Tài liệu ĐỊNH NGHĨA MỚI VỀ NĂNG SUẤT - Pdf 85

ĐỊNH NGHĨA MỚI VỀ NĂNG SUẤT
T

 Quản lý sản xuất là gì?

Định nghĩa truyền thống về năng suất
 Các định nghĩa thích ứng

Một cách nhìn mới về năng suất

Các sản phẩm bao gồm dịch vụ
 Bán hàng và làm thỏa mãn
 Sự thỏa mãn của khách hàng trên phương diện sản xuất

Vai trò của quản lý tổng hợp
 Giá trị tương đối của nguồn lực

Đo lường năng suất

Vai trò mới của quản lý sản xuất là tạo ra một thế mạnh cạnh tranh bền vững.
Vấn đề là nó được tạo ra bằng cách nào? Điểm lại vai trò truyền thống của sản xuất
sẽ là cách tốt nhất để có thể mô tả điều cần thay đổi và nguyên nhân của những
thay đổi về môi trường. Không chỉ đơn thuần là quản lý sản xuất cần thích nghi với
những thay đổi về môi trường. Những định nghĩa mà dựa vào đó môn học được hình
thành cũng cần được xem xét lại, hơn nữa còn cần chú trọng nghiên cứu kỹ hơn về
mục tiêu chiến lược của toàn doanh nghiệp. Như vậy, rõ ràng xác định được thứ tự
ưu tiên và đo lường chính xác việc vận dụng những khái niệm về năng suất là bước
khởi đầu trong việc quản lý sản xuất trong tương lai.
Quản lý sản xuất là gì?
Nhân tố then chốt của quản lý sản xuất là năng suất. Sản xuất là một bước
trong mục tiêu của công ty là tạo ra giá trị cho khách hàng - đó cũng là giá trị được

------

(Lao động trực tiếp+Thiết bị +Nguyên liệu+Hệ
thống)

• Lao động trực tiếp: Số lượng giờ lao động trực tiếp phân bổ cho quá trình biến
đổi.

Thiết bị: Thể hiện giá trị những khoản đầu tư vào nhà xưởng, máy móc hoặc
hệ thống thông tin.

Nguyên liệu: Vật tư, nguyên liệu, phụ kiện, bán thành phẩm tham gia vào
quá trình biến đổi.

Hệ thống: Hệ thống giúp quản lý sản xuất hoạt động được.
Loại nguồn lực cuối cùng, bao quát một phạm vi khá rộng, gồm bảo dưỡng, qui
trình công nghệ, quản lý nhân lực sản xuất, giám sát, các hệ thống kiểm tra cũng
như các loại hoạt động của lao động gián tiếp khác, cần thiết để duy trì quá trình sản
xuất diễn ra một cách suôn sẻ.
Định nghĩa này ngày nay đang được sử dụng một cách rộng rãi. Tuy nhiên,
chương này lại đưa ra lập luận cho rằng định nghĩa này đã lỗi thời, mặc dù các tổ
chức quốc tế như Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đánh giá năng suất
của họ thông qua công cụ đo lường này. Một số đánh giá về năng suất, thậm chí còn
dựa trên những định nghĩa hẹp hơn, ví dụ như về tổng số nhân công trực tiếp. Tài
liệu có ý định chỉ ra rằng định nghĩa trên đã không còn thích hợp với quá trình quản
lý sản xuất nữa. Tuy vậy, người đọc cũng cần nhớ rằng rất nhiều kết quả so sánh
quốc tế vẫn dựa trên định nghĩa cũ này.
Các định nghĩa thích ứng
Đối với quản lý sản xuất hiện đại, việc giới hạn quan niệm về sản phẩm chỉ ở
sản lượng không tồn tại nữa. Nếu nói rằng sản xuất hàng tấn thép hay hàng nghìn lít

