Tài liệu NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI doc - Pdf 86


1
A. LỜI NÓI ĐẦU

Việt Nam xác lập quan hệ quốc tế trong đầu tư là một tất yếu khách quan, là
đòi hỏi bức xúc của đất nước. Sau bao nhiêu năm đấu tranh chống Pháp rồi
chống Mĩ , cho đến khi giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất đất nước
về cơ bản nền kinh tế Việt Nam vẫn là một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, sản
xuất nhỏ, manh mún, đời số
ng nhân dân vô cùng khó khăn , thu nhập bình quân
đầu người vào loại thấp nhất thế giới. Việt Nam đang rất cần nhiều thứ cho việc
khôi phục và phát triển kinh tế, cải thiện đời sống của người lao động. Để thoát
khỏi tình trạng khó khăn, tận dụng thế mạnh của hợp tác quốc tế đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước là hết sứ
c cần thiết. Nhà nước Việt Nam cũng
đã nhận thức được sự cần thiết phải mở cửa nền kinh tế và từ sau đại hội Đảng
Cộng Sản Việt Nam lần thứ VI (1986) chính sách mở cửa của Việt Nam được
thực hiện. Năm 1987, luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam ra đời .
Trong thời gian gần đây, hoạt động FDI vào Việt Nam đã đạ
t được những
thành công đáng kể . Trong đề án này, em không đi sâu vào nghiên cứu những
thành công đạt được hay những tồn tại của hoạt động FDI tại Việt Nam trong
những năm qua nói chung mà chỉ nghiên cứu một khía cạnh của hoạt động FDI .
Đó là vấn đề Quản lí nhà nước đối với FDI. Đây là một yếu tố rất quan trọng
quyết định đến hiệu quả của FDI. Trong thời gian qua, vi
ệc thực hiện vai trò
quản lí nhà nước với FDI đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên vẫn
còn một số tồn tại .
Đề án này có thể có những thiếu xót, em rất mong các thầy cô giáo và các
bạn sinh viên cho ý kiến để em có thể sửa chữa, bổ sung nhằm hoàn thiện đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Đinh Đào Ánh Thuỷ đã hướng dẫn em

lí, sử dụng vốn đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư nhằ
m thu hồi đủ vốn bỏ ra.
1.2 Tính tất yếu khách quan của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trong lịch sử thế giới, đầu tư nước ngoài đã từng xuất hiện ngay từ thời tiền
tư bản. Các công ty của Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha là những công
ty đi đầu trong lĩnh vực này dưới hình thức đầu tư vốn vào các nước châu Á để
khai thác đồn điền và cùng vớ
i ngành khai thác đồn điền là những ngành khai
thác khoáng sản nhằm cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp ở chính
quốc.
Trong thế kỷ XIX, do quá trình tích tụ và tập trung tư bản tăng lên mạnh mẽ,
các nước công nghiệp phát triển lúc bấy giờ đã tích luỹ được những khoản tư
bản khổng lồ, đó là tiền đề quan trọng đầu tiên cho việc xuất khẩu tư bản. Theo
nhận định của Lênin trong tác ph
ẩm “chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của
chủ nghĩa tư bản” thì việc xuất khẩu nói chung đã trở thành đặc trưng cơ bản của
sự phát triển mới nhất về kinh tế thời kỳ “đế quốc chủ nghiã”. Tiền đề của việc
xuất khẩu tư bản là “tư bản thừa” xuất hiện trong các nước tiên tiến. Nh
ưng thực
chất của vấn đề đó là mnột hiện tượng kinh tế mang tính tất yếu khách quan, khi
mà quá trình tích tụ và tập trung đã đạt đến một mức độ nhất định sẽ xuất hiện
nhu cầu đầu tư ra nước ngoài. Đó chính là quá trình phát triển của sức sản xuất
xã hội đến đọ đac vượt ra khỏi khuôn khổ chật hẹp của một quốc gia, hình thành
lên quy mô sản xuất trên phạm vi quốc tế. Thông thường, nền kinh tế ở các nước
công nghiệp đã phát triển, việc đầu tư ở trong nước không còn nữa. Để tăng
thêm lợi nhuận, các nhà tư bản ở các nước tiên tiến đã thực hiện đầu tư ra nước
ngoài, thương là vào các nước lạc hậu hơn vì ở đó các yếu tố đầu vào của sản
xuất còn rẻ h
ơn nên lợi nhuận thu được thường cao hơn. Chẳng hạn như vào thời
điểm đầu thế kỷ XX, lợi nhuận thu được từ các hoạt động đầu tư ở nước ngoài

