I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẮC NINH:
Theo điều tra dân số 01/04/2009, Bắc Ninh có 1.024.151 ngườI.
Bắc Ninh là một tỉnh Việt Nam thuộc khu vực phía bắc của vùng đồng bằng
sông Hồng và tiếp giáp với vùng trung du Bắc bộ tại tỉnh Bắc Giang. Bắc Ninh là
cửa ngõ phía đông bắc của thủ đô, cách trung tâm Hà Nội 31 km về phía Đông
Bắc. Phía Tây và Tây Nam giáp thủ đô Hà Nội, phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía
Đông và Đông Nam giáp tỉnh Hải Dương, phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên. Bắc
Ninh bao gồm 01 thành phố, 1 thị xã và 06 huyện
Địa hình của tỉnh này tương đối phẳng, có hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuống
Nam và từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy bề mặt đổ về sông
Đuống và sông Thái Bình. Vùng đồng bằng thường có độ cao phổ biến từ 3-7 m,
địa hình trung du (hai huyện Quế Võ và Tiên Du) có độ cao phổ biến 300-400 m.
Diện tích đồi núi chiếm tỷ lệ nhỏ (0,53%) so với tổng diện tích, chủ yếu ở hai
huyện Quế Võ và Tiên Du. Bắc Ninh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa,
chia làm 4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông). Có sự chênh lệch rõ ràng về nhiệt độ
giữa mùa hè và mùa đông. Sự chênh lệch đạt 15-16 °C.
Bắc Ninh là "Vùng đất Văn hiến" nơi có thành Luy Lâu cổ, nơi Sỹ Nhiếp lần
đầu dạy người Việt học chữ. Chùa Dâu, Chùa Phật Tích là những nơi phát tích của
Phật giáo Việt Nam, nơi phát tích vương triều Lý Đền Đô, Chùa Dận... Đền Phụ
Quốc - Làng Tam Tảo Bắc Ninh nổi tiếng với các làn điệu quan họ, các làng nghề
như làng tranh Đông Hồ, làng gốm Phù Lãng, gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, rèn sắt Đa
Hội, đúc đồng Đại Bái, dệt Hồi Quan. Các di tích lịch sử đáng kể có đền Đô, chùa
Phúc Nghiêm Tự (chùa Tổ), đền Phụ Quốc, đình làng Đình Bảng,đình làng Đình
Tam Tảo v.v.
Hàng năm, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh diễn ra hơn 300 lễ hội lớn nhỏ khác
nhau. Một số lễ hội nổi tiếng được liệt kê dưới đây: Lễ hội Lim, Lễ hội Làng Tam
Tảo, Lễ hội Đền Đô,Lễ hội Đồng Kỵ , Lễ hội Chùa Dâu…
II. QUY HOẠCH DU LỊCH BẮC NINH.
1. Thực trạng du lịch Bắc Ninh:
1.1. Về khách Du lịch:
Trong những năm gần đây đặc biệt từ năm 1999 xu hướng đi Du lịch ngày
ố
1997 1998 1999 2000 2001 Ước 2002
Bắc
Ninh
18.040 21.400 29.300 30.200 37.000 40.000
Cả
nước
10.200.000 11.600.000 12.300.000 13.140.000 13.980.000 14.700.000
1.2. Về doanh thu Du lịch:
Doanh thu Du lịch bao gồm tất cả các khoản thu từ khách Du lịch như vận
chuyển, lưu trú, ăn uống...Trong những năm qua doanh thu chưa được thống kê một
cách đầy đủ bởi hoạt động kinh doanh phân tán, một số dịch vụ kinh doanh theo
mùa vụ như các dịch vụ bán hàng tại các điểm Du lịch và từ các ngành khác được
hưởng từ khách Du lịch như bưu chính viễn thông, thương mại hàng hoá...Do đó
doanh thu Du lịch đã được phản ánh trong báo cáo thống kê chưa phản ánh đúng
thực chất phát triển. Tuy nhiên doanh thu Du lịch Bắc Ninh chưa cao, chưa thực sự
đóng góp vào việc thực hiện các mục tiêu chung củ a tỉnh. Nguyên nhân chính là do
các sản phẩm Du lịch tỉnh còn kém về hình thức,chất lượng, chưa có nét độc đáo
hấp dẫn của vùng quê Kinh Bắc.
