Tài liệu Internet và intranet - Pdf 85


1
Chương I Giới thiệu Internet và Intranet ......................................................................... 3

1.1. Kiến trúc logic mạng máy tính ........................................................................................ 3
1.1.1. Khái niệm cơ bản về kiến trúc máy tính ................................................................... 3
1.1.2. Kiến trúc Peer-to-Peer và các hệ thống tính toán .................................................... 4
1.1.3 Kiến trúc khách/chủ cổ điển ...................................................................................... 5
1.1.4. Kiến trúc khách chủ dựa Web ................................................................................ 10
1.2. Nền tảng của các Công nghệ mạng ............................................................................... 12
1.2.1. Sự tương tác với Webserver ................................................................................... 12
1.2.2. Xử lý thông tin phân tán trên nền tảng cả các chương trình dễ biến đổi ................ 15
1.2.3. Truy xuất tới cơ sở dữ liệu quản hệ ........................................................................ 23
Chương II Ngôn ngữ HTML ......................................................................................... 27

2.1 Khái niệm về ngôn ngữ HTML ...................................................................................... 27
2.2 Lập trình Web với ngôn ngữ HTML .............................................................................. 27
2.2.1 Các thành phần cơ bản của html .............................................................................. 27
2.2.2 Cấu trúc tệp HTML ................................................................................................. 28
2.3 Các tag cơ bản trong HTML ........................................................................................... 28
2.3.1. Thẻ giải thích .......................................................................................................... 28
2.3.2 Các thẻ định dạng văn bản ....................................................................................... 28
2.3.4 Một số kí tự đặc biệt trong HTML .......................................................................... 31
2.3.5 Các tag dùng thiết kế bảng ...................................................................................... 32
2.3.6 Các tag tạo Frame .................................................................................................... 33
2.3.7 Các tag dùng tạo Form ............................................................................................ 33
Chương III Cascading style sheets ................................................................................ 35

2.1 Căn bản về CSS (Cascading style sheets) ...................................................................... 35
2.2 Cú pháp CSS ................................................................................................................... 35
2.2.1 Phần tử chọn – Seclector ......................................................................................... 35

5.3.2. Lệnh lặp xác định ................................................................................................... 92
5.3.3. Vòng lặp không xác định ........................................................................................ 93
5.4 Hàm và thủ tục ................................................................................................................ 95
5.4.1. Hàm ........................................................................................................................ 95
5.4.2. Thủ tục .................................................................................................................... 95
5.4.3. Ví dụ sử dụng hàm và thủ tục (Giaỉ phương trình bậc 2 một ẩn số) ...................... 95
5.4.2. MỘT SỐ HÀM THƯỜNG DÙNG TRONG VBSCRIPT ..................................... 96
5.4.3. ĐOẠN MÃ DÙNG CHUNG ................................................................................. 98
5.5. Tệp cấu hình GLOBAL.ASA ........................................................................................ 99
5.5.1. Các sự kiện ............................................................................................................. 99
5.5.2. Khai báo đối tượng ................................................................................................. 99
5.5.3. Một file cấu hình Global.asa đơn giản ................................................................. 100
5.5.2. TẬP HỢP (COLLECTION) TRONG ASP .......................................................... 100
5.5.2.1. Khái niệm .......................................................................................................... 100
5.5.2.2. Cách truy cập các phần tử trong tập hợp ........................................................... 101
5.6. Xử lý các FORM dữ liệu ........................................................................................... 102
5.6.1. Mở đầu .................................................................................................................. 102
5.6.2. Sử dụng phương thức GET ................................................................................... 102
5.6.3. Sử dụng phương thức POST ................................................................................. 103
5.7. Các đối tượng cài sẵn trong ASP ................................................................................. 105
5.7.1. Các đối tượng ASP ............................................................................................... 105
5.7.2. Đối tượng REQUEST ........................................................................................... 105
5.7.3. Đối tượng RESPONSE ......................................................................................... 108
5.7.4. Đối tượng APPLICATION ................................................................................... 109
5.7.5. ĐỐI TƯỢNG SESSION ....................................................................................... 111
5.7.6. ĐỐI TƯỢNG SERVER........................................................................................ 113
5.8. COOKIES .................................................................................................................... 116
5.8.1. Khái niệm COOKIES ........................................................................................... 116
5.8.2. Thiết lập COOKIES ............................................................................................. 116
5.8.3. Lấy giá trị của COOKIES ..................................................................................... 116

Để có thể phân tich chi tiết về kiến trúc vật lý, cần phải xem xét tại tất cả các mứ
c, tương ứng
với tầng vật lý, liên kết dữ liệu, mạng, giao vận và phiên của mô hình phân lớp chuẩn.