tư trực tiếp nước ngoài.
Muốn thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một nước nào đó, nước
nhận đầu tư phải có các điều kiện tối thiểu như: cơ sở hạ tầng đủ đảm bảo các
đ
iều kiện cần thiết cho hoạt động sản xuất và hình thành một số ngành dịch vụ
phụ trợ phục vụ cho nhu cầu sản xuất và đời sống. Chính vì vây, các nước phát
triển thường chọn nước nào có điều kiện kinh tế tương đối phát triển hơn để đầu
tư trước. Còn khi phải đầu tư vào các nước lạc hậu, chưa có những điều kiệ
n tối
thiểu cho việc tiếp nhận đầu tư nước ngoài thì các nước đi đầu tư cũng phải dành
một phần vốn cho việc xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng và một số lĩnh vực dịch
vụ khác ở mức tối thiểu đủ đáp ứng yêu cầu của sản xuất và một phần nào đó
cho cuộc sống sinh hoạt c
ủa bản thân những người nước ngoài đang sống và làm
việc ở đó.
Sau mỗi chu kỳ kinh tế, nền kinh tế của các nước côngnhiệp phát triển lại rơi
vào một cuộc suy thoái kinh tế. Chính lúc này, để vượt qua giai đoạn khủng
hoản và tạo những điều kiện phát triển, đòi hỏi phải đổi mới tư bản cố định.
Thông qua hoạt động đầu t
ư trực tiếp nước ngoài, các nước công nghiệp có thể

4
chuyển các máy móc, thiết bị cần thay thế, sang các nước kém phát triển hơn và
sẽ thu hồi một phần giá trị để bù đắp những khoản chi phí khổng lồ cho việc
mua các thiết bị máy móc mới. Những thành tựu khoa học kỹ thuật ngày càng
phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng đi vào áp dụng trong sản xuất và đời sống,
các chu kỳ kinh tế ngày càng rút ngắn lại. Vì vậy, yêu cầu đổi mới máy móc,
thiết bị ngày càng cấ
p bách hơn. Ngày nay, bất kì trung tâm kỹ thuật tiên tiến
nào cũng cần phải có thị trường tiêu thụ công nghệ loại hai, có như vậy mới đảm

doanh và các dạng đầu tư BOT,BT,BTO… Mặt khác, các nước phát triển sẽ thu
được lợi nhuận cao hơn khi bỏ vốn đầu tư ra nước ngoài- nơi có chi phí đầu vào
thấ
p hơn trong nước. Đầu tư trực tiếp nước ngoài còn góp phần cải thiện mối
quan hệ chính trị giữa các quốc gia, các quan hệ về hợp tác thương mại, vấn đề
môi trường, các quan hệ văn hoá xã hội khác, tạo lên tiếng nói chung giữa các
cộng đồng và khu vực. Như vây, đầu tư trực tiếp nước ngoài là một yếu tố khách
quan.

5
2. Vai trò của FDI đối với các nước đang phát triển.
2.1 Các tác động:
- Tăng trưởng kinh tế:

Mục tiêu cơ bản trong thu hút FDI của nước chủ nhà là thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế. Mục tiêu này được thực hiện thông qua tác động tích cực của FDI đến
các yếu tố quan trọng quyết định tốc độ tăng trưởng: Bổ sung nguồn vốn trong
nước và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế; tiếp nhận chuyển giao công nghệ
hiện đại, kỹ xảo chuyên môn và phát triển khả năng công nghệ nộ
i địa; phát
triển nguồn nhân lực và tạo việc làm; thúc đẩy xuất nhập khẩu và tiếp cận với thị
trường thế giới; tạo liên kết giữa các ngành công nghiệp.
- Vốn đầu tư và cán cân thanh toán quốc tế.

FDI là một trong những nguồn quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt về vốn
ngoại tê của các nước nhận đầu tư đặc biệt là đối với các nước đang phát triển.
Hầu hết cac nước đang phát triển đều rơi vào cái “vòng luẩn quẩn” đó là:
Thu nhập thấp dẫn đên tiết kiệm thấp, vì vậy đầu tư thấp rồi hậu quả l
ại là thu
nhập thấp. Tình trạng luẩn quẩn này chính là “điểm nút” khó khăn nhất mà các

các hoạt dộng dịch vụ phục vụ cho FDI.
- Chuyển giao và phát triển công nghệ:

FDI được coi là nguồn quan trọng để phát triển khả năng công nghệ của
nước chủ nhà. Vai trò này được thể hiện qua hai khía cạnh chính là chuyển giao
công nghệ sẵn có từ bên ngoài vào và phát triển khả năng công nghệ của các cơ
sở nghiên cứu, ứng dụng của nước chủ nhà. Đây là những mục tiêu quan trọng
được nước chủ nhà mong đợi từ các nhà đầu tư nước ngoài.
Chuyển giao công nghệ thông qua FDI thường đượ
c thực hiện chủ yếu bởi
các TNCs, dưới các hình thức: Chuyển giao trong nội bộ giữa các chi nhánh của
một TNCs và chuyển giao giữa các chi nhánh của các TNCs. Những năm gần
đây, các hình thức này thường đan xen nhau với các đặc điểm rất đa dạng.
Phần lớn công nghệ được chuyển giao giữa các chi nhánh của TNCs sang
nước đang phát triển ở hình thức 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên
doanh có phần lớn vố
n nuớc ngoài, dưới các hạng mục chủ yếu như những tiến
bộ công nghệ, sản phẩm công nghệ, công nghệ thiết kế và xây dựng, kỹ thuật
kiểm tra chất lượng, công nghệ quản lý, công nghệ marketting.
Nhìn chung, các TNCs rât hạn chế chuyển giao những công nghệ mới có
tính cạch tranh cao cho các chi nhánh của chúng ở nước ngoài vì sợ lộ bí mật
hoặc mất bản quyền công nghệ do việc bắt trước, cả
i biến hoặc nhái lại công
nghệ của các công ty nước chủ nhà. Mặt khác, do nước chủ nhà còn chưa đáp
ứng được yêu cầu sử dụng công nghệ của các TNCs.
Bên cạnh chuyển giao công nghệ sẵn có, thông qua FDI các TNCs còn góp
phần tích cực đối với tăng cường năng lực nghiên cứu và phát triển công nghệ
của nước chủ nhà. Các kết quả cho thấy phần lớn các hoạt động R&D của các
chi nhánh TNCs ở nước ngoài là cả
i biến công nghệ cho phù hợp với điều kiện