Bảng 2: Doanh thu và cơ cấu doanh thu Du lịch của Bắc Ninh
Đơn vị : triệu đồng
Doanh thu 1997 1998 1999 2000 2001 Ước 2002
Tổng doanh
thu
16.500 17.154,90 19.719,75 21.938,33 25.434,96 28.000
DT ăn uống 9.887 13.379,70 14.464,40 14.564,03 18.807,87 19.000
DT lưu trú 850 616,30 873,70 1312,09 2.375,49 5.000
DT V.chuyển
khách
17,50 140,20 393,08 859,85 1.500
của ngành, bao gồm các hệ thống cơ sở lưu trú, ăn uống, các cơ sở vui chơi giải trí,
thể thao, các cơ sở dịch vụ Du lịch và các phượng tiện vận chuyển khác.
Trong những năm gần đây cùng với sự gia tăng của khách Du lịch và nhu
cầu xã hội hệ thống các nhà nghỉ, nhà hàng tư nhân phát triển nhanh, tổng số vốn
đầu tư đạt hơn 35 tỷ đồng phần nào đáp ứng nhu cầu ăn nghỉ của khách đến địa
phương. Tuy nhiên các khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng tư nhân phát triển tự phát
không có qui hoạch dẫn đến tình trạng khó quản lýcó thể phá vỡ quy hoạch chung
đây là vấn đề tồn tại cần được khắc phục .
Nhịp độ xây dựng nhanh chóng các cơ sở lưu trú đã làm công xuất sử dụng
buồng giảm,tuy vậy cũng phải thấy rằng cơ sở vật chất đã được nâng cao rõ rệt do
nhu cầu khách ngày càng cao, một số khách sạn, nhà nghỉ có tiêu chuẩn khá cao
theo qui định. Nhìn chúng hệ thống cơ sở lưu trú nhiều nhưng qui mô còn nhỏ số
buồng đáp ứng yêu cầu của khách quốc tế còn hạn chế, điều này đặt ra cho Bắc
Ninh khi phát triển loại hình lưu trú cần ưu tiên xây dựng các khách sạn đạt tiêu
chuẩn sao, có định hướng hạn chế xây dựng các khách sạn, nhà nghỉ có chất lượng
thấp. Theo số liệu khảo sát năm 2002 tổng số khách sạn, nhà nghỉ trên địa bàn tỉnh
gồm 54 cơ sở.
Bảng 4 : Các cơ sở lưu trúdu lịch trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh ( Tính đến
31.8.2002)
Chỉ tiêu Tổng số Số phòng Số giường
Khách sạn 44 60
Nhà nghỉ 321 431
Tổng số 365 491
- Hệ thống cơ sở ăn uống đa dạng, hầu hết các nhà nghỉ đều có kinh doanh
ăn uống. Các nhà hàng từ đặc sản đến bình dân luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu du
khách. Tuy nhiên công tác quản lý vệ sinh thực phẩm vẫn chưa được quản lý có
khoa học và hiệu quả.
- Cơ sở vui chơi, giải trí thể thao còn nghèo nàn. Đó là nguyên nhân không
lưu giữ được khách. Ngoài dịch vụ của công ty TNHH Đại Hoàng Long phần nào
đáp ứng nhu cầu của khách Du lịch và nhân dân còn lại là những dịch vụ nhỏ như
lâu. Hệ thống lưới điện từ huyện về các xã và từ các xã về từng thôn xóm đã
được xây dựng đáp ứng điện sinh hoạt cho nhân dân .Song thực trạng mạng
lưới điện không đồng bộ cần có biện pháp đầu tưnâng cấp hoàn chỉnh theo qui
hoạch của ngành điện mới đáp ứng tốt nhu cầu sinh hoạt và phát triển của cả
tỉnh.