Khóa luận tốt nghiệp
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Hội nhập và toàn cầu hóa, kết hợp với tốc độ phát triển nhanh chóng của khoa học
- công nghệ đã làm cho nền kinh tế của các quốc gia luôn có sự điều chỉnh và biến đổi
mạnh mẽ. Hàng hóa được sản xuất ra ngày càng nhiều, phong phú và đa dạng hơn nhằm
đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, phức tạp và biến đổi không ngừng của xã hội. Cạnh
tranh là hiện tượng tất yếu trong nền kinh tế thị trường và càng trở nên khốc liệt theo
thời gian. Thị trường chính là nơi khẳng định vị thế, uy tín, sự tồn tại của các doanh
nghiệp. Trong sân chơi đông đúc và cân bằng như thế, kẻ mạnh sẽ là người chiến thắng.
Cơ hội sẽ được chia đồng đều cho tất cả các doanh nghiệp. Vậy làm thế nào để có ưu
thế cạnh tranh hơn đối thủ cạnh tranh và cạnh tranh được với các đối thủ khi họ có lợi
thế cạnh tranh dài hạn mà mình không có? Không chỉ với các doanh nghiệp Việt Nam
mà cả đối với các Công ty lớn trên thế giới trong suốt quá trình đặt tình huống và tìm
giải pháp, có một câu hỏi luôn đặt ra là: làm sao doanh nghiệp có thể giải quyết được
mâu thuẫn giữa một bên là khả năng có hạn của mình và đòi hỏi vô hạn của thị trường
không chỉ bây giờ mà cả cho tương lai. Giải quyết được mâu thuẫn ấy là mục tiêu của
hoạch định chiến lược kinh doanh. Trong chiến lược chung của toàn doanh nghiệp,
chiến lược marketing mix có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng, nó là chiến lược chức
năng, nền tảng và xây dựng cho các chiến lược khác trong doanh nghiệp như chiến lược
sản xuất, chiến lược tài chính…. Về vấn đề này, theo nhà quản trị việc hoạch định
chiến lược tại General Electric đã viết: “Nhà quản trị marketting có chức năng quan
trọng nhất trong tiến trình hoạch định chiến lược, họ có vai trò lãnh đạo trong việc
định ra sứ mệnh kinh doanh; phân tích môi trường, cạnh tranh và những tình huống
kinh doanh; phát triển các mục tiêu, mục đích và chiến lược; xác định sản phẩm, thị
trường, kênh phân phối và những kế hoạch chất lượng để thực thi chiến lược các đơn vị
kinh doanh. Các vai trò này đưa đến việc phát sự phát triển các chương trình và những
kế hoạch tác nghiệp liên kết đầy đủ với kế hoạch chiến lược”. Xí nghiệp Lam Hồng là
một doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc Phòng cấp vốn chuyên sản xuất đồ gỗ nội thất và đồ
gỗ dân dụng. Trong những năm qua, Xí nghiệp đã biết chăm lo phát huy các nhân tố nội
Đặng Thị Ngọc - K41 QTKD TH 1
- Tất cả các khách hàng của dòng sản phẩm đồ gỗ nội thất xí nghiệp Lam Hồng
trên địa bàn thành phố Vinh.
Đặng Thị Ngọc - K41 QTKD TH 2
Khóa luận tốt nghiệp
• Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu, giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn về các
hoạt động marketing mix, từ đó đưa ra các giải pháp về chính sách marketing thích ứng,
có căn cứ khoa học, có ý nghĩa thực tiễn áp dụng tại xí nghiệp và giúp sản phẩm đồ gỗ
nội thất đững vững, cạnh tranh trên thị trường.
+ Phạm vi về thời gian: Thu thập các số liệu, tài liệu giai đoạn 2008-2010 của xí
nghiệp Lam Hồng. Số liệu sơ cấp được thu thập qua phỏng vấn trực tiếp khách hàng từ
tháng 2 đến tháng 3 năm 2011.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện tại thị trường Thành phố Vinh thông qua hai bước,
(1) nghiên cứu sơ bộ, (2) nghiên cứu chính thức.
Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện bằng nghiên cứu định tính và nghiên cứu định
lượng. Nghiên cứu định tính được thông qua kỹ thuật thảo luận nhóm và phỏng vấn thử.
Nghiên cứu định lượng sơ bộ được thông qua bảng câu hỏi thử.
Nghiên cứu chính thức cũng được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định
lượng sử dụng kỹ thuật phỏng vấn khách hàng thông qua bảng hỏi chính thức để thu
thập thông tin khách hàng đã từng sử dụng sản phẩm đồ gỗ nội thất của xí nghiệp Lam
Hồng. Thông tin thu thập được sẽ được xử lý trên phần mềm SPSS 16.0 for Windowns.
Phần này sẽ được trình bày chi tiết ở chương 2.
5. Kết cấu của khóa luận
Đề tài tập trung đánh giá các chính sách marketing mix mà xí nghiệp áp dụng và
đưa ra các giải pháp về marketing mix cho Xí nghiệp Lam Hồng - Tổng công ty hợp tác
kinh tế COECCO, gồm 3 phần chính:
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Trình bày lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên
cứu, phương pháp nghiên cứu. Tóm tắt bố cục đề tài.
- Định nghĩa của Peter Drucker – nhà kinh tế học cận đại Mỹ:
“Marketing là toàn bộ công việc kinh doanh nhìn theo quan điểm của người tiêu
thụ.” (Trương Đình Chiến (1999), Giáo trình quản trị Marketing, Trường Đại học Kinh
tế quốc dân, Hà Nội)
- Định nghĩa của Philip Kotler (Mỹ) - Chủ tịch hiệp hội Marketing thế giới:
“Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội nhờ đó mà các cá nhân và
tập thể có được những gì mà họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào hàng và
trao đổi những sản phẩm có giá trị với người khác”.( Philip Kotler (2001), Quản trị
marketing, NXB Thống kê, Hà Nội).
- Theo tiến sĩ Lê Thế Giới:
"Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội, nhờ nó mà các cá nhân và
các nhóm người khác nhau nhận được cái mà họ cần và mong muốn, thông qua việc tạo
Đặng Thị Ngọc - K41 QTKD TH 5
Khóa luận tốt nghiệp
ra, cung cấp và trao đổi các sản phẩm có giá trị với những người khác.” (Lê Thế Giới,
Nguyễn Xuân Lãn (1999), Quản trị Marketing, NXB Giáo dục, Hà Nội).
Từ những định nghĩa nêu trên chúng ta thấy cách hiểu về marketing hết sức
phong phú và đa dạng. Sự khác nhau giữa các định nghĩa này cũng như nhiều định
nghĩa khác về marketing chỉ là ở quan điểm, góc độ nhìn nhận vấn đề. Ở đây các học
giả đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự trao đổi nhằm thỏa mãn nhu cầu của
người bán, người mua dù họ là một cá nhân hay một tổ chức.
Hiện nay, định nghĩa về marketing của Philip Kotler và của Hiệp hội marketing Hoa
Kỳ được xem là hoàn chỉnh và được thừa nhận rộng rãi nhất trên phạm vi toàn thế giới.
1.1.1.2. Vai trò của marketing trong hoạt động kinh doanh
Doanh nghiệp được ví như là một cơ thể sống của đời sống kinh tế. Còn thị
trường, đó chính là môi trường bên ngoài. Cơ thể sống không thể tồn tại nếu không trao
đổi chất với môi trường bên ngoài. Tương tự như vậy, doanh nghiệp không thể đứng
vững và phát triển nếu không gắn với thị trường.