hội việc làm trong những tổ chức khác khi các nhà đầu tư nước ngoài mua hang
háo dịch vụe từ các nhà sản xuất trong nước, hoạc thuê họ thông qua các hợp
đông gia công chế biến. Thực tiễn ở một số nước cho thấy FDI đã đóng góp tích
cực tạo ra viẹc làm trong các ngành sử dụng nhiều lao đọng như ngành may
mặc, điện tử, chế bi
ến.
Thông qua khoản trợ giúp tài chính hoặc mở các lớp đào tạo dạy nghề, FDI
còn góp phần quan trọng đối vơí phát triển giáo dục của nước chủ nhà trong các
lĩnh vực giáo dục đại cương, dạy nghề, nâng cao năng lực quản lý. Nhiều nhà
ĐTNN đã đóng góp vào quỹ phát triển giáo dục phổ thông, cung cấp một số
thiết biết giảng dạy cho các cơ sở giáo dục của nướ
c chủ nhà, tổ chức các
chương trình phổ cập kiém thức có bản cho người lao động bản địa làm việc
trong dự án (trong đó có nhiều lao động được đi đào tạo ở nước ngoài).
FDI nâng cao năng lực quản lý của nước chủ nhà theo nhiều hình thức như
các khoá học chính quy, không chính quy, và hoc thông qua làm.
Tóm lai, FDI đem lại lợi ích về tạo công ăn việc làm. Đât là mọt tác dộng
kép: tạo thêm việc làm cũng có nghĩ
a là tăng thêm thu nhập cho người lao đông,
từ đó tạo điều kiện tăng tích luỹ trong nước. Tuy nhiên, sự đóng góp của FDI đỗi
với việc làm trong các nước nhận đầu tư phụ thuộc rất nhiều vào chính sách và
khả năng kỹ thuật của nước đó.
- Thúc đẩy xuất nhập khẩu và tiếp cận với thị trường thế giới

Xuất nhập khẩu có mối quan hệ nhân quả với tăng trưỏng kinh té. Mối quan
hệ này được thể hiện ở các khía cạnh” xuất nhập khẩu cho phép khai thác lợi thế
so sánh, hiệu quả kinh tế theo quy mô, thực hiện chuyên môn hoá sản xuất; nhập
khẩu bổ sugn các hàng hoá, dịch vụ khan hiếm cho sản xuất và tiêu dùng; xuất
nhập khẩu còn tạo ra các tác động ngoại ứng như thúc đẩy trao đổi thông tin
dịch v

nhiễm môi trường tr
ầm trọng ở các nước đang phát triển tuy nhiên có nhiều
nghiên cứu cho thấy các TNCs rất chú trọng và tích cực bảo vệ môi trường hơn
các công ty nội địa. Bởi vì, quy trình sản xuất của họ thường được tiêu chuẩn
hoá cao nên dễ đáp ứng được các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường của nước chủ
nhà. Hơn nữa, các TNCs thường có tiềm lực tài chính lớn do đó có điều kiện
thuận l
ợi trong xử lý các chất thải và tham gia góp quỹ, hỗ trợ tài chính cho các
hoạt động bảo vệ môi trường.
FDI tác động mạnh đến cạnh tranh và độc quyền thông qua việc thêm vào
các đối thủ cạnh tranh hoặc sử dụng sức mạnh của mình đẻ khống chế thị phần ở
nước chủ nhà. Từ thúc đẩy cạnh tranh, FDI góp phần làm cho nền kinh tế hoạt
động có hiệu quả hơn, nhờ đ
ó đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Nhờ có FDI, cơ cấu nền kinh tế của nước chủ nhà chuyển dịch nhanh chóng
theo chiều hưóng tăng nhanh tỷ trọng các ngành công nghiệp dịch vụ và giảm tỷ
trọng các ngành nôngnghiệp, khai thác trong GDP.
FDI là một trong những hình thức quan trọng của các hoạt động kinh tế đối
ngoại và nó có liên quan chặt chẽ đến tất cả các hoạt động kinh tế, chính trị, vă
n

