Tài liệu Những vấn đề lí luận chung về kinh tế thị trường - Pdf 10

Những vấn đề lí luận chung về kinh tế
thị trường
1
MỤC LỤC

I. Những lý luận chung về kinh tế thị trường (tr1)
1.Kinh tế thị trường là gì ? (tr1)
2.Điều kiện hình thành và các bước phát triển của kinh tế thị trường.(tr2)
3.Các nhân tố của kinh tế thị trường (tr4)
4.Các quy luật của kinh tế thị trường (tr7)
II.Sự hình thành và phát triển của nền kinh tết thị trường định hướng
XHCN ở nước ta. (tr10)
1.Tính tất yếu khách quan phải phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam.(tr10)
2.Quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta (tr12)
3.Bản chất, đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam. (tr15)
4.Cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước XHCN (tr17)
5.Thực trạng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam (tr21)
III.Giải pháp để phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
(tr22)
Kết luận
2
LỜI MỞ ĐẦU
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn hơn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xó hội và
con đường đi lên chủ nghĩa xó hội ở Việt Nam, Đại hội VI của Đảng Cộng
sản Việt Nam (tháng 12-1986) đó đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước
nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xó hội. Đại
hội đã quyết định chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập chung( nền kinh tế
đã kìm hãm sự phát triển của xã hội trong một thời gian khá dài) sang nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN.Kinh tế thị trường định hướng xó hội
chủ nghĩa là mụ hỡnh kinh tế tổng quỏt mà nước ta lựa chọn trong thời kỳ đổi

của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, đồng thời cũng là quá
trình thay thế lẫn nhau của các phương thức sản xuất xã hội. Nhưng bất cứ
nền sản xuất xã hội nào cũng đều phải giải quyết 4 vấn đề cơ bản: Sản suất cái
gì? Với số lượng bao nhiêu? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai và phân
phối sản phẩm như thế nào? Giải quyết những vấn đề này có hai kiểu tổ chức
kinh tế- xã hội, đó là: Kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hóa
Kinh tế tự nhiên là hình thức kinh tế đầu tiên của xã hội loài người. Kinh tế
tự nhiên là nền kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra nhằm thỏa mãn
nhu cầu cá nhân của con người sản xuất trong một đơn vị kinh tế nhất định.
Người sản xuất quyết định về số lượng, chủng loại sản phẩm theo yêu cầu của
mình, gắn với điều kiện tự nhiên và phong tục tập quán cổ truyền. Trình độ
phân công lao động, công cụ lao động, phương thức tổ chức sản xuất còn rất
thấp và giản đơn: sản xuất mang tính tự cấp, tự túc, khép kín theo từng vùng
từng địa phương, lãnh thổ. Trong các xã hội nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ
phong kiến chủ yếu là nền kinh tế tự nhiên.
Kinh tế hàng hóa ra đời từ kinh tế tự nhiên, kế tiếp kinh tế tự nhiên trên cơ
sở sự phát triển của phân công lao động xã hội và sự tách biệt về kinh tế của
những người sản xuất. đó là hình thức kinh tế trong đó người sản xuất ra sản
phẩm không phải để thỏa mãn nhu cầu trực tiếp của mình, mà nhằm để trao
đổi, để bán trên thị trường. Vì vậy số lượng và chủng loại sản phẩm suy cho
cùng là do người mua quyết định. Việc phân phối sản phẩm được thực hiện
thông qua quan hệ trao đổi ( mua- bán) trên thị trường.
Kinh tế hàng hóa ra đời từ rất sớm- vào thời kỳ tan rã của chế độ công xã
nguyên thủy và đã từng tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất. Hình thức
đầu tiên của nó là nền kinh tế hàng hóa giản đơn. đó là kiểu sản xuất do
những người nông dân, thợ thủ công tiến hành dựa trên cơ sở tư hữu nhỏ về tư
liệu sản xuất và sức lao động của chính bản thân người sản xuất, họ trực tiếp
trao đổi sản phẩm với nhau trên thị trường.Quan hệ hàng –tiền tệ phát triển
4
mạnh trong thời kì tan rã của phương thức sản xuất phong kiến quá độ sang