Hình. 1.1: Mối quan hệ giữa lớp OSI và kiểu kiến trúc mạng

4
Kiến trúc logic miêu tả cấu trúc, nhiệm vụ và mối quan hệ của phần mềm thực thi các giao
thức ở tầng trên, đặc biệt các giao thức ở tầng trình diễn và tầng ứng dụng. Kiến trúc này
mang lại công nghệ tích hợp và hợp nhất của mạng máy tính và có thể xây dựng các mức trừu
tượng khác nhau của kiến trúc vật lý.
Hiện nay, có một vài loại kiến trúc mạng logic như sau:

Kiến trúc ngang hàng

Kiến trúc khách/chủ cổ điển

Kiến trúc khách chủ dựa vào Web
Sự xuất hiện của các mô hình đều liên quan đến các giai đoạn khác nhau của sự phát triển hệ
thống mạng máy tính. Sự lựa chọn chính xác mô hình cho kiến trúc logic của mạng máy tính
cho phép nhà thiết kế mạng đáp ứng những yêu cầu về tình hiệu quả, độ tin cậy bảo vệ những
nguồn tài nguyên mạng, sự uyển chuyển thiết lập mạng và hơn nữa
đó là chi phí nhỏ nhất cho
việc xây dựng và quản trị.
1.1.2. Kiến trúc Peer-to-Peer và các hệ thống tính toán
Bước đầu tiên trong sự tiến triển các hệ thống tính toán xuất hiện từ năm 1940 đến 1970,và
trong thực tế, nó đã quay trở lại ngay sau khi chiếc máy tính đầu tiên được phát minh ra.
Theo nguyên tắc, mỗi một hệ thống tính toán tại thời điểm này đều dựa vào việc sử dụng chia
sẻ của máy tính đa người dùng, khi mà máy tính chưa xuất hiện. Kiến trúc của những hệ
thống tính toán này, vận hành trong chế

dẫn tới sự tập trung nguồn tài nguyên, vì điều đó mang lại sự dễ dàng để bảo vệ rất nhiều đối
tượng nếu những đối tượng này được xác định ở một nơi hơn là chúng được phân bố ở những
vị trí khác nhau
Mặc dù có nhi
ều thuận lợi, những hệ thống tính toán đầu tiên có số điều hạn chế như thiếu sự
uyển chuyển hệ thống, không thuận lợi sử dụng đối với người sử dụng cuối và chi phí cao.
Khi sử dụng những hệ thống tính toán với kiến trúc tập trung bắt đầu mất dần đi tầm quan
trọng, mạng ngang hàng trở nên phổ biến hơn, b
ởi vì chi phí của các mạng này khá thấp. Tuy
nhiên, các mạng ngang hàng hiện nay kết nối các PC hơn nhưng máy tính đa người dùng. Vì
vậy, một thuộc tính chính của mạng ngang hàng đó là thiếu vắng các máy tính tập trung cung
cấp nguồn tài nguyên của chính nó cho việc sử dụng chung.
Những nhược điểm quan trọng của những mạng ngang hàng đó là sự thực thị, bảo mật và sự
an toàn ở mức thức của chúng, cũng như s
ự phức tạp trong quản trị. Thêm vào đó, những
nhược điểm này tăng lên khi số lượng các máy tính trong mạng tăng. Vì vậy, kiến trúc mạng
ngang hàng thích hợp cho việc kết nối số lượng máy tính ít với yêu cầu về sự an toàn và khả
năng xử lý dữ liệu thấp.
1.1.3 Kiến trúc khách/chủ cổ điển
Những nhược điểm của hệ thống máy tính tập trung và các mạng máy tính ngang hàng gần
đây đã được loại bỏ bởi cấu trúc của các hệ thống máy tính dựa trên kiến trúc khách/chủ. Kiến
trúc này xuất hiện từ khoảng năm 1980, đánh dấu giai đoạn 2 trong tiến trình công nghệ tính
toán. Đặc trưng của của giai đoạn này là sự phân quyền kiến trúc của hệ thống máy tính tự trị
và sự tương kết của chúng trong các mạng máy tính toàn cầu.
Kiến trúc phân quyền kết hợp với những hệ thống tính toán đầu tiên có thể là kết quả của sự
xuất hiện các máy tính cá nhân, khác với các thiết bị đầu cuối đơn, những máy tính cá nhân có
thể thực hiện rất nhiều các chức năng mà trước đây do máy tính trung tâm đảm nhiệm. Kết
quả của sự phân quyền này là có thể tạo nên các hệ th
ống máy tính toàn cầu hoặc cục bộ phân
tán bao gồm các máy tính cá nhân và các máy tính cung cấp tài nguyên của nó cho các máy

quyết một vấn đề nào đó) của ứng dụng

Các chức năng quản lý dữ liệu Data mining
Bất kì một ứng dụng phân mềm hiện nay có thể được biểu diển bởi một cấu trúc bao gồm 3
thành phần sau:

Các thành phần trình diễn, mà nó thực thi giao diện người dùng

Các thành phần ứng dụng, thực thi các chức năng ứng dụng

Các thành phần cung cấp truy cập tới các người tài nguyên thông tin, thông tin
Các mô hình của kiến trúc khách chủ dưới đây được xác định, tương ứng với các phương thức
phân phối của 3 thành phần phần mềm chính giữa các trạm làm việc và máy chủ mạng:

Chỉ có dữ liệu được lưu trữ trên máy chủ (Hình. 1.4).