9
hoá- xã hội của các quốc gia, do đó sự phát triển của lĩnh vực này thúc đẩy sự
hoà nhập khu vuẹc và quốc tế của nước chủ nhà.
2.2 Các tác động đặc biệt
Bên cạnh tác động đến ác yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế, FDI còn tác
động đến các khía cạnh quan trọng khác của đời sống văn hoá, xã hội và chính
trị của nứoc chủ nhà.
- Văn hoá - xã hộ
i

tiếp nhận ĐTNN các nước đang phát triển rất lo ngại trước sức mạnh của các

10
công ty này có thẻ can thiệp vào chủ quyền lãnh thổ, đe doạ đến an ninh chính
trị và làm lũng đoạn nền kinh tế của mình.
Về mặt lý thuyết, ĐTNN có đe doạ đên an ninh kinh tế của nước chủ nhà
thông qua thao túng một số ngành sản xuất quan trọng, những hàng hoá thiết yếu
hoặc đẩy mạnh đầu cơ, buôn lậu, rút chuyển vốn đi nơi khác… Vì mục tiêu theo
đuổi lợi nhu
ận cao, nên không loại trừ một số TNCs có thể can thiệp một cách
gián tiếp vào các vấn đề chính trị của nước chủ nhà. Do đó, đảm bảo tôn trọng
chủ quyền lãnh thổ là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong các chính sách, luật
pháp thu hút ĐTNN của nước chủ nhà. Hơn nữa, mặc dù có tiềm lực mạnh
nhưng các TNCs là những nhà kinh doanh và tài sản lịa bị phân tán ở nhiều
nước, trong khi đó nước chủ nhà lại có quân
đội và các sức mạnh cần thiết để
đảm bảo chủ quyền quốc gia.
Tuy có những đóng góp tích cực không thể phủ nhận đối với những nước
đang phát triển như đã kể trên nhưng ĐTNN vẫn còn những hạn chế: chuyển
giao công nghệ cũ, công nghệ không phù hợp với điều kiện của các nước đang
phát triển, giá cả đắt hơn thực t
ế; sản xuất và quảng cáo sản phẩm ảnh hưởng
tiêu cực đối với sức khỏe con người như ( rượu, bia, nước giải khát có ga, thuốc
lá, thực phẩm sử dụng nhiều hoá chât…); xúc phạm nhân phẩm người lao động,
khai thác cạn kiệt sức lao động của người làm thuê; làm tăng khoảng cách giầu
nghèo giữa các các nhân, giữa các vùng.
I
I.Quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoài
1. Quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư nói chung

- Nhà n
ước quản lí dự án dân lập để ngăn ngừa các hiện tượng áp bức, bóc
lột, bất công xảy ra trong lòng dự án tư nhân.
• Đối với dự án quốc gia

Dự án nhà nước là những dự án sử dụng vốn nhà nước bỏ ra hoặc coi nhu
nhà nước bỏ ra. Chính vì thế, mọi dự án quốc gia đều có một ban quản lý dự án
kèm theo. Các ban này có thể là lâm thời tồn tại cùng dự án nếu là dự án lớn,
quan trọng, kéo dài nhiều năm. Ban này cũng có thể thường nhiệm tồn tại ngay
cả khi không có dự án nào hoặc cùng lúc quản lý nhiều dự án. Nhưng sự quản lý
của các ban qu
ản lý dự án chưa phải là tất cả sự quản lý của nhà nướcđối với dự
án quốc gia mà các ban quản lý này vẫn phải chịu sự quản lý của nhà nước bởi
hai lý do sau:
- Ban quản lý dự án chỉ chuyên quản với tư cách là chủ đầu tư. Họ là người
đại diện cho nhà nước về mặt vốn đầu tư, có sứ mạng làm cho vốn đó sớm biến
thành mục tiêu đầu tư. Cho nên các ảnh hưởng khác của dự án không được họ
quan tâm hoặc không có trách nhiệm và không đủ khả năng quan tâm. Do đó,
nếu không có sự quản lý của nhà nước với các ban quản lý này thì các dự án
quốc gia trong khi đeo đuổi các mục đích chuyên ngành có thể làm tổn hại đén
quốc gia ở các mặt họ không lường hết được hoặc không quan tâm.
- Bản thân các ban quản lý dự án cũng không thực hiệ
n trọn vẹn trong trách
nhiệm đại diện sở hữu vốn. Từ đó, sử dụng vốn sai mục đích, kém hiệu quả,
thậm chí chiếm công vi tư.
2. Quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
2.1. Vai trò của quản lý nhà nước với FDI
Môi trường quốc tế là như nhau với mỗi quốc gia. Như vậy, cơ hộ
i và khả
năng huy động vốn nước ngoài để phát triển kinh tế là nhu nhau. Nhưng thực tế

