CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ DỰ ÁN FDI VÀ CHUẨN BỊ ĐẦU TƯ CỦA DỰ ÁN FDI - Pdf 63

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ DỰ ÁN FDI
VÀ CHUẨN BỊ ĐẦU TƯ CỦA DỰ ÁN FDI
I. Lí luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài và dự án FDI
1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài:
1.1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Trong xu hướng toàn cầu hóa, nhất thể hóa nền kinh tế thế giới hiện nay, hoạt
động thương mại quốc tế ngày càng phát triển sâu, rộng. Nếu như trước đây, hoạt động
thương mại quốc tế chỉ bao gồm xuất khẩu hàng hóa thì hiện nay hoạt động này đã
được mở rộng sang cả hoạt động, bảo hiểm, tài chính…Trong đó, đầu tư nước ngoài là
sự di chuyển các nguồn lực từ nước này sang nước khác để tiến hành hoạt động đầu tư
nhằm tìm kiếm lợi ích hữu hình hay vô hình. Về bản chất, đây là hình thức xuất khẩu tư
bản, một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hóa, cùng hỗ trợ và bổ sung cho nhau
trong quá trình chiếm lĩnh thị trường của các tập đoàn, công ty đa quốc gia hay xuyên
quốc gia hiện nay.
Theo định nghĩa và phân loại trong “Tài liệu hướng dẫn về Cán cân Thanh toán”
của quỹ tiền tệ quốc tế IMF (International Monetary Fund), đầu tư nước ngoài của tư
nhân được chia làm 3 loại: đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp và phương thức đầu tư
khác. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment, FDI) là một công cuộc
đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp (direct investor) đạt
được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp
(direct investment enterprise) trong một quốc gia khác. Quyền sở hữu này phải tối thiểu
là 10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận là FDI. Cũng theo hướng trên, cách định
nghĩa của OECD lại đưa ra một mức chuẩn về tỉ lệ góp vốn: “một doanh nghiệp có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài là một doanh nghiệp liên doanh hoặc không liên doanh
trong đó nhà đầu tư trực tiếp sở hữu tối thiểu là 10% cổ phần phổ thông hoặc 15%
quyền biểu quyết.”
.
Điểm mấu chốt trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài chính là
quyền kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, không phải mọi quốc gia đều
sử dụng ngưỡng 10% để xây dựng định nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài. Bởi vậy các
số liệu thống kê lượng vốn FDI của các tổ chức khác nhau có thể không giống nhau.

Điều này được thể hiện thông qua việc các nhà đầu tư nước ngoài soạn thảo dự án đầu
tư và tiến hành theo các thủ tục pháp lý nhất định của nước nhận đầu tư để được cấp
giấy chứng nhận đầu tư hay các nhà đầu tư nước ngoài phải tiến hành đầu tư thông qua
các dự án, gọi là dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (dự án FDI). Có nhiều cách định
nghĩa khác nhau về dự án FDI tùy theo góc độ tiếp cận.
Nếu xét về mặt hình thức, dự án FDI là một tập hồ sơ, tài liệu do nhà đầu tư nước
ngoài trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các kế hoạch hoạt động của nhà đầu tư
nước ngoài tại nước nhận đầu tư trong tương lai nhằm đạt được một mục tiêu nhất định.
Nếu xét về mặt nội dung, dự án FDI bao gồm toàn bộ các hoạt động có liên quan
tới nhau, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ về thời gian, địa điểm tiến hành thông
qua việc sử dụng các nguồn lực hiện có để tạo ra các kết quả nhất định trong tương lai
đi kèm với thực hiện được các mục tiêu đã định của dự án.
Như vậy, một cách chung nhất, có thể hiểu dự án FDI là dự án đầu tư do các tổ
chức kinh tế và cá nhân ở nước ngoài tự mình hoặc cùng các tổ chức kinh tế hay cá
nhân ở nước tiếp nhận đầu tư bỏ vốn đầu tư và trực tiếp quản lý, điều hành để thu lợi
nhuận trong kinh doanh.
2.2. Vai trò của dự án FDI:
Các dự án FDI được tiến hành tại nước nhận đầu tư tạo ra các tác động to lớn
đối với cả nhà đầu tư nước ngoài lẫn nước tiếp nhận đầu tư
2.2.1. Với nhà đầu tư nước ngoài:
Xu thế cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các tập đoàn kinh tế trên thế giới đòi
hỏi họ phải luôn tìm cách đổi mới công nghệ và mục tiêu quan trọng nhất đối với họ là
giảm tối đa giá thành cũng như mở rộng thị trường sản phẩm. Thực hiện dự án FDI tại
nước có thị trường rộng lớn, nguồn nguyên liệu đầu vào dồi dào, chi phí rẻ là phương
tiện hữu hiệu đối với họ để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Đồng thời, thông qua thực
hiện dự án FDI, nhà đầu tư nước ngoài có cơ hội để mở rộng thị trường sản phẩm của
mình, được hưởng các ưu đãi của nước nhận đầu tư về thuế thu nhập doanh nghiệp,
thuế xuất nhập khẩu… của nước nhận đầu tư nhằm làm giảm giá thành sản xuất, tăng
tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, từ đó làm tăng lợi nhuận.
Bên cạnh đó, thực hiện dự án FDI tại nước tiếp nhận đầu tư cũng giúp cho nhà