Năng lượng
Nhân công trực tiếp
Thiết bị và chi phí quản lý
55,3 %
4,8 %
16,6 %
23,4 %
53,4 %
4,8 %
13,2 %
28,5 %
59,5 %
4,0 %
16,3 %
20,5 %
Nguồn: J.G Miller, A De Mayer và J. Nakane, Global Benchmarking in
Manufacturing. Homewood, IL.: Business One Irwin, 1992.
Một cách nhìn mới về năng suất
Một định nghĩa thích hợp hơn về năng suất sẽ hướng sự tập trung từ máy móc
sang một biến số quan trọng hơn nhiều: Đó là khách hàng (xem bảng 2.3). Mục đích
của quá trình sản xuất là tạo ra những giá trị cho khách hàng, do đó, yếu tố này cần
phải được xem xét trong định nghĩa về năng suất. Định nghĩa này cũng cần thiết
phản ánh những sự phát triển khác, ví dụ như sự chuyển đổi tương đối giữa cơ cấu
các nguồn lực khác nhau và sự xuất hiện của các loại nguồn lực mới.
Tất cả những điều đó đưa đến một định nghĩa sau đây về sản lượng đầu ra:
Sản lượng đầu ra là các sản phẩm và/hoặc dịch vụ làm thỏa mãn khách hàng. Và
đầu vào sẽ được định nghĩa và các nguồn lực được phân bổ một cách khôn ngoan.
Các sản phẩm bao gồm dịch vụ
Định nghĩa đầu ra nêu trên đưa ra một cách rõ ràng những thách thức đối với
các nhà quản lý sản xuất. Mọi từ trong đó đều rất quan trọng.

Bán hàng và làm thỏa mãn
Định nghĩa về năng suất nhấn mạnh một thực tế rằng một sản phẩm cần phải

thỏa mãn
khách hàng. Điều đó mang nhiều ý nghĩa hơn chỉ đơn giản là bán hàng.
Bán một cái gì đó thì tương đối dễ. Một người bán hàng thạo việc hầu như có thể bán
mọi thứ. Thách thức là ở chỗ bán hàng sao cho khách hàng quay trở lại và đề nghị
bạn bán cho họ một sản phẩm khác. Đó chính là điều quá trình sản xuất cần phải sự
tập trung nỗ lực của nó.
Một sản phẩm chỉ được xem như có đóng góp vào năng suất sau khi nó đã thỏa
mãn một khách hàng. Rất nhiều khi chúng ta đo lường năng suất ngay tại cổng nhà
máy. Năng suất mà đo lường bằng các kiện hàng ngoài cổng nhà máy khuyến khích
người ta sản xuất ra nhiều kiện hàng hơn. Nhưng nó cũng có thể khuyến khích người
ta sản xuất những kiện hàng mà không ai muốn.
Một công ty máy tính lớn của Mỹ đã có khó khăn khi đưa các sản phẩm (tổ hợp
cả phần cứng và phần mềm) đến với khách hàng của nó đúng thời gian. Một trong số
những chỉ số đo lường về năng suất chủ yếu của họ, vì phân phối sản phẩm đến tay
khách hàng muộn, đã liên tục phát các tín hiệu báo động. Một nỗ lực quản lý nhằm
chỉnh đốn đã sớm giải quyết một số khúc mắc trong các kênh phân phối. Mặc dù một
số phần trong các kênh phân phối vẫn còn chưa đúng thời gian, số lượng trung bình
của các đợt phân phối bị chậm đã giảm xuống dưới mức qui định. Do đó, thậm chí có
rất nhiều đơn đặt hàng vẫn đến với công ty.
Đo lường năng suất tại cổng nhà máy là một sự tiến bộ đáng kể. Chỉ có một
vấn đề tồn tại là đối với khách hàng là một đợt phân phối sản phẩm sớm cũng làm
phiền họ như một đợt bị muộn vậy. Một số đơn đặt hàng được phân phối sớm hoặc
muộn tăng lên trong khi không bao giờ đúng hạn cả. Về phương diện sự thỏa mãn
của khách hàng, kết quả hoạt động như thế đã thực sự là một sự suy giảm.
Chỉ khi chúng ta đo lường sản lượng (và qua đó đo lường năng suất) từ quan
điểm của khách hàng thì chúng ta mới có thể tính toán được một cách thực tế.
Sự thỏa mãn của khách hàng trên phương diện sản xuất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status