7

Hình. 1.4: Mô hình truy cập đến dữ liệu từ xa

Bổ sung dữ liệu, nhà quản lý tài nguyên được xác định trên máy chủ, ví dụ một hệ
quản lý cơ sở dữ liệu (Hình. 1.5).

Hình. 1.5: Mô hình máy chủ điều khiển dữ liệu

Dữ liệu, quản lý tài nguyên, và các thành phần ứng dụng được tập trung trên máy chủ
(Hình. 1.6).

Hình. 1.6: Mô hình khách/chủ hai lớp


thống nhất, sự thao tác giữa các thành phần, và rất nhiều sự lựa chọn các công cụ phát triển
phần mềm.
Nh
ược điểm chính của mô hình điều khiển dữ liệu đó là không có danh giới rõ ràng giữa
thành phần trình diễn và thành phần ứng dụng. Điều này dẫn đến cản trở sự phát triển tiếp
theo của hệ thống tính toán có kiến trúc xây dựng dựa vào mô hình này. Hơn thế nữa, sự thay
đối một thành phần yêu cầu sự thay đổi của toàn bộ hệ thống
Toàn bộ những thuận l
ợi và bất lợi của mô hình máy chủ điều khiển dữ liệu được liệt kê ở
trên, có thể kết luận rằng dựa vào mô hình này là phù hợp nhất xây dựng những hệ thống tính
toán hướng xử lý nội dung thông tin vừa phải, mà nội dung thông tin này không tăng theo thời
gian. Vì vậy, độ phức tạp của các thành phần áp dụng ứng dụng sẽ không cao.
So với mô hình máy chủ điều khiển dữ liệ
u, mô hình khách chủ hai lớp thuận tiện hơn để điều
hành. Mô hình này đã được phát triển với giả thuyết rằng, việc thực hiện xử lý trên máy trạm
được giới hạn đối với các chức năng trình diễn, trong khi các chức năng ứng dụng và truy cập
dữ liệu được thực hiện ở phía máy chủ. Những chức năng ứng dụng có thể được thực hiện
trong các chương trình riêng rẽ hoặc trong các thủ tục lưu trữ, được biết đến như là các thủ tục
cơ sở dữ liệu. Những thủ tục này được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu và được thực hiện trên máy
chủ, nơi thành phần điều khiển truy xuất dữ liệu, tương đương nhân của DBMS cũng hoạt
động.
Ngược lại với mô hình máy chủ
điều khiển dữ liệu, lợi ích của máy chủ tích hợp rất rõ ràng:
đơn giản, hiệu quả cao, quản trị tập trung, và vì vậy giảm bớt việc sự dụng các nguồn tài
nguyên mạng. Từ những lợi ích này, có thể đi đến một kết luận đó là mô hình máy chủ tích
hợp là tối ưu cho các mạng lớn hướng về xử lý số lượng lớn thông tin, hoặc sẽ là mô hình
mong đợi trong thời gian tới.
Khi các thành phần ứng dụng ngày càng phức tạp và sử dụng nhiều nguồn tài nguyên, một
máy chủ riêng biệt (máy chủ ứng dụng) có thể được sử dụng. Chính từ nhu cấu này đem lại
mô hình ba lớp của kiến trúc khách chủ. Lớp đầu tiên chính là máy trạm, lớp thứ là máy chủ

a hệ
thống có thể được thực hiện.
Kiến trúc mạng khách/chủ, xuất hiện ở giai đoạn hai của sự tiến triển các cộng nghệ mạng
máy tính còn được gọi là kiến trúc khách/chủ cổ điển. Sau đây là một số mô tả chức năng của
mô hình này:

Máy chủ không sinh ra thông tin cuối cùng mà là dữ liệu, dữ liệu này tuy thuộc vào sự
biên dịch bởi các máy trạm

Các thành phần của hệ thống ứn dụng được phân tán trong các máy tính trên mạng.

Các giao thức riêng, không tương thích với TCP/IP, có thể được sử dụng giữa các máy
trạm và máy chủ.

Mỗi máy tính mạng được hướng thực thi các chương trình cục bộ.
Chức năng cuối cùng nảy sinh đó là bảo mật thông tin. Khi chỉ các chương trình cục bộ được
thực hiện trên máy tính, sự di chuyển các chương trình trên mạng trong suốt quá trình xử lý
các truy vấn được thực hiện bởi máy trạm đến máy chủ không xuất hiện. Khả năng thực hiện
các chương trình gây tác hại hoặc sự lây nhiễm máy tính sẽ gi
ảm đi
Về mặt lưu trữ dữ liệu và xử lý bảo mật, kiến trúc khách/chủ có số bất lợi sau:

Phân phối vật lý của các thành phần của các chương trình ứng dụng và sự hỗn loạn,
không tuân thủ qui tác của các hệ thống tính toán làm phức tạp xây dựng và quản trị
hệ thống bảo mật

Một phần bảo vệ tài nguyên thông tin lưu trên máy tính cá nhân được miêu tả bởi và
phụ thuộc tăng điểm yếu.

