Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty quản lý và sửa chữa đường bộ 232 - Pdf 85

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
Đã hai mươi năm qua kể từ khi nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi từ cơ
chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường, nền kinh tế đã có
những chuyển biến đáng kể. Cơ hội kinh doanh được mở rộng cho tất cả các
doanh nghiệp gồm cả doanh nghiệp Nhà nước và các loại hình doanh nghiệp
khác tạo nên một môi trường cạnh tranh sôi động.
Quá trình sản xuất cần có ba yếu tố cơ bản là lao động, tư liệu lao động
và đối tượng lao động, song trong nền kinh tế thị trường các yếu tố về sức lao
động, công nghệ đều có thể được thỏa mãn nếu như có vốn.
Ở bất kỳ loại hình kinh doanh nào cũng cần phải đạt được mục đích bảo
toàn và phát triển vốn nhằm tăng khả năng tái đầu tư cả về chiều rộng lẫn
chiều sâu. Muốn vậy, trước tiên doanh nghiệp cần có biện pháp quản lý bảo
toàn vốn, bên cạnh đó nên lập các phương án sử dụng vốn sao cho đạt hiệu
quả tốt nhất.
Công ty quản lý và sửa chữa đường bộ 232 là một doanh nghiệp Nhà
nước hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, tuy thời gian hoạt mới gần 20 năm
nhưng công ty đã không ngừng phát triển và đạt được những thành công nhất
định. Trong thời gian thực tập tại công ty, em nhận thấy công ty hoạt động rất
tốt tuy nhiên việc sử dụng vốn kinh doanh có nhiều bất cập, đây cũng là vấn
đề chung của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời điểm này.
Công ty 232 hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, vốn thường hay tồn
đọng, chủ yếu là dưới dạng vốn lưu động. Vì vậy, việc đưa ra một chính sách,
giải pháp cụ thể nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là rất cần thiết. Do đó, em đã
chọn đề tài: “ Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh tại Công ty quản lý và sửa chữa đường bộ 232” với mong muốn có thể
đưa ra được giải pháp giải quyết vấn đề này tại công ty.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề gồm 3 chương:
Vũ Diệu Hương – TCDN 44C Khoa Ngân hàng – Tài chính
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Quan điểm của P.Samuelson: vốn là những hàng hóa được sản xuất ra để
sản xuất ra những hàng hóa mới, là đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Một nhà kinh tế khác là D.Begg đưa ra định nghĩa về vốn hiện vật và vốn
tài chính của doanh nghiệp. Vốn hiện vật là dự trữ các loại hàng hóa đã sản
xuất ra để sản xuất ra các hàng hóa khác. Vốn tài chính là tiền và các loại giấy
tờ có giá của doanh nghiệp.
Những định nghĩa này chỉ thể hiện vai trò tác dụng trong những điều
kiện lịch sử cụ thể, tuy vậy vẫn có hạn chế bởi sự đồng nhất vốn với tài sản
của doanh nghiệp. Thực chất vốn là biểu hiện bằng tiền, là giá trị của tài sản
mà doanh nghiệp nắm giữ. Vốn và tài sản là hai mặt giá trị và hiện vật của
Vũ Diệu Hương – TCDN 44C Khoa Ngân hàng – Tài chính
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
một bộ phận nguồn lực sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp huy động vào
trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp mình.
Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, vốn được quan niệm là toàn bộ
những giá trị ứng ra ban đầu và trong các quá trình tiếp theo của doanh
nghiệp. Như vậy vốn không chỉ là một yếu tố đầu vào mà còn tham gia xuyên
suốt quá trình sản xuất và tái sản xuất trong suốt quá trình tồn tại của doanh
nghiệp. Như vậy vốn là yếu tố quyết định cho mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh, vì vậy các doanh nghiệp cần phải quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả
hơn. Để làm được điều đó doanh nghiệp cần hiểu rõ về vốn và những đặc
trưng của nó. Khi đó việc quản lý và sử dụng mới đạt hiệu quả cao.
Một số đặc trưng cơ bản của vốn như:
Vốn phải đại diện cho một lượng tài sản nhất định, vậy vốn được biểu
hiện bằng tài sản hữu hình và tài sản vô hình của doanh nghiệp. Tuy nhiên nó
không chỉ biểu hiện trong các tài sản hữu hình mà còn ở cả các tài sản vô hình
như uy tín, thương hiệu, vị trí kinh doanh…
Trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, vốn phải vận