căn cứ để nước nhận đầu tư xem xét tính khả thi của dự án. Nếu một dự án đầu tư gây ô
nhiễm môi trường nhưng lại chọn vị trí đặt ở khu đông dân cư thì cũng không được
chính quyền nước tiếp nhận đầu tư chấp nhận hay một dự án có thể thực hiện được tại
thời điểm hiện tại nhưng chính quyền nước nhận đầu tư xét thấy ảnh hưởng nếu thực
hiện dự án trong tương lai thì có thể họ cũng từ chối cấp giấy chứng nhận đầu tư.
2.3. Đặc trưng của dự án FDI:
Với đặc thù là có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài nên dù có những điểm
giống so với các dự án trong nước ở tính mục tiêu của dự án, việc huy động và sử dụng
các nguồn lực ở hiện tại, tiến hành theo một chu trình cụ thể từ chuẩn bị đầu tư đến
thực hiện dự án và kết thúc dự án, các dự án FDI cũng có những đặc trưng riêng, chứa
đựng nhiều yếu tố phức tạp hơn:
Một là, sự tham gia và trực tiếp quản lý và điều hành của nhà đầu tư nước ngoài.
Tùy theo hình thức đầu tư mà mức độ tham gia từ phía nhà đầu tư nước ngoài cũng
khác nhau. Đối với hình thức dự án 100% vốn nước ngoài, chủ đầu tư nước ngoài sẽ
trực tiếp điều hành, quản lý đối với vốn đầu tư của mình. Trong hình thức liên doanh,
sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài tùy thuộc vào mức đô góp vốn của hai bên. Do
có sự tham gia quản lý, điều hành của nhà đầu tư nước ngoài với quan điểm về quản lý,
điều hành cũng như ngôn ngữ, phong tục tập quán khác nhau nên sự thống nhất giữa
các bên trong quản lý (đặc biệt trong hình thức liên doanh) là rất khó khăn. Bên cạnh
đó, với sự tham gia của yếu tố nước ngoài, bên cạnh động cơ lợi nhuận cũng cần chú ý
đến các động cơ chính trị xã hội có thể bị che đậy bởi các hoạt động kinh tế đòi hỏi các
cơ quan quản lý cấp giấy chứng nhận đầu tư phải xem xét tới động cơ của nhà đầu tư
nước ngoài. Ngoài ra, cũng do có yếu tố nước ngoài nên việc xem xét cấp giấy chứng
nhận đầu tư gặp nhiều khó khăn hơn do thiếu thông tin về năng lực tài chính, quản lý
của nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt đối với nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào
Việt Nam.
Hai là, dự án FDI chịu sự chi phối đồng thời của nhiều hệ thống pháp luật khác
nhau của cả nước đi đầu tư cũng như nước nhận đầu tư cũng như các thông lệ quốc tế,
mối quan hệ về hợp tác về kinh tế giữa các quốc gia. Do đó, để tiến hành các hoạt động
đầu tư tại nước nhận đầu tư đòi hỏi nhà đầu tư nước ngoài phải tìm hiểu và thích nghi