Do vậy, ngày nay không một doanh nghiệp nào tiến hành kinh doanh mà lại không
tìm cách gắn doanh nghiệp mình với thị trường. Thành công hay thất bại của doanh
1. Hoạch định sản phẩm 7. Khuyến mãi
2. Định giá 8. Đóng gói
3. Xây dựng thương hiệu 9. Trưng bày
4. Kênh phân phối 10. Dịch vụ
5. Chào hàng cá nhân 11. Kho bãi và vận chuyển
6. Quảng cáo 12. Theo dõi và phân tích
Trong marketing – mix có đến hàng chục công cụ khác nhau. Nhưng theo J. Mc
Carthy, có thể nhóm gộp thành 4 yếu tố gọi là 4P: sản phẩm (product), giá cả (price),
phân phối (place) và cổ động (promotion) ”( Philip Kotler (2001), Quản trị marketing,
NXB Thống kê, Hà Nội). Các doanh nghiệp thực hiện marketing - mix bằng cách phối
hợp 4 yếu tố chủ yếu đó để tác động làm thay đổi sức cầu thị trường về sản phẩm của
mình theo hướng có lợi cho kinh doanh.
Mô hình 4P của Mc Cathy được thể hiện như sau:
Đặng Thị Ngọc - K41 QTKD TH 7
Khóa luận tốt nghiệp
Sơ đồ 1: Quan hệ giữa 4P-4C
Công ty Thương mại (4P) Người tiêu dung (4C)
Sản phẩm (Product) Nhu cầu và mong muốn (Customer Solution)
Giá cả (Price) Chi phí (Customer Cost)
Phân phối (Place) Sự thuận tiện (Conveniene)
Xúc tiến (Promotion) Thông tin (Communication)
(Nguồn: Philip Kotler (2001: 117), Quản trị marketing, NXB Thống kê Hà Nội)
CẤU TRÚC CỦA MARKETING _ MIX
Sơ đồ 2: Nội dung 4P của marketing – mix
(Nguồn: Philip Kotler (2001: 117), Quản trị marketing, NXB Thống kê Hà Nội)
1.2.2.1. Chính sách sản phẩm
Đặng Thị Ngọc - K41 QTKD TH 8
Marketing - mix
“Sản phẩm là mọi thứ có thể chào bán trên thị trường để chú ý, mua, sử dụng hay
tiêu dung có thể thỏa mãn được một mong muốn hay nhu cầu.”(Philip Kotler (2001),
Quản trị marketing, NXB Thống kê Hà Nội).
- Khi đưa ra các quyết định marketing về sản phẩm người ta tập trung vào các nội
dung sau:
+ Quyết định về danh mục sản phẩm.
Danh mục sản phẩm là tập hợp tất cả các chủng loại hàng hóa và các đơn vị hàng
hóa do một người bán cụ thể đem chào bán cho người mua. Danh mục hàng hóa được
phản ánh qua bề rộng, bề sâu, mức độ phong phú và mức độ hài hòa của nó.
+ Quyết định về chủng loại sản phẩm:
“Chủng loại hàng hóa là một nhóm sản phẩm có liên quan chặt chẽ với nhau do
giống nhau về chức năng hay do bán chung cho cùng một nhóm khách hàng, hay thông
qua những kiểu tổ chức thương mại hay trong khuôn khổ cùng một dãy giá”.
+ Quyết định về nhãn hiệu:
“Nhãn hiệu là tên, thuật ngữ, biểu tượng, biểu tượng hay kiểu dáng, hoặc một sự
kết hợp những yếu tố đó nhằm xác nhận hàng hóa hay dịch vụ của một người bán hay
một nhóm người bán và phân biệt chúng với hàng hóa, dịch vụ của các đối thủ cạnh
tranh”. (Philip Kotler (2001), Quản trị marketing, NXB Thống kê Hà Nội).