được phân chia vào các quỹ như quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài
chính… còn lại nộp vào ngân sách Nhà nước hoặc giữ lại bổ sung vào nguồn
vốn, hoặc cũng có thể rút từ các quỹ này bổ sung vào nguồn vốn. Đối với
doanh nghiệp Nhà nước còn được để lại toàn bộ số khấu hao cơ bản tài sản cố
định để đầu tư mới.
1.1.2.1.2 Vốn huy động của doanh nghiệp.
Vốn huy động là nguồn vốn đóng vai trò quan trọng đối với doanh
nghiệp. Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn. Do vốn chủ
sở hữu không đáp ứng đủ yêu cầu cho sản xuất kinh doanh, nên doanh nghiệp
luôn phải huy động thêm từ các nguồn khác theo các hình thức như vay nợ,
liên doanh, liên kết, phát hành các giấy tờ có giá…
Vũ Diệu Hương – TCDN 44C Khoa Ngân hàng – Tài chính
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
 Vốn vay.
Đây là nguồn bổ sung vốn mà hầu hết các doanh nghiệp đều nghĩ đến
khi cần vốn cho các dự án, cho mở rộng sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp
có thể vay vốn từ ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các tổ chức kinh tế, cá
nhân.
Nguồn vốn vay từ ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo lập nguồn
vốn cho doanh nghiệp, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cả trong ngắn hạn và dài
hạn.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp có thể huy động vốn bằng cách phát hành
các chứng khoán, việc vay trên thị trường chứng khoán mang lại nhiều ưu
điểm hơn so với đi vay ngân hàng do chi phí thấp hơn. Tại những nền kinh tế
phát triển, thị trường chứng khoán đóng vai trò rất quan trọng đối với doanh
nghiệp trong việc tạo lập nguồn vốn cho doanh nghiệp. Công cụ này đóng vai
trò quan trọng đối với cả nền kinh tế nói chung. Việc phát hành trái phiếu
giúp doanh nghiệp huy động được vốn cho sản xuất kinh doanh, thu hút lượng
tiền nhàn rỗi trong dân cư vào phát triển kinh tế.

sửa chữa…và mọi rủi ro về hao mòn vô hình tài sản. Hình thức này rất phù
hợp với doanh nghiệp hoạt động mang tính thời vụ.
Ngược lại với thuê vận hành, thuê tài chính là một phương thức tài trợ tín
dụng trung và dài hạn. Với hình thức này, các điều kiện thuê mua được thoả
thuận ngay từ đầu, và bên cho thuê tài sản sẽ bỏ tiền ra mua tài sản đó và cho
thuê, khi kết thúc hợp đồng, bên thuê sẽ mua lại tài sản đó với giá tượng
trưng. Khác với thuê vận hành, hình thức này thời gian thuê chiếm phần lớn
tuổi thọ của tài sản, các chi phí liên quan đến tài sản như bảo hành, chi phí
sửa chữa, hao mòn đều do bên đi thuê chịu, và bền đi thuê không được phép
tự ý bỏ hợp đồng.
1.1.2.2 Các hình thức biểu hiện của vốn kinh doanh.
Trong chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vốn kinh doanh
luôn vận động, từ trạng thái này sang trạng thái khác và mục đích vận động
Vũ Diệu Hương – TCDN 44C Khoa Ngân hàng – Tài chính
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
của vốn kinh doanh là sinh lời. Nghĩa là số vốn kinh doanh được ứng trước
phải được thu hồi một cách đầy đủ và nhiều hơn lượng vốn đã bỏ ra. Vì vậy
xem xét sự vận động của các hình thái tài sản, hiệu quả của vòng quay vốn
kinh doanh để thấy được tầm quan trọng của vốn kinh doanh. Trên cơ sở đó,
vốn kinh doanh được biểu hiện thành vốn cố định và vốn lưu động.
1.1.2.2.1 Vốn cố định
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn cố định được tồn tại dưới
hình thái vật chất là tài sản cố định. Muốn xem xét sự vận động của vốn cố
định ta xem xét sự vận động của tài sản cố định. Mà khi xem xét đến tài sản
cố định ta nên xem xét hai yếu tố cấu thành là tư liệu lao động và đối tượng
lao động. Tư liệu lao động có thể tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào chu kỳ
sản xuất kinh doanh, và tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất. Tài sản cố định
là tư liệu lao động chủ yếu của doanh nghiệp, khi tham gia vào quá trình sản
xuất kinh doanh, tài sản cố định vẫn giữ nguyên hình thái vật chất đúng như