tế và chương trình đối ngoại theo hướng mở rộng các quan hệ song phương và
đa phương với các nước và các tổ chức quốc tế cũng như đảm bảo uy tín của các
quốc gia trong cộng đồng quốc tế. Quan hệ đối ngoại của nhà nước như chiếc
chìa khoá mở cửa cho nhà đầu tư nước ngoài tìm kiếm cơ hội
để đầu tư cũng
như để đảm bảo an toàn và hỗ trợ cho hoạt động đầu tư của họ.
Một quốc gia kém phát triển ở giai đoạn đầu cảu quá trình phát triển kinh tế
thường phải đương đầu với những khó khăn và thử thách là cán cân thương mại
và cán cân thanh toán quốc tế luôn trong tình trạng thâm hụt nặng nề, mâu thuẫn
giữa khả năng thanh khoản thấp và nhu c
ầu đầu tư lớn , mất cân đối giữa thu chi
ngân sách. Ở đây thể hiện vai trò của nhà nước trong việc giải quyết những vấn
đề lạm phát, chính sách tài khoá, tiền tệ, tỉ giá hối đoái và xây dựng, củng cố hệ
thống tài chính vững mạnh, tạo lập cân đối cung cầu trong ba lĩnh vực trên để ổn
định kinh tế vĩ mô tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả
của nhà
đầu tư trong và ngoài nước, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng
xuất khẩu cao, ổn định trên cơ sở đó đảm bảo sự ổn định các cân đối vĩ mô.
 Tạo lập môi trường pháp lý đảm bảo và khuyến khích FDI định hướng
theo chủ trương đường lối phát triển kinh tế của Đảng trong điều kiện kinh tế -
xã hội của Việt Nam, phù hợp với thông lệ và luật pháp quốc tế: 13
Cơ chế quản lý kinh tế hiện nay ở nước ta là cơ chế thị trường có sự quản lý
của nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch và các công cụ quản lý khác. Nhà nước
đóng một vai trò điều hành kinh tế vĩ mô ( định hướng, điều tiết, hỗ trợ) nhằm
phát huy các mặt tích cực ngăn ngừa các mặt tiêu cực của hoạt động FDI. Các
nhà đầu tư nước ngoài, các công ty nướ
c ngoài hoạt động ở Việt Nam mang tư

ước là hết sức quan trọng trong việc huy động và
phân bổ các nguồn vốn tập trung đầu tư để phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế – xã
hội.
Hoạt động đầu tư là hoạt động mang tính rủi ro và ở chừng mực nhất định có
tính mạo hiểm, càng rủi ro và mạo hiểm hơn, khi đầu tư ở nước ngoài. Vì vậy,
một đất nước có sự đảm b
ảo cao về trật tự an toàn xã hội sẽ làm cho các nhà đầu
tư yên tâm về sự an toàn tính mạng và tài sản của mình khi bỏ vốn kinh doanh ở
một quốc gia khác.

14
Nhà nước với vai trò quan trọng trong việc xây dựng một triết lý kinh doanh
hiện đại, tiến tiến mang bản sắc văn hoá Việt Nam, thấm nhuần tư tưởng của
đảng:” Việt Nam muốn là bạn và là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng
quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển.
2.2. Chức năng quản lý nhà nước với FDI
 Dự báo

Chức năng dự báo được thể hiện trên cơ sở các thông tin chính xác và các
kết luận khoa học. Dự báo là điều kiện không thể thiếu trong việc xây dựng và
thực hiện công tác quản lý nhà nước đối với các dự án FDI và các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài. Có thể nói nếu thiếu chức năng dự báo, công tác quản
lý nhà nước đối với hoạt động FDI sẽ không mang đầy đủ tính chất củ
a một hoạt
động quản lý khoa học cũng nhu không thể thực hiện có hiệu quả các mục tiêu
quản lý. Hoạt động dự báo bao gồm dự báo tình hình thị trường hàng hoá, dịch
vụ, lao động, thị trường vốn trong và ngoài nước, xu hướng phát triển, tình hình
cạnh tranh trong khu vực và thế giới, chính sách thương mại của các chính phủ
… Để tiến hành tốt chức năng dự báo cần sử dụng các công cụ dự báo khác nhau
và nên tiến hành dự báo từ những nguồn thông tin khác nhau.

pháp của nhà đầu tư nước ngoài. Bởi vì sở hữu là nguồn gốc là động lực mạnh
mẽ thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, thúc đẩy hoạt động đầu tư.
Trong nền kinh tế thị trường bên cạnh chức năng bảo hộ nhà nước còn có
chức năng hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài. M
ặc dù các nhà đầu tư nước ngoài đều là các nhà kinh
doanh có kinh nghiệm nhưng khi họ kinh doanh ở một quốc gia khác vẫn cần có
sự hỗ trợ của nước chủ nhà. Khi tiến hành sản xuất kinh doanh, thực hiện
chuyển giao công nghệ nhà đầu tư nước ngoài cần có sự hỗ trợ của nhà nước về
thị trường tiêu thụ sản phẩm, thị trường vốn, thị trường lao động.
 T
ổ chức và điều hành
Để thực hiện tốt chức năng này phải xây dựng thống nhất tổ chức bộ máy
quản lý thích hợp trên cơ sở phối hợp nhịp nhàng, ăn khớp và tối ưu các chức
năng quản lý của các bộ phận trong bộ máy quản lý hoạt động FDI. Đồng thời
cần có sự phối hợp tốt nhất trong hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước trong
việc ban hành các qui ph
ạm pháp luật điều chỉnh các hoạt động của các dự án và
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhằm bảo vệ lợi ích, bảo hộ sản xuất
trong nước và khuyến khích hoạt động FDI.
 Kiểm tra và giám sát