độ phân công lao động xã hội và cách thức tổ chức kinh tế xã hội, trong đó
sản xuất và toàn bộ quá trình tái sản xuất gắn chặt với thị trường. Quan hệ
5
kinh tế giữa những người sản xuất và tiêu thụ sản phẩm biểu hiện qua thị
trường , qua việc mua bán sản phẩm lao động của nhau. Việc sản xuất ra
những hàng hóa gì, cần có những dịch vụ nào đều phải xuất phát từ nhu cầu
của thị trường. Mọi sản phẩm đi vào sản xuất phân phối, trao đổi , tiêu dùng
đều phải thông qua thị trường.
2.Điều kiện hình thành và các bước phát triển của kinh tế thị trường.
a.Những điều kiện cơ bản để hình thành kinh tế thị trường
- Thứ nhất là phải tồn tại nền kinh tế hàng hóa. Kinh tế thị trường là giai đoạn
phát triển cao của kinh tế hàng hóa nên những điều kiện để phát triển kinh tế
hàng hóa chính là điều kiện để phát triển kinh thị trường Thứ hai là phải
dựa trên cơ sở tự do kinh tế , tự do sản xuất xã hội kinh doanh.Trong một nền
kinh tế thị trường có nhiều người cùng sản xuất một loại sản phẩm và ngược
lại.Mỗi đơn vị sản xuất và người tiêu dùng cần nhiều loại sản phẩm hàng hóa
khác nhau.Vì vậy việc tự do lựa chọn mối quan hệ bán hàng giữa các chủ thể
kinh tế , tự do trao đổi mua bán là hết sức cần thiết cho quá trình giải phóng
sức sản xuất và điều hòa lợi ích giữa người mua và người bán .Sự tự do mua
bán còn thể hiện tập chung qua giá cả hình thành trên thị trường tuân theo sự
chi phối của các quy luật kinh tế trong sản xuất và lưu thông hàng hóa theo
giá cả thị trường – giá cả thỏa thuận giữa người mua và người bán , là sự gặp
gỡ giữa cung và cầu ,là biểu hiện tác động của quy luật giá trị .Nói đến kinh tế
thị trường thì phải nói đến sự tự do cạnh tranh hay nói đúng hơn cạnh tranh là
môi trường của kinh tế thị trường ,là quy luật của kinh tế thị trường Cạnh
tranh đòi hỏi người sản xuất phải tích cực, năng động, nhạy bén : phải thường
xuyên đổi mới kỹ thuật, công nghệ và phương pháp tổ chức sản xuất … để đạt
hiệu quả cao nhất.
6
- Thứ ba là nền kinh tế phải đạt đến một trình độ pt nhất định được thể hiện ở

chăn nuôi tách khỏi trồng trọt ,lần 2 công nghiệp tách khỏi nông nghiệp ,lần 3
thương nghịêp tách khỏi các ngành sản xuất vật chất khác.Như vậy phân
công lao động xã hội đã tách sự lệ thuộc của người lao động sản xuất với tự
nhiên và chuyển thành sự phụ thuộc giữa con người vớí con người trong quá
trình sản xuất .Phân công lao động xã hội đã thực sự là cơ sở của sản xuất và
trao đổi hàng hóa .
Đặc trưng cơ bản của giai đoạn sản xuất hàng hóa giản đơn là dựa trên cơ sở
kĩ thuật thủ công tương ứng với văn minh nông nghiệp ,tư hữu nhỏ về tư liệu
sản xuất ,cơ cấu kkinh tế là nông nghiệp-thủ công nghiệp ;tính chất hàng hóa
của sản phẩm chưa hoàn toàn phổ biến .
- Bước chuyển từ nền kinh tế hàng hóa giản đơn lên nền kinh tế thị trường tự
do
8
Từ giữa thế kỉ XV đến giữa thế kỉ XVII ở nứơc Anh và một số nước châu
Âu diễn ra quá trình qúa độ từ chế độ phong kiến sang CNTB .Đó là thời kì
tích lũy nguyên thủỷ của CNTB châu Âu thương nghiệp và đặc biệt là ngọai
thương phát triển mạnh .Các lí thuyết kinh tế của trường phái trọng thương đã
góp phần quan trọng vào quá trình chuyển nền kinh tế hàng hóa giản đơn sang
kinh tế thị trường tự do .Sau khi tích lũy được một khối lượng tiền của lớn
các nhà kinh doanh tập trung sức pt thị trường dân tộc theo nguyên tắc tự do
kinh tế .Trong thời kì này vốn được đầu tư để pt các lĩnh vực công nghiệp nhẹ
,nông nghiệp và công nghiệp nặng nhằm tạo ra tiềm lực của nền kinh tế thị
trường .Việc tạo ra nền đại công nghiệp cơ khí ,kết cấu hạ tầng cơ sở vật
chất ,tín dụng đã pt ở một trình độ nhất định các thị trường đấtđai và thị
trưòng lao động được xác lập …là chỗ dựa cho sự phát triển kinh tế thị
trường .Điều này có thể minh chứng bằng một ví dụ lịch sử theo Mac vào thế
kỷ 17 Hà lan là nước tư bản điển hình nhưng bước sang thế kỷ 18 Hà lan đã
phải nhường vị trí nền kinh tế phát triển nhất cho nước Anh.Nguyên nhân
chính là ở chỗ các nhà kinh doanh Hà lan chủ trương phát triển kinh tế bằng
con đường buôn bán đầu cơ, không chú trọng vào phát triển nền công