Nhãn hiệu về cơ bản là một sự hứa hẹn của người bán đảm bảo cung cấp cho
người mua một tập hợp nhất định những tính chất, lợi ích và dịch vụ. Những nhãn hiệu
tốt nhất đều kèm theo sự đảm bảo chất lượng. Một nhãn hiệu có thể mang theo tới sáu
cấp độ ý nghĩa đó là: Thuộc tính, ích lợi, giá trị, văn hóa, nhân cách, người sử dụng. Với
sáu cấp độ ý nghĩa của nhãn hiệu này, người làm marketing cần phải quyết định xem
cần chốt lại đặc điểm nhận dạng của nhãn hiệu ở cấp độ nào. Sẽ là một sai lầm chỉ
quảng cáo những thuộc tính của nhãn hiệu. Thứ nhất là vì người mua không quan tâm
đến các thuộc tính của nhãn hiệu bằng những lợi ích của nhãn hiệu đó. Thứ hai là vì các
đối thủ cạnh tranh có thể dễ dàng nhái theo các thuộc tính đó. Thứ ba là vì những thuộc
tính có thể mất dần giá trị và làm tổn hại đến một nhãn hiệu gắn bó quá chặt chẽ với
những thuộc tính đặc biệt.
+ Quyết định về bao gói:
của mình đang ở giai đoạn nào để có chiến lược marketing phù hợp.
1.2.2.2. Chính sách giá cả
Đặng Thị Ngọc - K41 QTKD TH 10
Khóa luận tốt nghiệp
- Một trong những quyết định quan trọng và phức tạp nhất của nhà Quản trị
marketing là định giá hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp mình cung cấp. Các quyết
định về giá có ảnh hưởng lớn tới toàn bộ quá trình kinh doanh, đến bán hàng, chi phí và
lợi nhuận.
Với hoạt động trao đổi: giá cả là mối tương quan trao đổi với thị trường.
Với người mua: giá cả của một sản phẩm, dịch vụ là khoản tiền mà người mua
phải trả cho người bán để được quyền sở hữu, sử dụng sản phẩm, dịch vụ đó.
Với người bán: giá cả của một hàng hóa, dịch vụ là khoản thu nhập mà người bán
nhận được nhờ việc tiêu thụ sản phẩm đó.
- Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định giá:
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định giá được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 3: Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định giá
- Các phương pháp định giá:
Những phương pháp định giá mà marketing thường gặp bao gồm: định giá dựa vào
chi phí, định giá theo giá trị cảm nhận, định giá cạnh tranh đấu thầu.
+ Định giá dựa vào chi phí: căn cứ chính để xác định giá là chi phí bỏ ra để sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm. Sau đây là phương pháp cụ thể:
* Định giá theo cách cộng lãi vào giá thành:
Giá dự kiến = Giá thành phẩm + Lãi dự kiến.
Ưu điểm của phương pháp này là đơn giản, dễ tính toán. Ngoài ra khi các doanh
nghiệp trong cùng một ngành hàng sử dụng phương pháp này thì giá bán của họ có xu
hướng tương tự nhau, do đó, giảm thiểu sự cạnh tranh về giá. Mặt khác định giá theo
Đặng Thị Ngọc - K41 QTKD TH 11
Nhân tố bên trong
1. Mục tiêu marketing
thức của thị trường về giá trị hàng hóa. Các doanh nghiệp phải tránh hiện tượng thổi
phồng giá trị sản phẩm hoặc quá khắt khe trong việc đánh giá dẫn đến việc định giá
thiếu chính xác, gây thiệt hại cho doanh nghiệp.
+ Định giá theo mức giá hiện hành (định giá cạnh tranh)
Theo cách định giá này, doanh nghiệp lấy giá của đối thủ cạnh tranh làm cơ sở. Họ
ít quan tâm tới chi phí sản xuất và cầu thị trường. Giá sản phẩm của doanh nghiệp có thể
cao hơn, thấp hơn hoặc bằng với giá của đối thủ cạnh tranh. Phương pháp này áp dụng
trong những trường hợp chi phí khó xác định được hoặc phản ứng cạnh tranh không
chắc chắn.
+ Định giá đấu thầu:
Định giá đấu thầu xảy ra trong những trường hợp mà doanh nghiệp đấu thầu công
trình. Giá đấu thầu thuộc loại giá cạnh tranh. Doanh nghiệp tham gia đấu thầu, đấu giá
dựa trên cơ sở dự đoán các đối thủ cạnh tranh sẽ ra giá là bao nhiêu chứ không phải là
dựa trên chi phí.