Căn cứ vào chế độ, chính sách, kế hoạch và các qui định của pháp luật, các
cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra phát hiện những sai sót, lệch lạc trong quá
trình đàm phán triển khai và thực hiện dự án đầu tư để có biện pháp đưa các hoạt
động này vận động theo qui định thống nhất. Hoạt động kiểm tra, giám sát còn
là công cụ phản hồi thông tin quan trọng để chính phủ đánh giá hiệu quả và mức
độ h
ợp lý của những chính sách, qui định đã được ban hành. Ngoài ra hoạt động
kiểm tra, thanh tra giám sát còn nhằm tạo điều kiện giúp đỡ các nhà đầu tư nước

t động,
giải quyết những ách tắc của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Kiểm tra, kiểm soát việc tuân thủ theo pháp luật của các cấp các, các
nghành có liên quan đến hoạt động đầu tư, kiểm tra kiểm soát và xử lý những vi
phạm của các doanh nghiệp trong việc thực hiện theo qui định của nhà nước về
giấy phép đầu tư, các cam kết của các nhà đầu tư.
 Đào t
ạo đội ngũ lao động Việt Nam đáp ứng nhu cầu của quá trình hợp
tác đầu tư từ đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý đầu tư ở các cơ quan quản lý
nhà nước về đầu tư đến đội ngũ các nhà quản lý kinh tế tham gia trong các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng như đội ngũ lao động kỹ thuật đáp
ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của khu v
ực này.
Cán bộ quản lý là khâu trọng tâm của hoạt động quả lý, có vai trò cực kì
quan trọng trong quản lý về đầu tư. Mục tiêu đặt ra đối với FDI, chủ trương,
đường lối, chính sách của đảng và nhà nước, các quan hệ pháp luật có liên quan
đên khu vực FDI có được thực hiện hay không phụ thuộc vào năng lực tổ chức,
điều hành, trình độ hiểu biết về luật pháp, khả năng vận dụng sáng tạ
o và tâm
huyết của đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về đầu tư. Vì vậy, đội ngũ cán bộ
này cần được tuyển chọn phù hợp với yêu cầu và thường xuyên được đào tạo để
nâng cao trình độ, kiến thức chuyên môn và phẩm chất đạo đức, tinh thần tự
hào, tự cường dan tộc, dám hi sinh lợi ích cá nhân vì sự phát triển của đất nước.
2.4. Hệ thống tổ
chức quản lý hoạt động FDI
• Quốc hội
: là cơ quan quyền lực cao nhất, có trách nhiệm phê chuẩn và
ban hành hệ thống luật pháp có liên quan đến đầu tư, quyết định đường lối,
chiến lược và các chủ trương đầu tư.
• Chính phủ

thương mại, bảo tồn bảo tàng di tích di sản văn hoá, quốc phòng, an ninh, phòng
cháy chữa cháy… Có trách nhiệm xem xét và có ý kiế
n bằng văn bản về các vấn
đề có liên quan đến dự án.
3. Kinh nghiệm quản lý nhà nước với FDI của một số nước trên thế giới
3.1. Thái Lan
Thái Lan là một trong những nước có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam
về điều kiện tự nhiên (đất đai, khí hậu, tài nguyên…), về xã hội (một số tập
quán, nhan văn, dân số đông và phần lớ
n sống ở nông thôn, dung lượng thị
trường tiềm năng lớn…) và về trình độ phát triển kinh tế (có ưu thế phát triển
một nên nông nghiệp nhiệt đới, công nghiệp còn ở trình độ phát triển thấp…).
Những thập niên gần đây, nền kinh tế Thái Lan đã đạt nđược sự phát triển
thuộc loại nhanh trong khu vực. Trong sự phát triển đó có sự đóng góp đáng kể
của đầu trự
c tiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế của Thái Lan có học
giả đã cho rằng:” nếu không có nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong 20 năm
qua, Thái Lan không thể xây dựng được một nền tảng kinh tế vững mạnh như
hiện nay”[17,381].