Việc sử dụng các giao thức riêng cho việc chuyển đổi dữ liệu giữa các máy tính yêu

văn bản, với định dạng xác định mà chỉ rõ các liên kết tới các đối tượng khác và các văn bản
Web, được xác định trên các host mạng khác nhau. Thực ra, về bản chất một văn bản Web
chứa chỉ một trang Web nhưng hợp lý nhất là nó có thể bao gồm số lượng lớn các trang, mà
các trang này thuộc về các văn bản Web khác nhau.
Một trang Web có thể chứa văn bản và hình ảnh. Không giống như văn bản giấy, trang Web
có thể là tương tác với các chương trình máy tính và có thể chứa các liên kiết đến những đối

11
tượng khác. Bất kì link nào chứa trong một trang Web được đánh dấu bởi màu và/hoặc dấu
gạch chân.
Hệ thống các siêu liên kết dành được dựa vào yếu đó đó là các vùng lựa chọn của tài liệu,
được biểu diễn bởi text, ảnh, hoạt động như các liên kết đến các đối tượng được kết nối logic
đến chúng. Vì vậy các đối tượng liên kết có thể được lưu trữ tại v
ị trí bất kì nào trên mạng
Một trang Web có thể chứa liên kết đến một số kiểu đối tượng sau:

Các phần khác của một tài liệu Web

Các tài liệu Web hoặc các tài liệu có định dạng khác (ví dụ tài liệu bảng tính, soạn
thảo), mà các tài liệu này có thể được xác định trên bất kì máy tính nào trên mạng

Các đối tượng Multimedia, bao gồm các ảnh, âm thanh và video.

Một chương trình sẽ được thực thi trên máy chủ sau kích vào liên kết

Một chương trình được truyền tới cho máy trạm bằng trình duyệt từ máy chủ và được
biên dịch và thực thi trên máy trạm

Các dịch vụ khác, bao gồm e-mail, sao chép các tệp thông qua mạng, tìm kiếm thông
tin vv..

Điều khiển tập trung không chỉ trên máy chủ mà còn cho máy trạm rất thuận lợi, vì
chúng đã được chuẩn về mặt phần mềm

Các máy trạm có thể thực thi các chương trình từ những máy tính khác trên mạng

12
Tất cả những chức năng này, loại trừ chức năng cuối cùng, trợ giúp giải quyết vấn đề bảo mật
thông tin.
Sự tập trung tất cả nguồn tài nguyên thông tin và các hệ thống ứng dụng trên máy chủ làm
đơn giản trong việc xây dựng và quản trị của hệ thống bảo mật và bảo vệ các đối tượng ở
cùng một nơi sẽ được thự
c hiện một cách dễ dàng hơn so với kiến trúc phân tán.
Việc sử dụng chuẩn mở TCP/IP cho việc trao đổi thông tin giữa các máy tính trong mạng dẫn
đến việc thống nhất các phương thức tương tác giữa các trạm làm việc và máy chủ. Điều này
không mang lại lợi ích để giải quyết vấn đề của việc cung cấp trong đổi thông tin an toàn giữa
các ứng dụng máy chủ trên các máy tính. Giải pháp cho an toàn tương tác phát triển cho từng
mính tính s
ẽ thích hợp đối với tất cả ứng dụng.
Sự thuận lợi của điều khiển tập trung của các máy trạm từ máy chủ làm giảm các lỗi không
mong đợi có thể xảy do người dùng, điều hành, và quản lý. Nhưng lỗi như vậy là một trong sự
đe dọa chính đối với àn toàn thông tin, dẫn đến sự phá hoại. Ví dụ, việc nhập dữ liệu đầ
u vào
không chính xác gây ra ngừng chạy chương trình. Những lỗi này tạo ra chỗ yếu có thể bị khai
thác.
Trong kiến trúc Intranet, giả xử các chương trình xử lý thông tin phân tán vẫn được sử dụng
từ máy chủ có thể được thực hiện trên máy trạm. Hệ thống như vậy của việc xử lý phân tán
cho phép tập trung tất cả các hệ thống ứng dụng trên máy chủ. Tuy nhiên, khả năng các
chương trình thực hiện từ máy ch
ủ trên máy trạm sinh ra nhiều sự đe dọa mới từ an toàn
thông tin (ví dụ, sự đe đọa đó là thay thế chương trình truyền từ máy chủ [1,14]. Ví vậy, khả