các tài sản cố định và có phương hướng đầu tư đúng mục đích, vị trí của nó.
Nếu căn cứ theo tình hình sử dụng, thì tài sản cố định có thể được chia
thành: Tài sản cố định đang sử dụng là loại tài sản cố định đang tham gia vào
quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, được trích khấu hao. Và loại
tài sản cố định chưa sử dụng là loại tài sản không tham gia vào quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà chỉ nằm trong kho dự trữ.
1.1.2.2.2 Vốn lưu động.
Vốn lưu động chính là số tiền ứng trước về tài sản lưu động nhằm đảm
bảo cho quá trình sản xuất được liên tục.
Vốn lưu động có nhiều hình thái khác nhau, có thể là tiền tệ, hoặc hàng hoá
vật tư dự trữ. Tuy nhiên các hình thái này có thể chuyển hoá lẫn nhau, và vốn
lưu động luôn luân chuyển tạo ra vòng quay vốn lưu động.
Để đạt hiệu quả cao nhất cần có chiến lược quản lý vốn lưu động tốt nhất. Do
vậy, doanh nghiệp cần nắm bắt được các thành phần cấu thành vốn lưu động
để đưa ra chiến lược quản lý hiệu quả.
Vũ Diệu Hương – TCDN 44C Khoa Ngân hàng – Tài chính
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Căn cứ theo công dụng của tài sản lưu động thì vốn lưu động gồm:
Vốn lưu động nằm trong quá trình dự trữ sản xuất như vật tư, nguyên liệu.
Lượng vốn này chiếm tỷ lệ nhất định trong tổng vốn lưu động, và cũng
luôn biến động theo từng thời điểm. Tùy theo kế hoạch sản xuất kinh
doanh từng giai đoạn mà doanh nghiệp cần có kế hoạch dự trữ khác nhau
để mang lại hiệu quả cao, tránh dự trữ quá nhiều gây ứ đọng vốn, hoặc dự
trữ quá ít để ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh luôn tồn tại một lượng bán thành
phẩm và sản phẩm dở dang, do đó có một lượng vốn lưu động nằm trong
qúa trình sản xuất dưới dạng bán thành phẩm, sản phẩm dở dang.
Căn cứ theo hình thái biểu hiện, vốn lưu động gồm có:
Tiền mặt và chứng khoán có thể bán được. Trong quá trình sản xuất

