Cá Tai tượng
Nguồn: hoind.tayninh.gov.vn
Tại Việt Nam cá tai tượng phân bố tự nhiên ở sông Đồng Nai, khu vực La
Ngà. Trên thế giới cá tai tượng có ở Borneo, đảo Sumatra (Indonesia), Thái Lan,
Campuchia, Lào.
I. Đặc điểm sinh học:
•
Môi trường sống: Cá tai tượng sống ở ao hồ, đầm nước ngọt, cá có
cơ quan hô hấp nên cá sống được ở nước tù, bẩn, thiếu oxy (hàm lượng oxy
3mg/lit). Cá tai tượng sống được ở nước lợ, độ mặn 6%o ngưỡng nhiệt độ 16-
42
o
C, sinh trưởng tốt ở 25-30
o
C; pH=5.
•
Thức ăn: Cá trưởng thành ăn tạp thiên về thực vật (các loại rau,
bèo?). Khi mới nở cá sống nhờ dinh dưỡng từ noăn hoàng; sau 5 - 7 ngày sử dụng
hết noăn hoàng cá bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài là luân trùng Cladocera, trùng chỉ
(Tubifex) cung quăng (Chironomus), ấu trùng côn trùng khác. 1 tháng tuổi cá
chuyển sang ăn tạp, nghiêng về động vật, sau đó chuyển dần sang ăn thực vật.
Trong ao nuôi, cá ăn được những loài thực vật mềm ở dưới nước và trên cạn, các
phụ phẩm từ nhà bếp, sản phẩm ḷ mổ và phân động vật.
•
Sinh sản: Cá tai tượng thành thục lần đầu sau 2 năm. Cá nhỏ nhất
tham gia sinh sản là 300-400 g. Cá đẻ có chất lượng tốt nhất từ 3 - 7 tuổi nặng 2-5
kg. Mùa vụ sinh sản, đẻ tập trung vào tháng 2-5, giảm đẻ từ tháng 6 trở đi. Tuy
nhiên, nếu chăm sóc tốt, môi trường nước sạch, mật độ nuôi vừa phải, mùa sinh
sản sẽ sớm hơn hay kéo dài hơn. Sức sinh sản 1 lần đẻ khoảng 3000-5000 trứng.
Khoảng cách giữa hai lần đẻ là 2 tháng. Nếu ao nuôi có thức ăn đầy đủ, khoảng
Làm tổ: Dùng xơ dừa cho vào rọ để cá làm tổ đẻ trứng. Hàng ngày
kiểm tra để biết thời gian cá đẻ. Khi nh́n thấy giọt dầu nổi trên mặt nước là cá đẻ
xong, cá đực bảo vệ tổ thường xuyên. Ta cần làm động tác gạt nước để cấp oxy
cho trứng.
2. Ấp trứng:
Trứng cá tai tượng là trứng nổi, cá đẻ xong ta vớt tổ lên, gỡ trứng cho vào
chậu, thau để ấp. Mật độ: 200 trứng/lít. Hàng ngày thay nước trong thau và vớt
trứng bị hỏng. Sau 24-36 giờ ấp trứng nở thành cá bột. Sau 6-7 ngày cá tiêu hết
noăn hoàng, cho cá ăn bằng ḷng đỏ trứng gà luộc bóp nhuyễn. Cá 10 ngày tuổi ăn
được động vật phù du và ta chuyển sang ao ương. Trong quá tŕnh ấp cá dễ bị bệnh
ngoại kư sinh, nhất là lúc trời lạnh.
3. Ương từ cá bột lên cá giống:
•
Chuẩn bị ao: cá tai tượng có thể được ương ở ao hoặc ruộng, diện
tích từ 500-5000m
2
. Mức nước: 0,4-1,2m. Cá c̣n nhỏ hoạt động chậm chạp, nên
khâu cải tạo ao rất quan trọng: tát cạn, vét bùn đáy ao, bắt hết cá tạp cá dữ, lấp
hang hố, diệt lươn, chạch bằng thuốc dipterex. Bón vôi: 5-10kg/100m
2
, quây lưới
cao 1m xung quanh bờ ao. Khi cấp nước vào ao ta phải lọc bằng lưới thật kỹ. Tạo
màu nước bằng cách bón phân để có nhiều động vật phù du 2-3 ngày trước khi thả
cá.
•
Thả cá: Khi cá bột lặn xuống đáy chậu th́ có thể thả trực tiếp xuống
ao. Mật độ ương 50-100 con/m
2
.
•
để không che quá 25% diện tích mặt nước.
•
Có thể sử dụng mương vườn, liếp rẫy có mặt nước từ 100 đến vài
ngàn mét vuông để nuôi cá. Mức nước sâu hợp lư từ 1-2m. Sau khi đă vét bùn,
bón vôi bột 10- 15kg/100m
2
ao. Nếu c̣n cá tạp, dùng dây thuốc cá đập dập lấy
nước, rải theo tỷ lệ 4kg/100m
2
mặt nước, phơi khô 5-7 ngày, bón phân lợn, phân
ḅ: 20-30 kg/100m
2
, phân gà: 10-15 kg/100 m
2
, rải đều ao. Cho nước vào ao
khoảng 40cm, sau 1 tuần, khi nước có màu xanh đọt lá chuối non, cho thêm nước
vào tới 0,8-1m.
2. Thả cá và cho cá ăn:
a) Giống cá: Chọn cá đều cỡ khoẻ mạnh, không bị xây xát, bị dị tật hoặc
mang bệnh. Mật độ nuôi: 3-10 con/m
2
; nếu thả ghép tai tượng với cá mè trắng, cá
hường th́ mật độ 1 con/1m
2
(để tận dụng thức ăn rơi văi và làm sạch môi trường
nước).
b) Thức ăn cho cá: sau 1 tháng ương cá tai tượng lớn thành cá giống và
chuyển dần sang ăn thực vật là chính, giai đoạn đầu ta cho ăn thực vật nhỏ như;
bèo cám, hoa đậu lá cải, lá rau muống, lá ḿ (sắn). Cá lớn hơn ăn hầu hết các loại
rau, thực vật thủy sinh, phế phẩm nhà bếp. Cá ăn rau sẽ lớn chậm (2-3 năm đạt
Chặn từng khúc mương hoặc từng phần ao, kéo lưới nhẹ nhàng, bắt cá bằng
vợt, cho cá vào thùng chứa nước hay cho vào dèo (giai) chứa. Tuyệt đối không để
cá bị khô.