Đặng Thị Ngọc - K41 QTKD TH 12
Khóa luận tốt nghiệp
Tóm lại, giá cả là một biến số phức tạp và luôn ẩn chức những mâu thuẫn. Vì vậy, để
có một mức giá bán sản phẩm, dịch vụ hợp lí đòi hỏi người làm giá phải tuân thủ theo
những nguyên tắc và thực hiện việc định giá theo một quy trình soạn thảo kĩ lưỡng.
1.2.2.3. Chính sách phân phối
Phân phối bao gồm các hoạt động khác nhau mà một doanh nghiệp cần phải tiến
hành nhằm tổ chức và đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi người tiêu thụ ở thị trường
mục tiêu. Nội dung của chương trình phân phối là doanh nghiệp phải đưa ra các quyết
định về thiết kế kênh phân phối, quản lí kênh, lưu thông hàng hóa, phương thức phân
phối, lựa chọn giải pháp thu hút khách hàng.
- Thiết kế kênh phân phối: Thiết kế hệ thống kênh phân phối là quá trình kết hợp
các quyết định về địa điểm theo yếu tố địa lí, và khách hàng để xác định và xây dựng
phương án kênh phân phối của doanh nghiệp. Để thiết kế hệ thống kênh phân phối, cần
nghiên cứu các nội dung: các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn kênh phân phối (giới
hạn địa lí của thị trường, nhóm khách hàng trọng điểm, lực lượng bán hàng của doanh
Đại lý: Đại diện bán hàng cho nhà sản xuất thông qua quan hệ hợp đồng và lợi
nhuận thông qua tỉ lệ phần trăm trên doanh thu hoặc chênh lệch giữa giá trị nhận hàng
và giá thực bán.
Môi giới: Môi giới khác với người bán sỉ bán lẻ và đại lý ở chỗ họ không trực tiếp
tiêu thụ sản phẩm mà tìm kiếm khách hàng cho chủ hàng và không tham gia trực tiếp
vào hoạt động cạnh tranh giữa các nhà sản xuất với nhau.
1.2.2.4. Chính sách xúc tiến hỗn hợp
Xúc tiến là hoạt động thông tin marketing tới khách hàng tiềm năng. Trong kinh
doanh, thông tin marketing là trao, truyền, đưa đến, chuyển giao những thông điệp cần
thiết về doanh nghiệp, về sản phẩm của doanh nghiệp, về phương thức phục vụ, về
những lợi ích mà khách hàng sẽ thu được khi mua sản phẩm của doanh nghiệp, cũng
như những thông tin cần thiết từ phía khách hàng.(Kotler P (2006), principles of
marketing).
Các nội dung chủ yếu của hoạt động xúc tiến bao gồm: Quảng cáo, khuyến mãi,
PR, bán hàng cá nhân, marketing trực tiếp.
* Quảng cáo: Theo hội tiêu thụ Mỹ (AMA): Quảng cáo thương mại là giới thiệu và
phổ biến sản phẩm hoặc dịch vụ không có người thuyết minh, do chủ quảng cáo cụ thể
Đặng Thị Ngọc - K41 QTKD TH 14
Khóa luận tốt nghiệp
chi tiền cho việc quảng cáo ấy. Phương tiện quảng cáo là thông qua các môi giới, mục
đích quảng cáo là thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ để thu lợi nhuận.
* Khuyến mãi: Là hành vi thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc bán
hàng, cung ứng dịch vụ trong phạm vi kinh doanh của thương nhân bằng cách dành
những lợi ích nhất định cho khách hàng (thường trong thời gian ngắn).