Trong lược đồ tương tác với các công nghệ Web, máy chủ Web hoạt động như một chương
trình máy chủ chính. Chương trình này
được chạy trên máy chủ và thực hiện xử lý các truy
vấn đến từ các trạm Web. Sự tương tác giữa các trạm Web và các máy chủ Web được thiết lập
theo tập các luật được xác định bởi giao thức truyền siêu liên kết (HTTP). Khi thực thi, máy
chủ Web điều khiển một cổng logic trên mạng, mà cổng này được gán mặc định bằng 80, và
coi như bất kì các thông báo nào gửi tới cổng này được chuyển tới máy chủ Web.
Khi nh
ận được một truy vấn từ Web client, máy chủ Web thiết lập truyền thông sử dụng
TCP/IP và trao đổi thông với Web client theo giao thức HTTP. Nếu Web client yêu cầu truy
cập thông tin được bảo vệ trên máy chủ Web, máy chủ Web có thể yêu cầu định danh người
dùng và mật khẩu. Các tài liệu Web được bảo vệ sẽ chỉ hiển thị đối với những người dùng có
các quyền truy cập thích hợp.
Các tài liệu nhận được bởi trình duyệt t
ừ máy chủ Web tương ứng với các tệp văn bản được
viết bằng ngôn ngữ đặc biệt, gọi là ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản (HTML). Ngôn ngữ này
bao gồm tập các qui định về định dạng văn bản (trong bất kì một ngôn ngữ nào) và cách hiển
thị trong của sổ của trình duyệt Web. Việc đánh dấu xác định định dạng, cũng như điều khiển
cách liên kết tới bất kì đối tượng và đồ họa sẽ được hiển thị. Cùng với ngôn ngữ đánh dấu, các
chương trình được viết bằng ngôn ngữ kịch bản JavaScript và VBSCript có thể được chèn vào
bên trong tài liệu Web và trình duyệt Web sẽ biên dịch khi nạp và hiển thị tài liệu Web.
Để truy cập tới thông tin mà máy chủ không thể xử lý trực tiếp (ví dụ: truy cập cơ sở dữ liệu),
một hệ thố
ng cổng phần mềm sẽ được sử dụng. Cổng phần mềm, nhận truy vấn từ máy chủ
Web, xử lý truy vấn, hoặc hoạt động như proxy giữa máy chủ Web và máy chủ khác (ví dụ:
máy chủ DBMS). Cổng phần mềm phát triển theo các chuẩn đặc biệt xác định các phương
thức để máy chủ có thể gọi các ứng dụng hoặc các hàm từ các thư viện liên kết động,và hơn

14
thể nữa cách thức của trao đổi thông tin với đối tượng chương trình. Giao diện cổng chung

Hình. 1.11: Sử dụng máy chủ Web như máy chủ proxy
8. Sau khi trả về thông tin yêu cầu cho máy trạm, máy chủ Web hủy bỏ kết nối.
Máy chủ Web có thể được sử dụng để giải quyết các vấn đề lớn. Điển hình, các chức năng sau
được hỗ trợ trên các máy chủ:

Hỗ trợ cơ sơ dữ liệu văn bản phân cấp, xử lý truy vấn và điều khiển truy cập tới thông
tin từ các chương trình phía client

Tiền xử lý dữ liệu trước khi trả lời một truy vấn

Tương tác với các chương trình mở rộng và các máy chủ khác, ví dụ, các cơ chế tìm
kiếm
Phần lớn các mô hình máy chủ Web như Netscape's Enterprise Server, Microsoft's Internet
Information Server bổ sung giao thức mã hóa Secure Socket Layer (SSL), duy trì sự riêng tư,
tính toàn vẹn, tính xác thực của dữ liệu truyền trên mạng. Giao thức SSL cũng được bổ sung
trong các trình duyệt Web. Chức năng này cung cấp một môi trường an toàn cho việc sử dụng
công nghệ Web trong các mạng máy tính.
1.2.2. Xử lý thông tin phân tán trên nền tảng cả các chương trình dễ biến đổi
Một trong các chức năng quan trọng của kiến trúc Intranet đó là việc xử lý thông tin phân tán
trên nền tảng của những chương trình dễ biến đổi. Chương trình hướng Web chạy trên máy
trạm không chỉ hiển thị các trang Web và thực hiện các chuyển tiếp tới các nguồn tài nguyên
khác mà nó có thể kích hoạt các chương trình trên máy chủ, thông dịch và thực thi chúng, khi
tài liệu Web được thực thi những đòi hỏi. Các chương trình này được truyền cùng với tài liệu
từ
máy chủ. Kiểu xử lý thông tin phân tán này đảm bảo ràng bộc của toàn bộ hệ thống ứng
dụng trên máy chủ
Có 3 kiểu chương trình chính có thể được kết hợp với tài liệu Web và truyền tới máy trạm để
thực thị:

Java applet được thực thi bởi công nghệ Java

tính toán với mọi độ phức tạp. Tập hợp các chuẩn thư viên có thể
được bổ sung liên tục với
các hàm mới.
Máy ảo Java, nó thực thị các chương trình Java thông qua bộ thông dịch, độc lập phần cứng
và hệ điều hành. Xử lý thông tin một cách an toàn và tin cậy được tách riêng khỏi máy ảo.
Kiến trúc máy ảo, sự trình diễn của các mục dữ liệu và hệ thống câu lệnh được xác định Bộ vi
xử lý Java ảo cung cấp môi trường đầy đủ cho việc thực thi một chương trình Java. Vì th
ế, tất
cả chương trình Java phải đáp ứng các đặc tả của bộ vi xử lý trừu tượng, bộ vi xử lý trừu
tượng xác định tập các chỉ thị độc lập máy tính của nó, kiểu dữ liệu, và các thanh ghi được xử
dụng. Nguồn của chương trình Java được dịch thành mã độc lập máy gọi là mã byte, sau được
được biên dịch bởi bộ vi xử lý trừu tượng, được thực hi
ện bởi bộ vi xử lý Java ảo
Biên dịch chương trình Java dành cho sự thực thi trên máy trạm trong môi trường của trình
duyệt gọi là applet Java hoặc đơn giản hơn là applet. Theo bản chất của applet, mọi applet đại
diện chương trình nhỏ, trong đó một vài chức năng bắt buộc sẽ được xác định. Applet được
nạp từ máy chủ thông qua mạng và được thực thi trong trình môi trường trình duyệt (Hình.
1.12). Các liên kết đến applet được xác định trong tài li
ệu Web, những applet không chứa
trong thành phần tài liệu Web. Thay vào đó, applet được lưu trữ ở tệp riêng biệt trên máy chủ.