18
Chúng ta cũng thừa nhận rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong
những yếu tố góp phần thúc đẩy nền kinh tế Thái Lan trở thành những “ngôi
sao” mới của khu vực Đông Á. Chính phủ Thái Lan đã rất khéo léo trong việc
kết hợp đầu tư trực tiếp nước ngoài với chiến lược công nghiệp hoá của từng
thời kì. Để có thể triển khai các dự án đầu tư nhanh, thuận l
ợi và có hiệu quả,
Chính phủ Thái Lan đã có chính sách khuyến khích mạnh các nguồn vốn tron
nước cùng tham gia đâu tư với các dự án có vốn đầu tư nước ngoài. Tỷ lệ vốn
trong nước trong các dự án này lên tới 71,7% (thời kì 1960-1985) và 71,6%

1998) tính bình quân ở Trung Quốc mỗi năm có tới gần 13 tỷ USD vốn đầu tư
trực tiếp từ nước ngoài được thực hiện ( bằng 11,8 lần vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài thực hiện bình quân trong thời kì 1988-1999 tạ
i Việt Nam).
Nói đến sự thành công của Trung Quốc trong những thập niên gần đây cũng
có nghĩa là nói đến sự thành công trong việc quản lý nhà nước về đầu tư trực
tiếp nước ngoài và việc thực hiện chính sách cải cách mở cửa của họ. Việc mở

19
cửa với bên ngoài được Trung Quốc xác định “ là một quốc sách cơ bản lâu
dài”, nên họ chủ trương “ ra sức nâng cao mức độ mở cửa với bên ngoài”, “ tích
cực lợi dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài một cách hiệu quả”… Thực tế cho
thấy, nhờ có chính sách mở cửa hợp lý nên việc thu hút và sử dụng đầu tư trực
tiếp nước ngoài của Trung Quốc rât hiệu qu
ả.
Một số chủ trương, biện pháp lớn mà Trung Quốc đang sử dụng đối với đầu
tư trực tiếp nước ngoài hiện nay theo hướng sau:
- Tăng cường cải cách thể chế kinh tế trong nước phù hợp với tốc độ mở
cửa đối ngoại, tạo điều kiện cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong
nước với các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài.
- Lập qui hoạch ngành nghề và vùng lãnh thổ đối với đầu tư trực tiếp nước
ngoài.
- Tăng cường quản lý nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đa
dạng hoá các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Có chính sách thoả đáng để mở rộng việc thu hút các nhà đầu tư người
Hoa ở nướ
c ngoài chuyển vốn về đầu tư tại Trung Quốc. Mở rộng địa bàn hoạt
động, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, sử dụng các chính sách ưu đãi phù
hợp với yêu cầu phát triển của từng thời kỳ.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong 16 năm qua biểu hiện khá
rõ nét của một động thái thiếu
ổn định: Từ khi bắt đầu triển khai (1988) vận
đông theo xu hướng tăng nhanh đến 1995, 1996 ( cả về số dự án cũng như vốn
đăng ký). Nhưng bắt đầu từ năm 1997, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt
Nam lại vận động theo xu hướng giảm dần, cho đến năm 1999 là năm có lượng
vốn FDI đăng ký ở mức thấp nhất kể từ năm 1992. Đế
n năm 2000, năm 2001
tình hình FDI vào Việt Nam tuy đã có sự chuyển biến theo chiều hướng tốt hơn,
nhưng sang năm 2002 thì chiều hướng đó không những không được duy trì mà
lại diễn biến xấu đi một cách khá rõ. Năm 2002 tuy là năm đạt đỉnh cao về số
lượng dự án nhưng lại là đạt điểm “cực tiểu” về lượng vốn đầu tư. Vì vậy đây
cũng là nă
m có qui mô bình quân của dự án ở mức cực tiểu kể từ trước tới nay.
Vốn FDI đăng ký đầu tư vào Việt Nam năm 2002 bằng 49,55% mức bình
quân của cả thời ký 16 năm (1998-2003) và chỉ bằng 16,2% của năm có mức
vốn đăng ký cao nhất ( 1996). Nếu theo số lượng vốn đăng ký thì qui mô dự án
bình quân của thời kỳ 1998-2003 là hơn 8,93 triệu USD /1 dự án. Mặc dù đây
cũng chỉ thuộc loạ
i qui mô trung bình nhưng lại có vấn đề rất đáng quan tâm là
qui mô bình quan dự án theo vốn đăng ký của nhiều năm vẫn ở mức thấp hơn,
đặc biệt qui mô bình quân của các dự án được phê duyệt năm 2002 lại nhỏ đi
một cách đột ngột (1,99 triệu USD/ 1dự án). Về qui mô của các dự án FDI năm
2002, bằng 22,35% qui mô bình quân của thời kỳ 1988-2003 và chỉ bằng 7,6%
mức bình quân của năm cao nhất (1996).
Năm 2003 tình hình đ
ã có chuyển biến khả quan hơn năm 2002 (tuy số dự
án có giảm đi, nhưng số vốn đầu tư đã tăng lên), nhưng cũng chưa đạt được mức
như năm 2001 (năm 2003 so với năm 2001 tuy có số dự án đầu tư bằng
123,51%; nhưng do tổng số vốn đăng ký chỉ bằng 61,93% nên quy mô bình