một dây chuyền sản xuất, mua mới một công nghệ cho quá trình sản xuất, thì
yêu cầu đầu tiên vẫn là vốn. Doanh nghiệp muốn đầu tư vào một dự án, vốn
vẫn là yêu cầu đầu tiên. Ngay trong sản xuất kinh doanh, để đảm bảo cho việc
tái sản xuất mở rộng thì doanh nghiệp cũng cần phải có vốn, mà lượng vốn đó
chính là lấy từ hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Do đó, vốn để duy
trì hoạt động sản xuất kinh doanh, sản xuất kinh doanh có hiệu quả để bảo
toàn và phát triển vốn.
1.2 Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
1.2.1 Những quan niệm về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Hiệu quả sản xuất kinh doanh chính là thước đo độ điều hành, quản lý
hoạt động của doanh nghiệp, được đánh giá bằng hiệu quả kinh tế và hiệu quả
xã hội. Đối với các doanh nghiệp quan tâm đến hiệu quả xã hội hoặc các
doanh nghiệp hoạt động trong một nền kinh tế đạt hiệu quả xã hội sẽ là cơ hội
tốt cho doanh nghiệp phát triển, chính điều đó cũng bảo trợ cho các hoạt động
của doanh nghiệp. Có đạt hiệu quả kinh tế mới đảm bảo cho hiệu quả xã hội.
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn
Vũ Diệu Hương – TCDN 44C Khoa Ngân hàng – Tài chính
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
lực của doanh nghiệp để tạo ra kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất. Và
nguồn vốn là nguồn lực kinh tế lớn nhất của doanh nghiệp nên có tác động rất
lớn đến hiệu quả của doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yêu
cầu bắt buộc nếu muốn nâng cao hiệu quả kinh tế. Trên cơ sở đánh giá hiệu
quả sử dụng vốn sẽ giúp doanh nghiệp đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh cao chính là khả năng khai thác vốn kinh
doanh đảm bảo sinh lời lãi cao, đạt được mục đích tăng giá trị chủ sở hữu. Để
lượng hóa hiệu quả sử dụng vốn, người ta sử dụng hệ thống các chỉ tiêu về
khả năng hoạt động và khả năng sinh lời, tốc độ luân chuyển vốn. Nó phản
ánh mối quan hệ giữa đầu ra và đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh
thông qua thước đo tiền tệ, đo chênh lệch giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu

Hệ số sinh lời tổng tài sản =
Tổng tài sản
Dùng chỉ tiêu này đánh giá khả năng sinh lời của một đồng vốn đầu tư.
Lợi nhuận sau thuế
Hệ số sinh lời vốn chủ sở hữu =
Vốn chủ sở hữu
Đây là chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu và trình độ
quản lý vốn chủ sở hữu của công ty. Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.
Trên đây là ba chỉ tiêu đánh giá tổng quan về hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh trong doanh nghiệp, những chỉ tiêu này được sử dụng để đầu tư cho các
loại tài sản khác nhau là tài sản cố định và tài sản lưu động. Từ đó khi phân
tích cần xem xét từ các chỉ tiêu tổng quan đến các chỉ tiêu bộ phận.
1.2.2.1 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ:
Điểm xuất phát để tiến hành kinh doanh là phải có một lượng vốn nhất
định với nguồn tài trợ tương ứng song việc sử dụng vốn như thế nào để có
hiệu quả mới là nhân tố quyết định cho sự tăng trưởng của mỗi doanh nghiệp.
Một số chỉ tiêu được dùng để đánh giá trong phương pháp phân tích tỷ lệ:
Hiệu suất sử dụng TSCĐ:
Vũ Diệu Hương – TCDN 44C Khoa Ngân hàng – Tài chính
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồng nguyên giá tài sản cố định tham gia vào hoạt
động kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu bán hàng. Công thức
tính:
Doanh thu thuần
_Hiệu suất sử dụng TSCĐ =
NG bình quân TSCĐ cần tính KH

Mức sinh lợi VCĐ, hay mức sinh lợi tài sản cố định:
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồng vốn cố định bình quân tham gia vào hoạt