17

Hình. 1.12: Truyền và thực thi các chương trình Java độc lập máy
Sự độc lập của mã byte Java đối với phần cứng và hệ điều hành có khả năng thực hiện được
bởi sự thực hiện chương trình của bộ vi xử lý Java ảo. Điều này dùng cho thông dịch các
applet cho từng nền tảng
Mã byte của các chương trình Java có một số chức năng sau:

Mã dễ dãng thông dịch trực tiệp mã máy cho bất kì nền tảng phần cứng nào.


Hình. 1.13: Chuẩn bị và thực thi Applet Java
Ví applet và các thành phần khác của hệ thống ứng dụng được lưu trên máy chủ, hệ thống hỗ
trợ việc quản trị một cách dễ dãng hơn. Vì thế, đảm bảo sử dụng lâu dài các chường trình cập
nhật hàng ngày.
Không chỉ các applet đại diện các chương trình luôn biến đổi có thể được viết bằng ngôn ngữ
Java – các chương trình ứng dụng cũng có thể
được viết bằng Java. Tuy nhiên để dành được
mức thực thi cao, mã nguồn của chương trình nên được biên dịch, không thành mã byte
nhưng mã độc lập với máy cho phép thực hiện trực tiếp bởi các bộ vi xử lý máy trạm.
Hiện nay, có rất nhiều công cụ phát triển cho applet và ứng dụng Java, bao gồm Microsoft
Visual J++, Symantec Cafe, Borland Jbuilder, Sun Microsystems Java Workshop, và một số
công cụ khác.
1.2.2.2 Các công nghệ dựa vào sử dụng các ngôn ngữ kịch bản
Những công nghệ cho phát triển và ứng dụng của các chương trình biến đổi dựa vào sử dụng
nhưng ngôn ngữ kịch bản xuất hiện xong xong với công nghệ Java. Sự khác biệt quan trong
giữa công nghệ kịch bản và Java chính là sự thông dịch theo dòng lệnh của chương trình kịch
bản, thực hiện biên dịch thành mã byte trước khi thực thi. (Để thực thi, các chương trình Java
di động phải được biên dịch thành mã byte.) Chức năng của b
ộ biên dịch chương trình di
động viết bằng các ngôn ngữ kịch bản được thực hiện bởi trình duyệt Web.
Bản chất của ngôn ngữ kịch bản (hay còn gọi ngôn ngữ macro) dễ dàng gở rối và phát triển
chương trình. Các ngôn ngữ kịch bản chính hiện thời dành cho viết chương trình biến đổi bao
gồm:

Ngôn ngữ kịch bản JavaScript, được phát triển bởi Netscape và Sun Microsystems, và
ngôn ngữ VBSCript của Microsoft.

Ngôn ngữ mô tả thực tế ảo (Virtual Reality Modeling Language), được phát triển bởi
Silicon Graphics.

Ràng buộc động. Các liên kết đối tượng
được kiểm tra trong xuốt quá trình thực
thi
Không thể ghi vào đĩa hoặc thực hiện các
chức năng hệ thống
Không thể ghi vào đĩa hoặc thực hiện
các chức năng hệ thống

Javascript là ngôn ngữ thông dịch, đơn giản, dựa vào các hàm hướng đối tượng. Sự dễ dàng là
nguyên nhân … Bản chất hướng đối tương của Javascript được chứng tỏ bởi khả năng của
hoạt động với các cửa sổ trình duyệt, thanh trạng thái và các đơn vị khác của giao diện trình
duyệt và các đối tượng mạng trong hệ đẳng cấp. Javascript không phải phong phú như ngôn
ngữ Java, nhưng nó thuận lợi hơ
n, hiệu quả hơn cho một số các tác vụ liên quan đến xử lý các
tài liệu Web và cho sự tương tác với người dùng khi hiển thị các tác vụ đó. Đây là ngôn ngữ
với số lượng lớn về cậu lệnh và chức năng được xây dựng sẵn. Các chương trình được viets
bằng Javascript có thể cung cấp các hộp đối thoại, thực hiện các phép toán học, chơi được các
tệp video, audio, tạo ra các tài liệu, xử lý các
đối tượng button trong form và rất nhiều đối
tượng khác. Cùng với sự trợ giúp của JavaScript, có thể thiết lập các thuộc tính va đặc tính
của nhưng thư viên nhị phân Java, và hơn thể nữa là các mô dun chương trình được bổ sung
vào trong trình duyệt
Các câu lệnh JavaScript được viết trực tiếp trong trang Web, và được thực hiện bởi trình
duyệt trong khi trang này được nạp, hoặc trong khi các thao tác mà người dùng thực hiện
tương tác với trang Web (ví dụ, khi click vào các đối tượng bằ
ng chuột, vị trí của con trỏ
chuột tại vị trí liên kết, hoặc nhập dữ liệu trong các trường của mẫu HTML). Cũng như bất kì
công nghệ hay ngôn ngữ nào được sử dụng trong mạng máy tính, xử lý thông tin an toàn là
yêu tiên hàng đầu. Mặc dù Javascript không được xem là ngôn ngữ có tính bảo mật cao, nó
đáp ứng được phần lớn các yêu cầu này. Một vài chức năng dẫn đến việc dễ bị tấn công