586 2.860.016.748 7,1 13,7 1.528.314.192 6
Nông lâm
nghiệp
492 2.600.812.095 6,4 11,5 1.403.801.769 6
Thuỷ sản 94 259.204.653 0,6 2,2 124.512.423 1
3. Dịch vụ 829 14.655.682.435 36,2 19,4 6.274.054.931 26
GTVT Bưu
chính
115 2.585.280.396 6,4 2,7 1.036.128.951 4
Kh/sạn-Du lịch 143 3.283.535.635 8,1 3,4 2.007.161.210 8
Tài chính-ngân
hàng
47 606.050.000 1,5 1,1 599.934.640 2
VH- Y tế – Giáo
dục
145 626.366.412 1,5 3,4 227.525.006 1
XD khu đô thị
mới
3 2.466.674.000 6,1 0,1 6.294.598 0,03
XD văn phòng
căn hộ
99 3.460.501.161 8,5 2,3 1.598.424.136 7
XD hạ tầng
KCN, KCX
19 895.625.046 2,2 0,4 521.225.700 2
Dịch vụ khác 258 731.649.785 1,8 6,1 277.360.690 1
Tổng số 4.264 40.498.932.366 100 100 24.015.131.574 100
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và đầu tư.

So sánh FDI vào các lĩnh vực ta thấy:

gi u t trc tip nc ngoi, liờn doanh l hỡnh thc c cỏc nh u t s
dng ph bin nht. Hỡnh thc ny thng chim ti khong 40% s d ỏn v
66.82%
13.74%
19.44%
56.75%
7.06%
36.19%
67.51%
6.36%
26.13%
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
90%
100%
Số dự án Vốn đầu t Vốn thực hiện
Cơ cấu FDI tại VN 1988-2003 theo ngnh
(Các dự án còn hiệu lực)
Dịch vụ
Nông lâm nghiệp, thuỷ
sản
Công nghiệp


vốn đầu tư), đồng thời hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đang ngày
càng có xu hướng tăng lên cả tuyệt đối lẫn tương đối. Nếu thời kỳ đầu chỉ có
gần 10% số dự án và vốn đăng ký hoạt động theo hình thứ
c doanh nghiệp 100%
vốn nước ngoài thì đến nay con số đó đã tăng lên tới 69,21% số dự án và
42,10% vốn đăng ký.
Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh đến nay chỉ chiếm 3,66% số dự án
và 9,54% số vốn đầu tư, chủ yếu trong các lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí
và dịch vụ viễn thông, in ấn và phát hành báo chí.
Từ năm 1993, Việt Nam bắt đầu áp dụng hình thức “hợp đồng xây dựng-
kinh doanh- chuyể
n giao (BOT), cho đến nay hình thức đầu tư này cũng chỉ
chiếm 0,14% số dự án và 3,38 vốn đầu tư.
Về các đối tác nước ngoài đầu tư vào Việt Nam thời kỳ 1988 – 2003:
Nếu
tính theo các dự án FDI còn hiệu lực thì đến nay hiện còn 64 nước và vùng lãnh

24
thổ có các dự án đầu tư đang hoạt động tại Việt Nam. Trong số đó, có bảy nước
có tổng số vốn đầu tư đăng ký và đã được cấp phép đầu tư vào Việt Nam trên 2
tỷ USD là: Xinhgapo, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Pháp,
British Virgin Islands. Tổng số vốn đầu tư của bảy đối tác này đã chiếm tới
71,43% tổng lượng vốn FDI đăng ký đầu tư vào Vi
ệt Nam (trong đó Xinhgapo
chiếm 18,18%, Đài Loan chiếm 14,54%, Nhật Bản chiếm 11,04%, Hàn Quốc
chiếm 9,97%, Hông Kông chiếm 7,43%, Pháp chiếm 5,22%, British Virgin
Islands chiếm 5,05%). Nếu theo tổng mức đầu tư trên 1tỷ USD thì có thêm năm
nước: Hà Lan, Thái Lan, Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, Malaixia (trong đó Hà Lan
chiếm 4,35%, Thái Lan chiếm 3,47%, Vương quốc Anh chiếm 2,91%, Hoa Kỳ
chiếm 2,81%, và Malaixia chiếm 2,73%). Như vậy nếu chỉ tính riêng 12 nước có


25
kinh doanh là những dự án hoạt động đạt kết quả tốt nhất. Sở dĩ như vậy là nhờ
các dự án loại này, các nhà đầu tư không phải mất nhiều thời gian giải quyết các
thủ tục đất đai, xây dựng,… còn về năng lực thì hầu hết các dự án loại này đều
do các nhà đầu tư là các công ty xuyên quốc gia có thế mạnh về tài chính và
công nghệ. Về loại hình doanh nghiệp, các dự án H
ợp đồng hợp tác kinh doanh
có tiến độ thực hiện nhanh hơn cả, tiếp đến là các doanh nghiệp liên doanh, còn
các doanh nghiệp thuộc các hình thức BOT và các doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài có tiến độ thực hiện chậm nhất .

Trích đoạn Đỏnh giỏ về việc thực hiện vai trũ quảnlý nhà nước với FDI Quan điểm và phương hướng nõng cao vai trũ và hiệu quả quảnlý Giải phỏp nõng cao vai trũ và hiệu quả quảnlý nhà nước đối vớ Một số kiến nghị với nhà nước nhằm nõng cao hiệu quả quảnlý
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status