VCĐ bình quân trong kỳ
Lợi nhuận sau thuế
Hiệu quả sử dụng VCĐ =
Vốn cố định bình quân
1.2.2.2 Những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
VLĐ bình quân
Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động =
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này phản ánh để một đồng doanh thu thuần được tạo ra thì cần
bao nhiêu đồng vốn lưu động. Hệ số này tính được càng nhỏ càng tốt.
Lợi nhuận
Hệ số sinh lời VLĐ =
VLĐ bình quân
Hệ số sinh lời vốn lưu động phản ánh một đồng vốn lưu đông sử dụng
trong kỳ sinh ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Đối với vốn lưu động thì nó luôn luân chuyển dưới nhiều hình thái khác
nhau. Vì vậy, hiệu quả sử dụng vốn lưu động phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả
đem lại do sự luân chuyển của vốn lưu động. Có những chỉ tiêu đánh giá như
sau:
Doanh thu thuần
Vòng quay VLĐ =
Tài sản lưu động
Thời gian để vốn lưu động quay được một vòng mà càng ngắn thì vốn
lưu động càng quay được nhiều vòng hơn. thời gian vốn lưu động luân
chuyển cũng phản ánh mức hiệu quả đạt được trong công tác quản lý và sử
dụng vốn lưu động. Chỉ tiêu này được phản ánh qua công thức:
Vũ Diệu Hương – TCDN 44C Khoa Ngân hàng – Tài chính
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Thời gian của một kỳ phân tích

Vốn bằng tiền
Hệ số thanh toán nợ tức thời =
Tổng nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng thanh toán nợ trong thời gian ngắn của
doanh nghiệp. Con số 0.5 có ý nghĩa: nếu hệ số này lớn hơn 0.5 thì khả năng
thanh toán là tương đối khả quan. Còn nếu như nhỏ hơn 0.5 thì doanh nghiệp
đang gặp khó khăn trong thanh toán. Một hệ số như vậy nếu tính ra quá lớn
cũng không tốt cho doanh nghiệp, nó cho thấy tại thời điểm trả nợ vốn bằng
tiền mặt bị ứ đọng lớn, như vậy vòng quay của vốn bằng tiền chậm lại làm
giảm hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Hệ số khả năng thanh toán nhanh:
TSLĐ trước khi mang đi thanh toán cho chủ nợ phải được chuyển đổi
thành tiền. Trong TSLĐ hiện có thì vật tư, hàng hoá chưa có thể chuyển đổi
ngay thành tiền được và do đó khả năng thanh toán kém nhất. Vì thế hệ số
khả năng thanh toán nhanh là một chỉ tiêu đánh giá chặt chẽ hơn khả năng
thanh toán của đơn vị. Đó là thước đo khả năng trả nợ ngay, không dựa vào
bán các loại vật tư, hàng hoá tồn kho.
Hệ số khả năng thanh toán nhanh đước xác định bằng mối quan hệ giữa
TSLĐ - Hàng tồn kho với tổng số nợ ngắn hạn, công thức:
Tổng TSLĐ - Hàng tồn kho
Hệ số khả năng thanh toán nhanh =
Tổng nợ ngắn hạn
Ở đây hàng tồn kho bị loại trừ ra vì được coi là tài sản không dễ dàng
chuyển đổi nhanh thành tiền và cũng thấy rằng tài sản dùng để thanh toán
nhanh còn được xác định là: tiền cộng với tiền tương đương. Tiền tương
đương là các khoản có thể chuyển đổi thành một lượng tiền biết trước
(thương phiếu, các loại chứng khoán ngắn hạn...)
Tổng giá trị các KPT
Vòng quay khoản phải thu =
Bình quân các KPT

Tỷ suất LN VKD =
VKD bình quân
Vũ Diệu Hương – TCDN 44C Khoa Ngân hàng – Tài chính
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận VKD phản ánh một đồng VKD sử dụng trong
kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này cho phép đánh giá tương đối
chính xác khả năng sinh lời của tổng vốn.
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu:
Lợi nhuận hoạt động kinh doanh
_- Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu =
Vốn chủ sở hữu bình quân
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu cho thấy mỗi đồng vốn chủ sở hữu
sử dụng trong kỳ có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu:
Lợi nhuận hoạt động kinh doanh
_- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu =
Doanh thu thuần
Đây là chỉ tiêu phản ánh mỗi đồng doanh thu thuần mà doanh nghiệp thu
được trong kỳ có bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Tỷ suất lợi nhuận trên giá thành toàn bộ:
Lợi nhuận hoạt động kinh doanh
_Tỷ suất lợi nhuận trên giá thành toàn bộ =
Giá thành toàn bộ của SP tiêu thụ
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên giá thành toàn bộ cho thấy mỗi đồng giá thành
toàn bộ bỏ ra trong kỳ có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Trên đây là một số chỉ tiêu thường được sử dụng để làm căn cứ cho việc đánh
giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Đánh giá tình hình sử
dụng VKD của doanh nghiệp tốt hay chưa tốt, ngoài việc so sánh các chỉ tiêu
này với các chỉ tiêu kỳ trước, các chỉ tiêu thực hiện so với kế hoạch nhằm