cơ quan quản lý đầu tư có thể đánh giá, xem xét tình hình, sự phát triển cũng như xu
hướng chuyển đổi của từng hình thức đầu tư theo thời kì, giai đoạn. Ví dụ như ở Việt
Nam trước đây, hình thức đầu tư liên doanh chiếm đa số thì hiện nay hình thức 100%
vốn nước ngoài với những ưu thế nhà đầu tư nước ngoài có thể hoàn toàn trực tiếp quản
lý với dự án chiếm đa số trong các loại hình đầu tư.
Theo lĩnh vực đầu tư, dự án FDI có thể được chia thành dự án FDI đầu tư vào
lĩnh vực công nghiệp, nông lâm ngư nghiệp và dịch vụ. Sự phân chia theo tiêu thức này
gắn liền với cơ cấu ngành của nền kinh tế. Từ đó có thể đánh giá được tác động của các
dự án FDI đối với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung cũng như vai trò của khu
vực FDI với sự phát triển của từng ngành nói riêng để có những biện pháp điều chỉnh
hay những biện pháp khuyến khích kịp thời.
Theo địa giới hành chính, có thể phân chia dự án FDI theo các địa phương và
vùng lãnh thổ. Việc so sánh cũng như đánh giá số lượng dự án FDI tại các địa phương
khác nhau cho phép tìm ra các nguyên nhân giải thích tại sao có địa phương dù ở vị trí
Chuẩn bị dự án FDI Thực hiện dự án FDI Kết thúc dự án FDI
thuận lợi nhưng vẫn chưa thu hút được nhiều dự án FDI tương xứng với tiềm năng của
mình để từng địa phương có thể nhìn nhận, xem xét, dựa trên mục tiêu phát triển kinh tế
- xã hội của địa phương mình đưa ra các biện pháp thích hợp nhằm thu hút các nhà đầu
tư nước ngoài tiến hành đầu tư tại tỉnh mình.
Bên cạnh các tiêu thức trên, các dự án FDI có thể được phân chia theo một số
tiêu thức khác như: dựa vào mức độ tập trung của các dự án FDI có thể chia thành dự
án FDI đầu tư vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và các dự án
FDI độc lập nằm ngoài khu công nghiệp; dựa vào đối tác đầu tư nước ngoài có thể phân
chia dự án FDI theo từng đối tác riêng để có những biện pháp riêng nhằm đánh giá cũng
như đưa ra các biện pháp nhằm thu hút FDI theo từng đối tác riêng.
Như vậy, có nhiều cách phân loại dự án FDI khác nhau tùy theo mục đích quản
lý cũng như đánh giá về tình hình thu hút FDI theo từng giai đoạn, thời kì nhằm đưa ra
các biện pháp phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
2.5. Chu kì của một dự án FDI:
Cũng giống như các dự án khác, dự án FDI được tiến hành trong một khoảng

