các đảng phái cần phải hiểu rằng lợi ích của họ cần phải gắn
liền với nhau và phải coi các đảng phái khác là đối tác hơn là kẻ thù.
Cùng với lòng tự hào, sự cam kết, sự quyết tâm và sự hy sinh, các công ty phải trung thành với khái
niệm Marketing-không phải chỉ ở trong nước mà ở cả nước ngoài.Theo một cách nào đó, các công ty Cooper
với từng loại thị trường.Càn phải hiểu rõ về khách hàng nước ngoài.Do đó, thật kì lạ khi các doanh nghiệp
Mỹ chỉ hướng vào thị trường trong nước nhưng lại hướng quản lí ra nước ngoài.Những nguyên tắc Marketing
có thể được kết hợp nhưng sự kết hợp Marketing thì lại không.Việc thực hiện Marketing có thể hoặc không
thể được đánh giá cao ở nơi khác và các mức độ được đánh giá cao không thể có nếu không có sự điều tra
kĩ càng và sự nghiên cứu thị trường.
Một chính sách thương mại hợp lí cho Mỹ.
Hai tuần vừa qua chúng ta đã cảnh báo về nhưng mối nguy hiểm mà một chính sách bảo hộ thương
mại sẽ áp đặt đối với nền kinh tế Mỹ và trích dẫn những mối quan tâm cụ thể của chúng ta với dự luật
HR4800, một dự luật mà thượng nghị viện đã thông qua sẽ công kích luật thương mại của các quốc gia
hướng về chủ nghiã bảo hộ.
Nếu nghị viện quyết định rằng Mỹ cũng phải hành động trong năm nay.Chúng tôi cũng phải đề xuất
rằng Mỹ lần đầu tiên đặt ra một số mục tiêu ở nước ngoài thì một dự luật thương mại như vậy sẽ thành
công.Theo quan điểm của chúng tôi, một dự luật như vậy sẽ:
• cung cấp cho chính quyền-cũng như các chính quyền trong tương lai một nền tảng vững chắc về những
tiến bộ trong đàm phán các hiệp định thương mại quốc tế.Mỹ có truyền thống thành công trong các
cuộc đàm phán thương mại, trước khi các cuộc đàm phán bắt đầu không có vị tổng thống Mỹ nào tỏ ra
thân thiện.
• Củng cố tầm quan trọng của việc dành cho nhau những ưu đãi.Thương mại luôn luôn là một tiến trình
đa phương và trong dài hạn một thoả thuận thương mại thành công không thể do một bên đơn phương
áp đặt.
• Mở rộng khả năng tiếp cận thị trường nước ngoài cho hàng hoá dịch vụ và đầu tư Mỹ.Cũng tại đây sự
đàm phán có tác dụng hơn là sự ép buộc:khả năng tiếp cận không thể dành được bởi sự ép buộc đơn
phương của Washington D.C.
• Đảm bảo cho các quan chức thương mại Mỹ một sự linh hoạt để giải quyết một cách hiệu quả toàn bộ
phạm vi của các hệ thống kinh tế nước ngoài và các nền văn hoá.Mọi người ở khắp nơi đều không giống
như chúng ta, nếu chúng ta muốn bán hàng hoá cho họ và mua hàng hoá từ họ thì chúng ta phải nhận
ra sự khác biẹet và thoả mãn họ.
• Báo hiệu cho các đối tác thương mại của chúng ta rằng Mỹ coi thương mại quốc tế như một phương tiện
thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của toàn thế giới.Chính sách thương mại Mỹ không được nhìn nhận như
một cách để dành phần lợi ích lớn hơn cho Mỹ.
thịnh vượng tương đối mà họ đạt được là kết quả của việc nghĩ tới ARIZONA đối với họ điều đó có nghĩa là
một sự tìm kiếm không ngừng các cơ hội kinh doanh ở trong bang.
Vào cuối những năm 50 một thành viên của thế hệ này nổi lên như một kiểu tiên phong mới- 1
người trong nhóm các nhà khoa học và các doanh nhân người đã hy vọng phát triển sự ứng dụng thưc tế
đầu tiên của nănglượng mặt trời trên phạm vi mà Mỹ có thể đáp ứng. Vào đàu những năm 60, ông đã tiên
phong trong việc sử dụng năng lượng mặt trời tại các văn phòng và nhà ở, cùng với các thành viên khác của
công ty ông đã đưa ARIZONA trở thành một công ty thành công đáng ngạc nhiên.Cuối cùng mang tên là
ARIZONA SUNRAY.Sau một vài thử nghiệm công ty đã chọn khẩu hiệu “đi theo hướng mặt trời :đó là con
đường của ARIZONA’’.Với lí do để có được những công việc kinh doanh mới là đi theo hướng mặt trời công
ty đã mở rộng ra mọi vùng của bang sau đó tới NEVADA và NEW MEXICO.