quả. Ngược lại, nếu doanh nghiệp sử dụng vốn lãng phí chẳng hạn như mua
các loại vật tư không đúng tiêu chuẩn kỹ thuật, kém phẩm chất hay không huy
động cao độ TSCĐ vào SXKD sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn.
Trình độ quản lý của doanh nghiệp: Nếu trình độ quản lý yếu kém có thể dẫn
đến tình trạng vốn bị ứ đọng, vật tư, hàng hoá chậm luân chuyển, hoạt động
kinh doanh thua lỗ kéo dài, vốn bị thâm hụt sau mỗi chu kỳ sản xuất.
Vũ Diệu Hương – TCDN 44C Khoa Ngân hàng – Tài chính
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trên đây là một số nhân tố chủ yếu ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hiệu
quả sử dụng VKD của doanh nghiệp. Ngoài các nhân tố đó, còn có thể có rất
nhiều nhân tố khác tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của mỗi doanh nghiệp.
Doanh nghiệp cần xem xét thận trọng từng nhân tố để từ đó đưa ra những giải
pháp thích hợp nhằm phát huy những nhân tố ảnh hưởng tích cực, hạn chế
đến mức thấp nhất những nhân tố ảnh hưởng tiêu cực nhằm từng bước nâng
cao hiệu quả sử dụng VKD
Các nhân tố trên có thể được trình bày cụ thể dưới đây:
1.2.3.1 Đặc điểm kỹ thuật sản xuất.
Đây là đặc điểm quan trọng tác động đến chiến lược đầu tư máy móc
của doanh nghiệp. Ngành nghề có kỹ thuật sản xuất đơn giản, thì máy móc
cũng đơn giản hơn các ngành có kỹ thuất phức tạp, và vì vậy nguồn vốn đầu
tư cũng thấp hơn, nhưng cũng dễ bị cạnh tranh hơn vì ưu điểm này. Đối với
những doanh nghiệp trong ngành này, lợi nhuận thu được dễ nhưng vốn lại
không kéo dài lâu được. Ngược lại, những ngành có kỹ thuật sản xuất phức
tạp đòi hỏi vốn lớn để trang bị những máy móc thiết bị hiện đại nhưng hiệu
quả lâu dài, và do đó nếu doanh nghiệp có điều kiện trang bị được những máy
móc hiện đại cùng đội ngũ nhân công tay nghề cao chắc chắn sẽ có sức cạnh
tranh tốt trên thị trường.
1.2.3.2 Chu kỳ sản xuất.
Yếu tố này gắn liền với thời gian sử dụng vốn do vậy ảnh hưởng trực