quan có thẩm quyền nước tiếp nhận đầu tư xem xét cấp giấy chứng nhận đầu tư, sau
giai đoạn này dự án FDI đã hình thành về mặt pháp lý. Số lượng công việc mà nhà đầu
tư cần thực hiện trong giai đoạn này có thể khác nhau tùy theo hình thức đầu tư mà họ
lựa chọn, có thể có hình thức đầu tư cần thực hiện công việc này nhưng ở hình thức đầu
tư khác không cần thực hiện công việc đó. Đối với các dự án liên doanh, nhà đầu tư
nước ngoài cần có thêm bước lựa chọn đối tác phía Việt Nam, đồng thời hồ sơ dự án
cũng cần phải có thêm nhiều tài liệu hơn như đàm phán, thỏa thuận điều lệ, hợp đồng
liên doanh. Còn trong hình thức đầu tư là 100% vốn nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoài
không phải thực hiện bước công việc này. Cũng tương tự, trong trường hợp nhà đầu tư
nước ngoài có dự án đầu tư chỉ cần phải đăng kí ( dự án FDI có vốn dưới 300 tỉ đồng)
thủ tục đầu tư cũng đơn giản hơn so với khi nhà đầu tư nước ngoài có dự án đầu tư
thuộc diện thẩm tra với các yêu cầu về thẩm tra hồ sơ, năng lực của chủ đầu tư. Khi dự
án FDI đã được cơ quan có thẩm quyền của nước nhận đầu tư cấp giấy chứng nhận đầu
tư cũng tức là dự án đã được hình thành trên cơ sở pháp lý, nhà đầu tư sẽ triển khai thực
hiện dự án trong giai đoạn tiếp theo. Đây là giai đoạn có vai trò quan trọng, tạo tiền đề
cho việc triển khai thực hiện dự án trong các giai đoạn tiếp theo và nhất là với sự thành
công của toàn bộ dự án, đặc biệt trong giai đoạn này, khâu lập dự án đóng vai trò quan
trọng.
Giai đoạn thực hiện dự án FDI: trong giai đoạn này có thể chia ra thành hai giai
đoạn nhỏ hơn là giai đoạn triển khai thực hiện dự án và vận hành dự án. Trong giai
đoạn triển khai thực hiện dự án nhà đầu tư nước ngoài tiến hành các công việc như thiết
lập bộ máy quản lý, thiết kế và lập dự toán thi công xây lắp công trình, thực hiện các
thủ tục hành chính về thuê đất, giao đất, góp vốn, thi công xây lắp công trình, nghiệm
thu công trình và tuyển dụng lao động. Đây có thể coi là giai đoạn biến dự án mới được
hình thành trên giấy tờ trở thành hiện thực để chuẩn bị bắt đầu đi vào sản xuất kinh
doanh tạo ra sản phẩm thực hiện mục tiêu của dự án. Tiếp sau giai đoạn này, dự án sẽ
chuyển sang giai đoạn vận hành. Giai đoạn này được bắt đầu kể từ khi dự án đi vào sản
xuất, kinh doanh với công suất vận hành tăng dần ở thời điểm ban đầu, đạt tối đa và
giảm dần khi dự án kết thúc.
Giai đoạn kết thúc dự án FDI: dự án sẽ được tổng kết, đánh giá đồng thời với

hỏi nhà đầu tư nước ngoài phải tìm hiểu kĩ để dự án có thể nhanh chóng được cấp phép.
Ngoài ra, bên cạnh những nỗ lực của nhà đầu tư trong hoàn thiện hồ sơ pháp lý
cho dự án thì quy trình, thủ tục cũng như sự hỗ trợ từ phía nước nhận đầu tư cũng đóng
vai trò quan trọng. Sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong tiếp
nhận, thẩm tra cấp giấy phép đầu tư cũng như quy trình, thủ tục đầu tư đơn giản hay
phức tạp sẽ ảnh hưởng tới thời gian dự án được cấp phép, do đó cũng sẽ ảnh hưởng tới
các giai đoạn tiếp sau của quá trình chuẩn bị đầu tư.
2. Các công việc chính cần tiến hànhtrong giai đoạn chuẩn bị đầu tư:
Do tính chất phức tạp của mình, số lượng các công việc cụ thể mà dự án FDI cần
phải thực hiện là rất lớn và tùy theo nhà đầu tư lựa chọn hình thức đầu tư nào cũng như
quy mô dự án của nhà đầu tư mà số lượng công việc cụ thể là không giống nhau. Tuy
nhiên, có thể phân các công việc cụ thể trong giai đoạn này ra một số công việc chính
như sau:
Hình 1.3 – Các công việc chính cần thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư
Chú thích: : công việc nhà đầu tư nước ngoài cần thực hiện
: hoạt động hỗ trợ chuẩn bị đầu tư của nước nhận đầu tư
Đối với nhà đầu tư nước ngoài lần đầu tiên đầu tư vào Việt nam, việc tìm hiểu
các bước công việc mà mình cần phải làm đóng vai trò quan trọng. Chỉ có trên cơ sở
hiểu rõ những quy định, thủ tục đầu tư của nước sở tại, nhà đầu tư mới có thể đẩy
nhanh thời gian được cấp giấy chứng nhận đầu tư và qua đó đẩy nhanh quá trình hiện
thực dự án. Chuẩn bị đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài và các hoạt động thu hút đầu tư
từ phía nước tiếp nhận đầu tư là hai quá trình được tiến hành song song với nhau trong
đó các hoạt động chuẩn bị đầu tư là công việc của bản thân nhà đầu tư nước ngoài
nhưng thông qua các hoạt động thu hút đầu tư từ phía nước nhận đầu tư như các biện
pháp xúc tiến đầu tư, các quy định pháp lý có liên quan tới môi trường đầu tư và thực
Thực hiện các
thủ tục pháp lý
để được cấp
giấy chứng nhận
đầu tư


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status