Thế hệ tiếp theo đã nắm quyền kiểm soát việc kinh doanh vào năm 1965.Kết quả là đưa ra một quyết
định để thay thế địa bàn kinh doanh từ khu vực ít dân của các bang phía đong nam chuyển sang các trung
tâm đô thị đông dân hơn ở phía tây của bờ biển CALIFORNIA.Khu vực Los Angeles/orange county được
đánh giá là khu vực mở rộng đầy tiềm năng với dân cư có mức sống cao có thể mang lại lợi ích đáng kể
trong việc sử dụng năng lượng mặt trời trong gia đình họ.Một vài khía cạnh của chương trình Marketing đã
được định hướng lại để thu hút trực tiếp hơn các khách hàng vùng biển California:bao gồm việc thay đổi
khẩu hiệu của các nhà máy trở thành “ bắt kịp ánh sáng.Đó là con đường của California’’ khẩu hiệu này đã
chứng tỏ sự thành công và các công ty tiếp tục được mở rộng.
Vào khoảng 1986, các thành viên của thế hệ tiếp theo đã bắt đầu đạt được những ảnh hưởng và
quyền lực tích cực trong công ty.Tuy nhiên những ảnh hưởng của họ cho phép họ hiểu biết thêm cả về lĩnh
vực du lịch và giáo dục ở nước ngoài.Kết quả là họ có ý định mở rộng hơn nữa khẩu hiệu “đuổi theo mặt
trời’’ ở những phạm vi mà thế hệ trước chưa từng mơ ước đến.Họ đã tranh luận rằng ARIZONA SUNRAY nên
mở rộng lĩnh vực hoạt động ra toàn bộ Pacific Rim, đang nắm giữ những lợi thế đáng kể của công nghệ kĩ
thuật mới trong thế giới vi mô để đáp ứng đưọc hàng loạt các yêu cầu về năng lượng mặt trời-từ máy tính
sử dụng năng lượng mặt trời đến nồi cơm điện sử dụng năng lượng mặt trời-cho phép ARIZONA lấy lại ttên
là Pacific Sunray.Để nắm giữ lợi thế tối đa của cả những cơ hội hiện nay và những kế hoạch dài hạn cho
việc mở rộng này.
Các thành viên còn lại của thếhệ thành lập công ty đã phản dối kịch liệt ý định này, từ chối xem xét
các ý tưởng cấp tiến. “Tại sao lại phiền toái như vậy” chủ tịch đầu tiên của công ty đã đặt ra câu hỏi “chúng
ta đang kiểm soát thị trường Mỹ,chúng ta biết sản phẩm của mình,biết khách hàng, biết những người miền
việc sản xuất các sản phẩm chủ yếu sang các sản phẩm tinh vi , phức tạp hơn , có hàm lượng kĩ thuật cao
hơn hay thời trang hơn. Giá trị thặng dư cộng thêm vào cũng với những sản phẩm như vậy sẽ cho phép
Nhật Bản luôn đứng ở vị trí đầu bảng ở các nước như Singapore, Hongkong, Đailoan và Hàn Quốc.
(*): “ Tính đa quốc gia của Nhật Bản” – Tạp chí “ Business Week” 16/6/1980.
Trường hợp Nhật Bản cho thấy rõ sự cần thiết của thương mại , Nhật Bản phải nhập khẩu để tồn tại
và nó cũng phải nhập khẩu để tạo ra ngoại tệ đáp ứng nhu cầu nhập khẩu của nó . Nhu cầu nhập khẩu và
xuất khẩu là tất nhiên , nhưng không rõ ràng rằng cần thiết các nước khác cũng phải như vậy. Ví dụ như
cần phải có một sự giải thích logic đối với một nước có đầy đủ về điều kiện tự nhiên như Mỹ lại vẫn thực
hiện buôn bán với các nước khác.
Chương này có nhiệm vụ giải thích các nguyên nhân , cơ sở của buôn bán quốc tế và các nguyên
tắc về lợi thế so sánh tuyệt đối và lợi thế so sánh tương đối . Những nguyên tắc này cho biết các quốc gia
có thể thu được những gì và thu bằng cách nào từ các quốc gia khác . Tính vững chắc của nguyên tắc này
đã được xem xét cũng như những nội dung chính của các nguyên tắc này . Chương này kết thúc với việc đề
cập đến vấn đề hội nhập khu vực và những ảnh hưởng của nó đối vơí thương mại thế giới .
Nền tảng của thương mại thế giới
Khi mà người mua và người bán đến với nhau , họ hy vọng sẽ đạt một cái gì đó từ phía người kia .