vì doanh nghiệp có vốn, có thị trường mà lại không có những con người biết tổ
chức triển khai hiệu quả lượng vốn này thì cũng không mang lại điều gì.
Đối với người quản lý: người quản lý điều hành việc sử dụng vốn, kết
hợp các yếu tố sản xuất, các nguồn lực một cách có hiệu quả để giảm chi phí,
tăng hiệu quả sử dụng vốn, họ cũng là người tìm kiếm, khai thác những thị
trừơng mới, thị trường tiềm năng cho doanh nghiệp.
Còn người lao động là người sử dụng máy móc công nghệ, nếu có tay
nghề cao, có thể khai thác tối đa công dụng của máy móc, làm việc với năng
suất cao, mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp.
Vũ Diệu Hương – TCDN 44C Khoa Ngân hàng – Tài chính
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Vì vậy doanh nghiệp cần phải luôn luôn quan tâm đến chiến lược nhân
sự, tìm ra những người phù hợp nhất với từng vị trí công việc.
1.2.3.6 Trình độ quản lý và sử dụng các nguồn vốn
Yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng nguồn vốn của
doanh nghiệp. Công tác kế toán là công cụ quan trọng giúp các lãnh đạo nắm
bắt tình hình tài chính của doanh nghiệp và việc sử dụng vốn ra sao. Công tác
kế toán cũng gắn liền với hình thức tổ chức sản xuất của doanh nghiệp, vì vậy
qua công tác kế toán, có thể xem xét và tìm ra nhược điểm và sửa chữa kịp
thời.
1.2.3.7 Khả năng tổ chức sản xuất kinh doanh.
Nếu tổ chức tốt quá trình sản xuất kinh doanh cũng sẽ tạo nên hiệu quả
sử dụng vốn cao. Quá trình sản xuất kinh doanh luôn trải qua các giai đoạn là
cung ứng, sản xuất và tiêu thụ. Vì vậy ở mỗi khâu cần bố trí thực hiện thật tốt.
Quá trình cung ứng chuẩn bị các yếu tố đầu vào cho sản xuất như
nguyên vật liệu và lao động, bao gồm hoạt động mua và dự trữ. Do đó cần xác
định được một lượng phù hợp của từng nguyên nhiên vật liệu cũng như lao
động để tránh lãng phí. Để đảm bảo cho quá trình sản xuất, thì đầu vào phải
đảm bảo chất lượng cũng như giá cả hợp lý.

nhất là lợi nhuận, tăng giá trị chủ sở hữu. Mục tiêu này đảm bảo cho doanh
nghiệp có thể tồn tại và phát triển. Do đó doanh nghiệp phải kinh doanh có
hiệu quả, hay chính là việc sử dụng vốn sao cho đạt hiệu quả cao nhất. Vai trò
của vốn đã được xem xét kỹ lưỡng, và doanh nghiệp cần thiết phải nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn. Mà hiệu quả sử dụng vốn bị ảnh hưởng bởi rất nhiều
yếu tố, chính vì lẽ đó để đưa ra được giải pháp tốt cho việc nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn doanh nghiệp cần nắm bắt các nhân tố ảnh hưởng.
Trước năm 1986, ở nước ta tồn tại nền kinh tế theo cơ chế tập trung quan liêu
bao cấp, các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế chủ yếu là doanh
nghiệp Nhà nước, được trợ cấp vốn từ ngân sách Nhà nước. Mọi hoạt động
của các doanh nghiệp đều được thực hiện theo kế hoạch từ trên giao xuống,
khiến các doanh nghiệp mất thế chủ động trong sản xuất kinh doanh. Do đó,
Vũ Diệu Hương – TCDN 44C Khoa Ngân hàng – Tài chính
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chưa phát huy hết được tiềm năng. Trong hoạt đông sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp Nhà nước họ không mấy quan tâm đến việc tìm thị trường
đầu ra cho sản phẩm, nếu kinh doanh thua lỗ thì đã có Nhà nước bù. Cũng
chính vì điều này khiến cho vốn bị thất thoát, lãng phí, các doanh nghiệp
chẳng hề quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn, điều này cũng khiến cho nền
kinh tế nước ta không thể phát triển lênđược.
Nhận thấy tình trạng trên, Đảng và Nhà nước đã tiến hành cải tổ nền kinh tế,
chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị
trường có sự điều tiết của Nhà nước. Các doanh nghiệp được phép độc lập
kinh doanh và tự hạch toán. Các doanh nghiệp được chủ động trong kinh
doanh và hạch toán độc lập, do đó cũng cần phải thay đổi để thích nghi với sự
mới mẻ này. Cơ chế thị trường cùng với sự cạnh tranh gay gắt đòi hỏi doanh
nghiệp phải đầu tư đổi mới sản xuất, nắm bắt thị trường và tìm hướng đi riêng
cho chính doanh nghiệp mình. Doanh nghiệp cần biết tận dụng mọi nguồn lực
xã hội, và quan trọng hơn phải biết sử dụng nguồn vốn sao cho đạt hiệu quả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status