VRML riêng và được gọi bởi liên kết từ văn bản Web khi đó nó được xem trong trình duyệt.
Kích vào liên kết như vậy dẫn tới mở của sổ riêng, cho phép người dùng thưởng thức chương
trình.
1.2.2.3 Công nghệ ActiveX
ActiveX là tập hợp các công nghệ của Microsoft tập trung vào việc bổ sung, tích hợp và thống
nhất các phương thức biểu diễn và xử lý thông tin hiện thời trong mạng máy tính. Công nghệ
này được xây dựng sẵn phù hợp với kiến trúc Web. Ý tưởng của các công nghệ ActiveX nằm
ở cách thức giống nhau của việc truy cập tới tất cả các nguồn tài nguyên thông tin (hình 1.14).
Công nghệ Web được lựa chọn như là nền tảng cho cách thức đồng nhấ
t của việc truy cập.

Hình. 1.14: Truy cập đồng bộ đến các nguồn tài nguyên thông tin mạng

21
Theo triết lý ActiveX, trình duyệt Web sẽ trở thành một phần không thể thiếu của hệ điều
hành. Hơn thế nữa, các phương thức để dành được truy cập đến bất kì thông tin trên máy tính
của người dùng, trên máy chủ của mạng cục bộ hoặc trên Internet sẽ là giống nhau, trong suốt
đối với người dùng. Khái niệm này được thực hiện trong phiên bản trình duyệt Internet
Explorer 4.0
Về mặt phát triển các chương trình hay biến
động, một mặt tập các công nghệ ActiveX là sự
lựa chọn thay thế công nghệ Java và JavaScript, mặt khác nó là phần bổ sung thiết yếu cho
các công nghệ Java và Javascript. ActiveX không những cung cấp sự phát triển và thực thi
của các chương trình di động, mà còn thực hiện nhiều khả năng bổ sung như gọi các hàm để
xem và sửa Word, Excel, PowerPoint từ môi trường Web. ActiveX tạo ra tập hợp các hàm
API ( Application programming Interface - thực hiện cả phía trạm và chủ) có hiệu lực với các
nhà lậ
p trình và tác giả của tài liệu Web.
ActiveX hỗ trở các kiểu chương trình di động sau, mà có thể được gắn vào tài liệu Web và
truyền đến máy trạm để thực thi (hình 1.1.5)

Các đơn vị nạp của ActiveX Controls giữ nguyên trên hệ thống máy trạm, ngược lại,
nó được nạp mồi khi Java applet được yêu cầu.

Khi các chương trình ActiveX Controls không làm theo cách thức tương tư như Java
applets dưới điều khiển của việc quản lý bảo mật, các chương trình có thể dành được
truy cập tới đĩa và thực hiện các chức năng khác cho các ứng dụng
Vì các chương trình ActiveX Control là các ứng dựng đã được lập trình, các ứng dụng này có
thể được phát triển và có thể thực hiện các thao tác cùng với sự trợ giúp của bất kì ngôn ngữ
lập trình nào. Vì mụ
c đích này, các công cụ phát triển như Visual C++, Visual Basic, Delphi,
Visual J ++ và một số ngôn ngữ khác có thể được sử dụng. Microsoft đã phát triển một gói
công cụ được gọi là Microsoft ActiveX Developent Kit (MADK)
Các thành phần ActiveX, cũng như các chương trình được viết bằng ngôn ngữ Javascript và
VBScript có thể gọi các hàm API AcitveX để biểu diện số dịch vụ như sau:

Tạo ra tính hiệu qua đa phương tiện chất lượng cao

Mở và xủa đổi các tài liệu điện tử, bằng việc gọi các ứng dụng hỗ trợ chuẩn nhúng và
liên kết đối tượng (OLE- Object linking, and embedding)

Truy xuất tới hệ điều hành để tối ưu các tham số thực thi của chương trình dành được
từ máy chủ
Những chương trình được viết bằng JavaScript và VBScript có thể tự động tương tác giữa
nhiều đối tượng, bao gồm Java applets, thành phần ActiveX và các chương trình khác trên
máy trạm, cho phép các đối tượng làm việc với nhau như là một phần của sự tích hợp, không
gian Web động. Có thể tạo ra ngôn ngữ macro tùy biết, và bổ
sung bộ thông dịch vào trình
duyệt IE, cùng với sự trợ giúp của thư viện liên kết động (DLL).
So sánh với Java, công nghệ ActiveX có những điểm lợi và bất lợi. Điểm bất lợi chính là mức
bảo mất thấp về mặt xử lý thông tin phân tán. Các thành phần ActiveX nạp trong máy trạm có