a.Giá cả.
Giá cả thị trường là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị thị trường của hàng
hóa.Giá cả thị trường có những chức năng chủ yếu sau:
(-) Chức năng thông tin :chức năng thông tin về giá cả cho người sản xuất
biết được tình hình sản xuất trong các ngành,biết được tương quan cung-
cầu,biết được sự khan hiếm với các hàng hóa, nhờ đó các nhà sản xuất có
những quyết định thích hợp.
(-) Chức năng phân bổ các nguồn lực kinh tế : sự biến đổi về giá cả sẽ dẫn
đên sự biến động của cung cầu, sản xuất và tiêu dùng và dẫn đến biến đổi
trong phân bổ các nguồn lực kinh tế.
(-) Chức năng thúc đẩy cải tiến kỹ thuật: để có thể cạnh tranh được về giá cả,
buộc những người sản xuất phải giảm chi phí đến mức tối thiểu bằng cách áp
dụng kỹ thuật và công nghệ tiên tiến. Do đó thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học
công nghệ và sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Ngoài ra giá cả còn thực hiện chức năng phân phối lại.
Giá cả thị trường phụ thuộc vào các nhân tố:
Thứ 1 : Giá trị thị trường.
Giá trị thị trường là kết quả của sự san bằng các giá trị cá biệt của hàng hóa
trong cùng một ngành thông qua cạnh tranh.Cạnh tranh trong nội bộ ngành
dẫn tới hình thành một giá trị xã hội trung bình .Tùy thuộc vào trình độ phát
10
triển của lực lượng sản xuất của mỗi ngành mà giá trị thị trường có thể ứng
với một trong ba trường hợp sau:
(1) Giá trị thị trường của hàng hóa do giá trị của đại bộ phận hàng hóa sản
xuất ra trong điều kiện trung bình quyết định.
(2) Giá trị thị trường của hàng hóa do giá trị của đại bộ phận hàng hóa sản
xuất ra trong điều kiện xấu quyết định.
(3) Giá trị thị trường của hàng hóa do giá trị của đại bộ phận hàng hóa sản
xuất ra trong điều kiện tốt quyết định.
Thứ hai, Giá trị của tiền .

c.Lợi nhuận.
Lợi nhuận là mục đích và là động cơ để các doanh nghiệp tham gia thị
trường.Để cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho thị trường ,các nhà sản xuất phải
bỏ vốn trong quá trình sản xuất và kinh doanh .Họ chỉ muốn chi phí đầu vào
thấp nhất và bán hàng hóa với giá cao nhất để sau khi trừ đi các chi phí còn
dư dôi để mở rộng và phát triển sản xuất ,củng cố và tăng cường địa vị của
mình trên thị trường.
Khi tham gia vào thị trường các nhà sản xuất luôn tìm mọi cách để tối thiểu
hóa chi phí sản xuất ,làm chi phí cá biệt của mình nhỏ nhất để giành ưu thế
trên thị trường và thu được lợi nhuận tối đa.Để đạt được điều đó các nhà sản
xuất đầu tư nghiên cứu , ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật mới
nhất .Chính điều đó góp phần thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát triển.
Như vậy lợi nhuận là một trong những nhân tố quan trọng của kinh tế thị
trường mà nếu thiếu nó kinh tế thị trường sẽ không thể ra đời và phát triển
được.
d.Tiền tệ.
Tiền tệ là một loại hàng hóa đặc biệt được tách ra từ trong thế giới hàng hóa
làm vật ngang giá chung thống nhất; nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiện
quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa.
Lịch sử phát triển của tiền tệ là lịch sử phát triển các hình thái giá trị từ thấp
đến cao, từ hình thái giá trị giản đơn cho đến hình thái đầy đủ nhất của tiền tệ,
nó đã trải qua những hình thức :
(-) Hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên.
(-) Hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng.
(-) Hình thái chung của giá trị.
(-) Hình thái tiền tệ.
Bản chất của tiền tệ được thể hiện qua năn chức năng sau:
(-)Thước đo giá trị.
12
(-)Phương tiện lưu thông.