Các hình thức khuyến mãi chủ yếu: Giảm giá, phát mẫu hàng miễn phí, tặng phiếu mua
hàng, trả lại một phần tiền, thi, cá cược, trò chơi, phần thưởng cho khách hàng thường xuyên,
chiết giá, tặng quà, tặng vật phẩm mang biểu tượng của doanh nghiệp…
* PR: Quan hệ công chúng là quan hệ với quần chúng nhằm tuyên truyền tin tức
tới các giới dân chúng khác nhau ở trong và ngoài nước như: nói chuyện, tuyên truyền,
quan hệ cộng đồng, đóng góp từ thiện…
1.2.1 Thực trạng xây dựng chiến lược marketing mix của các doanh nghiệp Việt Nam
Trong xu thế hội nhập ngày nay, hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đã ý thức
được vai trò, tầm quan trọng của marketing trong sự thành bại của doanh nghiệp trên
con đường chinh phục các mục tiêu. Tuy nhiên một thực tế mà chúng ta thấy hiện nay
là, các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ nên kinh phí dành
cho marketing không lớn lắm, do đó họ không thể chạy đua nổi các chiến dịch khuyến
mại, quảng cáo…hùng hậu như các doanh nghiệp nước ngoài hoặc các doanh nghiệp có
nguồn lực lớn.
Trên thị trường quốc tế, Việt Nam đang xuất khẩu mạnh các mặt hàng nông sản,
thực phẩm chế biến, giày dép, quần áo, hàng thủ công mỹ nghệ, thủy hải sản… và chất
lượng các mặt hàng ngày càng tăng. Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ Thương mại có tới
90% mặt hàng Việt Nam vẫn còn phải vào thị trường thông qua trung gian dưới dạng
thô, hoặc gia công cho những thương hiệu nổi tiếng của nước ngoài . Do đó, người tiêu
Đặng Thị Ngọc - K41 QTKD TH 16
Doanh
nghiệp
SP
giá cả
cơ sở
vật chất
Khuyến mãi
Quảng cáo
Lực lượng
bán hàng
Quan hệ
công chúng
Marketing
trực tiếp
Kênh
phân phối
Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lạt… Ngoài ra công ty AA
còn thực hiện nhiều công trình khách sạn, khu nghỉ dưỡng sang trọng tại nhiều quốc gia
Đặng Thị Ngọc - K41 QTKD TH 17
Khóa luận tốt nghiệp
trên thế giới. Sản phẩm AA có mặt trong các công trình sang trọng và hoàn mỹ nhất ở
Mỹ, Đức, Sri Lanka, Campuchia.
Đối với thị trường bán lẻ Việt Nam, các thương hiệu AA Décor, Bellavita, Nhà
Xinh, AA home của Công ty AA là những thương hiệu uy tín hàng đầu được người tiêu
dùng trung, cao cấp ưa chuộng.
Nhưng hiện tại, do ảnh hưởng chung của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu,
ngành gỗ đang đối diện với không ít khó khăn. Cụ thể về xuất khẩu, 8 tháng đầu năm
nay chỉ đạt 1,55 tỷ USD , giảm 15% so với cùng kỳ năm 2008. Thị phần của ngành gỗ
tại nhiều quốc gia liên tục sụt giảm, đặc biệt là thị trường EU, Hoa Kỳ. Ngoài ra khó
khăn lớn nhất của doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm gỗ là thị trường xuất khẩu đang bị
thu hẹp lại. Tại các thị trường lớn xuất hiện ngày càng nhiều các rào cản khắt khe, các
hành vi bảo hộ thương mại tinh vi như đạo luật LACEY của Hoa Kỳ, Hiệp định về
“Tăng cường thực thi luật Lâm nghiệp, quản trị rừng và buôn bán gỗ (FLEGT) của
Châu Âu (EU). Ngòai ra, năm 2009 ngành công nghiệp gỗ Việt Nam còn phải đối mặt
với những thách thức mới khi các nước trong khu vực SEAN liên kết lại để tăng sức
cạnh tranh, tạo thách thức không nhỏ cho các doanh nghiệp gỗ.