1.2.3. Truy xuất tới cơ sở dữ liệu quản hệ
Trong kiến trúc khách/chủ dựa vào công nghệ Web, máy chủ Web đóng vai trò như trung tâm
thông tin, cung cấp thông tin từ nhiều nguồn mà sau đó, nó sẽ đệ trình tới người dùng theo
một cách thống nhất, với sự trợ giúp của trình duyệt. Sự tích hợp ngay thông tin không đồng
nhất được thực hiện trong thời gian mường tượng và biên dịch các tài liệu Web. Các thủ tục
này được thực hiện bởi trình duyệt trong thời gian tương tác với máy chủ Web, cũng nh
ư với
máy chủ khác cho việc đề trình các nguồn tài nguyên thông tin.
Sự tương tác của trình duyệt với máy chủ của hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu (DBMS server)
có thể được thiết lập trong 2 cách sau:

Truy cập đến máy chủ DBMS thông quá máy chủ Web

Truy cập trực tiếp tới máy chủ DBMS
1.2.3.1 Truy xuất tới máy chủ DBMS thông qua máy chủ Web
Để trình duyệt có thể truy cập tới máy chủ DBMS thông qua máy chủ Web, hệ thống các cổng
chương trình được sử dụng (Hình. 1.16). Các cổng chương trình nhận truy vấn từ máy chủ
Web, hoạt động như máy chủ ủy quyền giữa máy chủ Web và máy chủ DBMS. Các cổng
chương trình đã được phát triển dựa vào các chuẩn đặc biết xác định cách thức gọi các ứng
dụng hoặc các hàm DLL bởi máy chủ Web, hơn nữa xác đị
nh cách thức trao đổi thông tin với
các đố tượng chương trình này. Một trong chuẩn phổ biến nhất của kiểu này đó là Common
Gateway Interface (CGI), FastCGI 24

Hình. 1.16: Truy xuất đến DBMS thông qua chương trình CGI
1.2.3.2 Giao diện CGI
Một chương trình CGI thích hợp phục vụ như một cổng chương trình giữa máy chủ Web và

u này không cần thiết để sử dụng các ngôn ngữ phức tạp như C++.

25
Chương trình CGI có thể được viết bằng ngôn ngữ phổ biến như Perl. Yêu cầu chính đó là
tuân thủ theo quy đinh chuẩn CGI.
Một trong nhược điểm của chuẩn CGI đó là khả năng xử lý truy vấn quá chậm trong khi sự
đòi hỏi ngày càng lớn. Mỗi lần chương trình CGI được gọi, nó phải được nạp vào đĩa (tương
đương với một lần chạy mới) và điều này làm
ảnh hưởng tới khả năng thực thi của chúng. Sau
khi chương trình kết thúc, nó sẽ giải phóng các nguồn tài nguyên nó đã sử dụng trước đó.
1.2.3.3 Giao diện FastCGI và API
Để tránh gặp phải các vấn đề liên quan tới tốc độ của CGI, rất nhiều nhà cung cấp máy chủ
Web đã bổ sung thêm các API thích hợp. Hãng Microsot phát triển giao diện ISAPI (Internet
Server API), còn hãng Netscape đưa ra giao diện NSAPI (Netscape Server API)
Những giao diện này được tích hợp vào trong máy chủ Web, cho phép người dùng theo dõi,
quản lý truy cập đối với dữ liệu và tiến trình được sử dụng liên tục. Những chương trình có
giao diện ISAPI được biên dịch trong tệp DU. Các tệp này được nạp trong bộ nhớ trong lúc
gọi các tệp này lần đầu tiên và sẽ không cần thiết sinh ra một tiến trình mới cho lần gọi tiếp
theo của những chương trình này. Các hàm giao diện NSAPI được nạp trong khoảng trống
tiến trình của máy chủ. Do vậy, vào lúc gọi tới các hàm này, không có tiến trình nào được
sinh ra. Do là giao diện API, chương trình sử dụng nó có thể loại bỏ tiến trình mở kết nối tới
DBMS, vì vậy truy vấn tiếp theo tới cơ sở dữ li
ệu không phải mất thời gian chờ đợi để mở và
đóng một kết nối
Tuy nhiên, sử dụng các giao diện API của các máy chủ Web rất ít điểm lợi. Phần lớn các ứng
dụng không thể chuyển từ một API này sang API khác, và hiếm khả năng chuyển các ứng
dụng tới các nền tảng khác. Hơn thế nữa, phần lớn các ứng dụng máy chủ Web vẫn được phát
triể
n cho giao diện CGI, vì vậy việc chuyển sang các ứng dụng dựa vào API là một quyết định
đứng đắn về phương diện tài chính. Để giải quyết vấn đề CGI, có thể sử dụng đặc tả FastCGI.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status