13
trị của nó ,tức trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết .
Trong sản xuất quy luật giá trị buộc người sản xuất phải làm sao cho mức
hao phí lao động cá biệt của mình phải phù hợp với mức hao phí lao động xã
hội cần thiết ,có như vậy họ mới có thể tồn tại được .Còn trong trao đổi hay
lưu thông phải thực hiện theo nguyên tắc ngang giá .Hai hàng hóa được trao
đổi với nhau khi cùng kết tinh một lượng lao động như nhau hoặc trao đổi
mua bán hàng hóa phải thực hiện với giá cả bằng gía trị .
Cơ chế tác động của quy luật giá trị được thể hiện cả trong trường hợp giá cả
bằng giá trị.
-Tác động của quy luật giá trị
Trong nền sản xuất hàng hóa quy luật giá trị có 3 tác động sau:
(+)Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa :
Quy luật giá trị điều tiết sản xuất hàng hóa được thể hiện trong hai trường
hợp sau:
Thứ nhất ,nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả cao hơn giá trị ,hàng hóa
bán chạy và lãi cao những người sản xuất sẽ mở rộng quy mô sản xuất ,đầu tư
thêm tư liệu sản xuất và sức lao động .Mặt khác ,những người sản xuất hàng
hóa khác nhau cũng có thể chuyển sang sản xuất mặt hàng này ,do đó tư liệu
sản xúât và sức lao động ở ngành này tăng lên quy mô sản xuất ngày càng mở
rộng.
Thứ hai,nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả thấp hơn giá trị sẽ bị lỗ
vốn.Tình hình đó buộc người sản xuất phải thu hẹp việc sản xuất mặt hàng
này hoặc chuyển sang sản xuất mặt hàng khác làm cho tư liệu sản xuất và sức
lao động ở ngành này giảm đi ở ngành khác lại có thể tăng lên.
Còn nếu như mặt hàng nào đó giá cả bằng gía trị thì người sản xuất có thể
tiếp tục sản xuất mặt hàng này.
Như vậy quy luật gía trị đã tự động điều tiết tỉ lệ phân chia tư liệu sản xuất
và sức lao động vào các ngành sản xuất khác nhau đáp ứng nhu cầu của xã
hội.

tích cực vừa có tác động tiêu cực .Do đó đồng thời với việc thúc đẩy sản xuất
hàng hóa phát triển ,nhà nước cần có những biện pháp để phát huy mặt tích
cực hạn chế mặt tiêu cực của nó ,đặc biệt trong điều kiện phát triển nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay.
c.Cạnh tranh và quan hệ cung cầu
- Cạnh tranh :
15
Cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất
hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất tiêu thụ
hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.
Cạnh tranh có thể diễn ra giữa những người sản xuất và người tiêu dùng
Trong cuộc cạnh tranh này người ta có thể dùng nhiều biện pháp khác nhau .
Cạnh tranh có vai trò rất quan trọng và là một trong những động lực mạnh
mẽ nhất thúc đẩy sản xuất phát triển.Nó buộc người sản xuất phải thường
xuyên năng động nhạy bén ,thường xuyên cải tiến kĩ thuật ,áp dụng tiến bộ
khoa học,công nghệ nâng cao tay nghề hoàn thiện tổ chức quản lý để nâng
cao năng xuất chất lượng và hiệu quả kinh tế .Đó chính là cạnh tranh lành
mạnh.Thực tế cho thấy ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì
ở đó thường trì trệ bảo thủ ,kém phát triển.
Bên cạnh mặt tích cực cạnh tranh cũng có mặt tiêu cực thể hiện ở cạnh
tranh không lành mạnh như dùng những thủ đoạn vi phạm đạo đức hoặc vi
phạm pháp luật nhằm thu được nhiều lợi ích nhất cho mình gây tổn hại đến
lợi ích của tập thể ,xã hội cộng đồng như làm hàng giả ,buôn lậu ,trốn thuế ,ăn
cắp bản quyền tung tin phá hoại uy tín đối thủ ,hoặc cạnh tranh làm tăng sự
phân hóa giau nghèo hoặc tổn hại đối với môi trường sinh thái …
- Quan hệ cung cầu và gía cả hàng hóa
(+)Cầu là nhu cầu có khả năng thanh toán .Như vậy cầu là nhu cầu nhưng
không phải là nhu cầu bất kì mà là nhu cầu được đảm bảo bằng số lượng tiền
tương ứng gọi là nhu cầu có khả năng thanh toán .Quy mô của cầu phụ thuộc
vào các nhân tố chủ yếu như :thu nhập ,sức mua của đồng tiền ,giá cả hàng