Khi các quốc gia buôn bán với nhau thì họ cũng hy vọng như thế . Một quốc gia rõ ràng là không thể hoàn
toàn tự có đầy đủ những thứ cần thiết mà không làm lãng phí chi phí quá mức .
Bởi vậy thương mại là một hoạt động cần thiết mặc dù trong một số trường hợp , thương mại không
hoàn toàn tạo ra lợi ích cho các quốc gia có liên quan . Rõ ràng là tất cả các quốc gia đều cảm thấy áp lực
chính trị khi họ bị thâm hụt thương mại . Nếu thâm hụt quá lớn thì sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến nền
thưong mại mặc dù có thể không biết là những tác hại này có thể nhìn thấy hay không nhìn thấy . Ngược lại
những lợi nhuận thương mại hoặc là không thấy rõ hoặc là chúng được chuyển sang cho những người công
nhân hay những người tiêu dùng.
Tại sao các quốc gia lại buôn bán với nhau ? Một quốc gia làm ăn buôn bán với các quốc gia khác vì
nó hy vọng đạt được cái gì đó từ phía đôí tác làm ăn . Có thể có câu hỏi liệu thương mại có giống như một
trò chơi “được ăn cả ngã về không” với nhận thức rằng một nước phải thua lỗ thì nước khác mới có lợi
nhuận . Câu trả lời là không phải như vậy vì mặc dù một quốc gia có thể không ngần ngại kiếm lợi nhuận từ
sự thua lỗ của nước khác , nhưng không ai lại muốn tham gia vào một thương vụ mà có rủi ro về thua lỗ
Về mặt lý thuyết ,một ngành công nghiệp độc lập ( ví dụ : sản xuất máy tính ) có thể thu được
doanh số giảm đi khi nó mở rộng với chi phí sang các ngành công nghiệp khác (ví dụ ; sản xuất ôtô ) . Hơn
nữa chi phí cơ hội ngày càng tăng lên vì có thể là mỗi loại hàng hoá thì sử dụng đầu vào sản xuất ở những
tỷ lệ khác nhau . Thậm chí nhiều ngành phải chịu chi phí cận biên ngày càng tăng kết quả là số lượng ngày
càng nhiều các hàng hoá khác phải bị bỏ đi để sản xuất ra những đơn vị tiếp theo của một hàng hoá nào đó
. Điều này có thể giải thích tại sao không quốc gia nào hoàn toàn chuyên môn hoá sản xuât chỉ một loại sản
phẩm duy nhất .
Hình 2-2 biểu diễn hình giới hạn khả năng sản xuất khi chi phí cơ hội tăng dần , đường cong cho
thấy ngày càng trở nên tốn kém hơn khi thay thế sản xuất một sản phẩm này thay cho một sản phẩm
khác . Phần lợi nhuận ngày càng giảm khi số lượng của một sản phẩm giảm đi để tăng số lượng của sản
phẩm khác . Hình 2-3 biểu diễn trường hợp ngược lại , chi phí cơ hội giảm dần . Cùng với việc chuyển sản
xuất từ một sản phẩm khác sang các sản phẩm khác việc sản xuất ra một sản phẩm thay thế trở nên rẻ hơn
khi tăng số lượng sản phẩm thay thế .
Một khả năng khác là chi phí cơ hội sẽ thay đổi khác nhau theo số lượng sản phẩm ; có nghĩa là đối
với hai sản phẩm bất kỳ đưa ra , chi phí cơ hội có thể tăng hoặc giảm khi mức sản xuất kế tiếp đạt được . Ví
dụ chi phí cận biên ban đầu có thể giảm do chuyên môn hoá và sản xuất ở quymô lớn . Nhưng đến một
điểm nhất định , việc sản xuất tiếp tục sẽ có thể gây nên tình trạng không hiệu quả và chi phí cận biên sẽ lại
bắt đầu tăng lên .
Vì môĩ quốc gia có một nguồn tài nguyên duy nhất nên chúng sở hữu một nguồn giới hạn khả năng
sản xuất duy nhất . Khi phân tích đường cong này sẽ đem lại một lời giải thích lôgíc bản chất của thương
mại quốc tế . Bất kể chi phí cơ hội là cố định hay biến đổi , một quốc gia phải quyết định sự kết hợp lý giữa
hai loại sản phẩm bất kỳ và phải quyết định liệu quốc gia đó có muốn chuyên môn hoá một trong hai sản
phẩm không . Sự chuyên môn hoá sẽ có thể xảy ra nếu nó không cho phép quốc gia đó tăng lượng của cải
qua việc trao đổi buôn bán với các quốc gia khác . Nguyên tắc lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh tương đối
có thể giải thích làm thế nào đường giới hạn khả năng sản xuất lại có thể giúp cho một nước quyết định nên
xuất nhập khẩu những gì .
Số
Máy
Vi
tính