Giữa lúc thị trường bên ngoài còn khó khăn, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu định
hướng quay trở lại thị trường nội địa – một thị trường tiềm năng bấy lâu bị lãng quên do
doanh nghiệp hăm hở đổ xô vào xuất khẩu, để “người khổng lồ” Trung Quốc, Đài Loan
tung hoành. Theo ông Nguyễn Chiến Thắng – Chủ tịch Hội Mỹ Nghệ và Chế biến gỗ
Thành phố Hồ Chí Minh (HAWA), thị trường đồ gỗ tại Việt Nam có tiềm năng lớn do
đời sống người dân người dân ngày càng được nâng cao, sức tiêu thụ các mặt hàng gỗ
gia dụng, trang trí nội thất đang gia tăng, đặc biệt là chất lượng hàng hóa và kiểu dáng
sản phẩm phù hợp rất phù hợp với thị hiếu và phong cách sống của người Việt Nam.
Kết quả một số cuộc điều tra khảo sát thị trường cho biết chỉ có khoảng 20% doanh số
tiêu thụ đồ gỗ trong nước thuộc về các sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam, còn lại
thực trạng thị trường đồ gỗ nội thất của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế
lẫn thị trường nội địa.
Chương hai sẽ trình bày thực trạng kinh doanh của Xí nghiệp Lam Hồng và
phương pháp nghiên cứu được sử dụng để thu thập và xử lý số liệu nhằm rút ra những
kết luận cần thiết.
Đặng Thị Ngọc - K41 QTKD TH 19
Khóa luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN VỀ XÍ NGHIỆP LAM HỒNG - TỔNG CÔNG TY HỢP
TÁC KINH TẾ COECCO VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan về Xí nghiệp Lam Hồng – Tổng công ty hợp tác kinh tế COECCO
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Xí nghiệp Lam Hồng
Tên doanh nghiệp: Xí nghiệp Lam Hồng – Công ty Hợp tác kinh tế COECCO
Giám đốc hiện tại: Ông Trần Văn Chinh
Điện thoại: 038. 3562. 916
Địa chỉ giao dịch: Khối 4, Phường Trường Thi, Thành phố Vinh, Tỉnh Nghệ An
Điện thoại giao dịch: 0383. 562. 916 Fax: 0383. 830. 959
Loại hình doanh nghiệp: Xí nghiệp Lam Hồng là một doanh nghiệp nhà nước
thuộc Bộ Quốc phòng do Bộ quốc phòng cấp vốn. Vậy doanh nghiệp nhà nước là một tổ
chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh
doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà
nước giao.
Nhiệm vụ của doanh nghiệp:
- Tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ theo đúng nghành nghề đã
đăng ký nhằm mục đích huy động và sử dụng các nguồn vốn có hiệu quả, bảo toàn và
phát triển vốn, đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh và một số lĩnh vực khác nhằm nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tạo việc làm và ổn định cho người
lao động.
- Thực hiện đầy đủ chế độ hạch toán chấp hành đầy đủ chính sách của Đảng và
Nhà nước.
chiến lược mới cho hoạt động sản xuất kinh doanh, không chỉ mở rộng sản xuất trên địa
bàn tỉnh mà cần vươn xa hơn nữa. Công ty đã cử một đoàn cán bộ sang nước bạn Lào để
tìm hiểu thị trường và sau một thời gian tìm hiểu tháng 9 năm 2004 Ban lãnh đạo công
ty quyết định xin Bộ trưởng quốc phòng cho phếp đầu tư ra nước ngoài và thành lập
thêm Xí nghiệp 2/9 đóng tại huyện Hạt Luống, tỉnh Xiên Khoảng, Lào. Sau một năm
hoạt động bên Lào đã đem lại hiểu quả kinh tế cao.
Đặng Thị Ngọc - K41 QTKD TH 21
Khóa luận tốt nghiệp
Tháng 11 năm 2005 xí nghiệp quyết định mở rộng thêm địa bàn hoạt động bên
nước bạn Lào và thành lập thêm xí nghiệp 11 tại huyện Thoong Pơ, tỉnh Xiêng
Khoảng, Lào. Thực hiện chủ trương sắp xếp đổi mới doanh nghiệp của chính phủ, bộ
quốc phòng thì năm 2007 các công ty quân đội tỉnh gọn lại hoạt động mô hình công ty
mẹ công ty con. Công ty Lam Hồng thành công ty con trưc thuộc công ty Hợp tác kinh
tế. Và tháng 1 năm 2010 công ty Lam Hồng đổi tên thành xí nghiệp Lam Hồng.