cung >cầu ,giá cả sẽ giảm xuống ,khi giá cả gỉam thì cầu sẽ tăng lên ngược lại
cung sẽ giảm dần và như vậy cung và cầu lại trở về xu thế cân bằng .Đó cũng
chính là cơ chế tự điều chỉnh của nền kinh tế hàng hóa .
Như vậy chúng ta thấy rằng :cạnh tranh,cung-cầu ,giá cả .gía trị là những
yếu tố luôn đi liền với nhau và cùng tác động đến sản xuất và lưu thông hàng
hóa.
II. Sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở nước ta.
1.Tính tất yếu khách quan phải phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam.

- Như mọi người đó biết, kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế phản
ảnh trỡnh độ phát triển nhất định của văn minh nhân loại. Từ trước đến nay
nó tồn tại và phát triển chủ yếu dưới chủ nghĩa tư bản, là nhân tố quyết định
sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản đó biết lợi
17
dụng tối đa ưu thế của kinh tế thị trường để phục vụ cho mục tiêu phát triển
tiềm năng kinh doanh, tỡm kiếm lợi nhuận, và một cỏch khỏch quan nú thỳc
đẩy lực lượng sản xuất của xó hội phỏt triển mạnh mẽ. Ngày nay, kinh tế thị
trường tư bản chủ nghĩa đó đạt tới giai đoạn phát triển khá cao và phồn thịnh
trong các nước tư bản phát triển.
Tuy nhiên, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa không phải là vạn năng.
Bên cạnh mặt tích cực nó cũn cú mặt trỏi, cú khuyết tật từ trong bản chất của
nó do chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa chi phối. Cùng với sự phát triển
của lực lượng sản xuất, càng ngày mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản càng bộc
lộ sâu sắc, không giải quyết được các vấn đề xó hội, làm tăng thêm tính bất
công và bất ổn của xó hội, đào sâu thêm hố ngăn cách giữa người giàu và
người nghèo. Hơn thế nữa, trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay, nó cũn ràng
buộc cỏc nước kém phát triển trong quỹ đạo bị lệ thuộc và bị bóc lột theo
quan hệ "trung tâm - ngoại vi". Có thể nói, nền kinh tế thị trường tư bản chủ
nghĩa toàn cầu ngày nay là sự thống trị của một số ít nước lớn hay là một số

- Thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể tuy cùng dựa trên chế độ
công hữu về tư liệu sản xuất, nhưng các đơn vị vẫn có sự khác biệt nhất định,
có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, có lợi ích riêng. Mặt khác các đơn
vị kinh tế còn có sự khác nhau về trình độ kỹ thuật- công nghệ, về trình độ
quản lý, nên chi phí sản xuất và hiệu quả sản xuất cũng khác nhau.
- Quan hệ hàng hóa- tiền tệ còn rất cần thiết trong quan hệ kinh tế đối ngoại,
đặc biệt trong điều kiện phân công lao động quốc tế ngày càng sâu sắc, vì mỗi
nước là một quốc gia riêng biệt, là người sở hữu đối với các hàng hóa đưa ra
trao đổi trên thị trường thế giới. Sự trao đổi ở đây phải tuân theo nguyên tắc
ngang giá.
Như vậy khi kinh tế thị trường tồn tại ở nước ta là một tất yếu khách quan thì
không thể lấy ý chí chủ quan mà xóa bỏ được.
Đồng thời Việt Nam là một nước nghèo, kinh tế kỹ thuật lạc hậu, trỡnh độ
xó hội cũn thấp, lại bị chiến tranh tàn phỏ nặng nề. Đi lên chủ nghĩa xó hội là
mục tiờu lý tưởng của những người cộng sản và nhân dân Việt Nam, là khát
vọng ngàn đời thiêng liêng của cả dân tộc Việt Nam. Nhưng đi lên chủ nghĩa
xó hội bằng cỏch nào? Đó là câu hỏi lớn và cực kỳ hệ trọng, muốn trả lời thật
không đơn giản. Suốt một thời gian dài Việt Nam, cũng như nhiều nước khác,
đó ỏp dụng mụ hỡnh chủ nghĩa xó hội kiểu Xụ-viết, mụ hỡnh kinh tế kế
hoạch tập trung mang tớnh bao cấp. Mụ hỡnh này đó thu được những kết quả
quan trọng, nhất là đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ đất nước có chiến tranh.
Nhưng về sau mô hỡnh này bộc lộ những khuyết điểm; và trong công tác chỉ
19
đạo cũng phạm phải một số sai lầm mà nguyên nhân sâu xa của những sai lầm
đó là bệnh giáo điều, chủ quan, duy ý chớ, lối suy nghĩ và hành động đơn
giản, nóng vội, không tôn trọng quy luật khách quan, nhận thức về chủ nghĩa
xó hội khụng đúng với thực tế Việt Nam.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn hơn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xó hội và
con đường đi lên chủ nghĩa xó hội ở Việt Nam, Đại hội VI Đảng Cộng sản
Việt Nam (tháng 12-1986) đó đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước

hướng xó hội chủ nghĩa". Đại hội khẳng định: phát triển kinh tế thị trường
định hướng xó hội chủ nghĩa là đường lối chiến lược nhất quán, là mô hỡnh
kinh tế tổng quỏt trong suốt thời kỳ quỏ độ đi lên chủ nghĩa xó hội ở Việt
Nam. Đây là kết quả sau nhiều năm nghiên cứu, tỡm tũi, tổng kết thực tiễn; và
là bước phát triển mới về tư duy lý luận của Đảng cộng sản Việt Nam.
2.Quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta
Quá trình chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị
trường ở nước ta có thể chia thành một số giai đoạn nhưng giữa các giai đoạn
không có danh giới tuyệt đối nên phải chọn sự kiện điển hình và quan trọng
để làm mốc phân chia các giai đoạn . Quá trình chuyển sang nền KTTT ở
nước ta có thể chia thành các giai đoạn:1979-1985,1986-1990 và từ 1991 đến
nay.
a.Giai đoạn từ 1979-1985
Hội nghị trung ương Đảng lần thứ 6 khóa IX tháng 9/1979có thể được coi là
mốc đánh dấu khởi đầu công cuộc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta
Tại hội nghị lần đầu tiên Đảng ta đưa ra quan điểm phát triển kinh tế hàng hóa
,kinh tế nhiều thành phần với chủ trương cụ thể như “bỏ ngăn sông cấm chợ
“thừa nhận nhiều thành phần kinh tế v ới quy định cụ thể ;ở miền Nam có
năm thành phần ,miền Bắc có ba thành phần :kinh tế tư bản tư nhân không
được thuê mướn quá 5-10 công nhân.
Hội nghị trung ương 6 đề ra một số quan điểm ,chủ trương đổi mới ,tuy chưa
cơ bản và toàn diện như đại hội 6 nhưng đó là bước khởỉ đầu có í nghĩa .Từ
những quan điểm đó nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích
pt sản xuất .Những chính sách tiêu biểu như :Chỉ thị 357 của chính phủ (3-10-
1979) cho phép các hộ nông dân được nuôi và bán trâu bò ,chấp nhận trâu bò
là hàng hóa .Chỉ một năm sau khi ban hành chính sách tại nhiều địa phương ở
phía Bắc đàn trâu bò đã tăng gấp đôi .Chỉ thị 100 của ban bí thư về khoán sản
phẩm cuối cùng cho xã viên hợp tác xã nông nghiệp đã tạo điều kiện cho
nông dân bổ xung đầu tư tích cực lao động đạt sản lượng vượt khoán của hợp
tác xã .Trong công nghiệp có nghị quyết 25 CP cho phép các xí nghiệp làm kế