Qua hơn mươi năm hoạt động Công ty Hợp tác kinh tế đã đạt được những thành
tựu to lớn trong công cuộc xây dựng sự lớn mạnh của công ty, làm kinh tế kết hợp với
nhiệm vụ quốc phòng và được Nhà nước, Bộ Quốc phòng và Quân khu 4 tặng nhiều
phần thưởng cao quý.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức
Sơ đồ 5: Sơ đồ tổ chức bộ máy của Xí nghiệp Lam Hồng
Quan hệ trực tuyến:
Quan hệ chức năng:
(Nguồn: Phòng Kế toán Xí nghiệp Lam Hồng)
2.1.2.1. Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban trong Xí nghiệp
Do Xí nghiệp Lam Hồng là một bộ phận của Công ty Hợp Tác Kinh Tế nên tất cả
các hoạt động của Xí nghiệp Lam Hồng đều chịu sự quản lý của Hội Đồng Quản Trị.
Dựa vào sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của xí nghiệp, ta có thể khẳng định, xí
nghiệp tổ chức bộ máy quản lí theo mô hình hỗn hợp trực tuyến - chức năng.
Đặng Thị Ngọc - K41 QTKD TH 22
Khóa luận tốt nghiệp
xuất nhưng vẫn đảm bảo về chất lượng sản phẩm, nâng cao được sức cạnh tranh trên thị
trường.
2. Ghép, tạo phôi:
Gỗ sau khi được xẻ được ghép ván, tạo phôi chi tiết, bước đầu hình thành phôi thô
từng chi tiết của mỗi sản phẩm.
3. Tẩm sấy:
Chất lượng khép kín ngay từ đầu. Gỗ sau khi xẻ theo quy cách được đưa vào “Tẩm
hóa chất ở nồi áp lực ”(bằng phương pháp phối hợp hóa học và vật lý).
Công nghệ sấy hơi nước giữ cho chất liệu gỗ bền, đảm bảo tính cơ lý cho sản
phẩm, hạn chế thấp nhất độ co giãn môi trường, tránh mối mọt, cong vênh… khi đưa
vào sử dụng.
4. Gỗ Veneer:
Chất liệu đặc trưng của sản phẩm gỗ nội thất Lam Hồng là veneer xoan đào.
Xí nghiệp có 2 máy lạng veneer hiện đại và nhà xưởng cắt- may.
5. Định hình mẫu mã theo quy cách sản phẩm:
Các chi tiết mẫu mã sản phẩm được định hình chuẩn tập trung tại nhà xưởng sản
xuất định hình của nhà máy với các thiết bị máy móc nhập khẩu từ Nhật, Đài Loan.
6. Lắp ráp cố định – Lưu kho bán thành phẩm:
Xí nghiệp có một đội ngũ công nhân lành nghề, kỹ thuật cao, giàu kinh nghiệm
đảm trách ở bộ phận lắp ráp.
Sản phẩm sau khi được lắp ráp hoàn chỉnh được kiểm tra chất lượng và nhập kho
bán thành phẩm.
7. Hoàn thiện sản phẩm:
Quy trình hoàn thiện sản phẩm được bắt đầu bằng công đoạn chà nhám thô, nhám
láng bóng- Sơn lót (làm nguội) nhiều lần cho đến khi bề mặt sản phẩm được xử lý thật
sự mịn, láng.
Đặng Thị Ngọc - K41 QTKD TH 24
Khóa luận tốt nghiệp
8. Ráp giả - Đóng gói – lưu kho thành phẩm:
Sau công đoạn sơn tinh hoàn thiện, một khâu không kém phần quan trọng quyết
Khác 527 87.8 589 85.7 197 79.8 62 111.8 -392 33.4
(Nguồn: Phòng Kế toán Xí nghiệp Lam Hồng)
Đặng Thị Ngọc - K41 QTKD TH 25