cách mạng sâu sắc tiến hành đồng thời trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế.
(+) Thực sự chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế
thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN.
22
(+) Chuyển từ nền kinh tế chủ yếu là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể
sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần thực hiện tự do kinh doanh theo
pháp luật .
(+)Thực hiện cơ cấu kinh tế mở đa dạng hóa và đa phường hóa quan hệ kinh
tế đối ngoại từng bước hội nhập với nền kinh tế khu vực và trên thế giới .
Trên cơ sở đó ,vai trò quản lý của nhà nước cũng chuyển đổi từ quản lý trực
tiếp sang quản lý vĩ mô nền kinh tế bằng pháp luật ,các chính sách kinh tế
,các công cụ điều tiết có hiệu lực .
Với những quan điểm đổỉ mới của nghị quyết đại hội 7 chúng ta đã có những
biện pháp và chủ trương tích cực trên nhiều mặt .Trong công nghiệp nghị
định 217HĐBT của hội đồng bộ trưởng ban hành đã ‘cởi trói ‘phát huy quyền
tự chủ kinh doanh của đơn vị kinh tế quốc doanh .Đối với nông nghiệp nghị
quyết của bộ chính trị đã xác định hợp tác xã là đơn vị kinh tế tự chủ ,tự
quản ;hộ gia đình xã viên là đơn vị nhận khoán của hợp tác xã và dần dần
chuyển thành đơn vị kinh tế độc lập tự chủ .Về sử lý giá cả từ hội nghị trung
ương lần 6 khóa 6 vào tháng 3/1989nhà nứơc quyết định thực hịên chuyển
toàn bộ lương thực sang kinh doanh ,bỏ hoàn tòan chế độ cung cấp lường
thực chuyển 80%vật tư sang kinh doanh còn lại 20% vẫn giữ giá phân
phối.Đây là lần đầu tiên trên thực tế về cơ bản chúng ta có hàng hóa theo
đúng nghĩa ,thực hiện quan điểm một thị trường một cơ chế giá kinh doanh có
tác động lớn trong việc xóa bỏ cơ chế tập trung bao cấp chuyển sàng cơ chế
thị trường.Mặt khác chúng ta đã tạo r a được tiền đề cần thiết để mở rộng hoạt
động kinh tế đối ngoại thông qua việc ban hành luật đầu tư ,đẩy mạnh hợp tác
đầu tư với nước ngoài .
Tóm lại thời kì này của công cuôc đổi mới đã đạt được nhiều bước tíên đáng
khích lệ đã đưa nền kinh tế nước ta vào qũy đạo phát trỉênvốn có của nó .Đó

ra khỏi tình trạng kém phát triển , nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần
của nhân dân , tạo nền tảng đểt đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước
công nghiệp theo hưóng hiện đại.Nguồn lực con người,năng lực khoa học và
công nghệ ,kết cấu hạ tầng , tiềm lực kinh tế,quốc phòng và an ninh được tăng
cường ; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành
về cơ bản;vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao”.
3.Bản chất, đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam
Lựa chọn mụ hỡnh kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa khụng
phải là sự gỏn ghộp chủ quan giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xó hội, mà
là sự nắm bắt và vận dụng xu thế vận động khách quan của kinh tế thị trường
24
trong thời đại ngày nay. Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở nhận thức tính
quy luật phát triển của thời đại và sự khái quát, đúc rút từ kinh nghiệm phát
triển kinh tế thị trường thế giới, đặc biệt là từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xó
hội ở Việt Nam và ở Trung Quốc, để đưa ra chủ trương phát triển nền kinh tế
thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa, nhằm sử dụng kinh tế thị trường để
thực hiện mục tiêu từng bước quá độ lên chủ nghĩa xó hội. Kinh tế thị trường
định hướng xó hội chủ nghĩa là mụ hỡnh kinh tế trong thời kỳ quỏ độ đi lên
chủ nghĩa xó hội. Đây là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử của
kinh tế thị trường. Cũng có thể nói kinh tế thị trường là "cái phổ biến", cũn
kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa là "cỏi đặc thù" của Việt Nam,
phù hợp với điều kiện và đặc điểm cụ thể của Việt Nam.
Nói kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa cú nghĩa đây không phải
là kinh tế thị trường tự do theo kiểu tư bản chủ nghĩa, cũng không phải là kinh
tế bao cấp, quản lý theo kiểu tập trung quan liờu; và cũng chưa hoàn toàn là
kinh tế thị trường xó hội chủ nghĩa, bởi vỡ như trên đó núi Việt Nam đang ở
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xó hội, vừa cú vừa chưa có đầy đủ các yếu
tố của chủ nghĩa xó hội.
Chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa là sự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status