Tài liệu ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ VIỆC QUÁN TRIỆN CÁC ĐẶC ĐIỂM ĐÓ TRONG VIỆC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ - Pdf 86

Trường ĐH Kinh tế và quản trị kinh doanh Thái Nguyên
ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ VIỆC QUÁN
TRIỆN CÁC ĐẶC ĐIỂM ĐÓ TRONG VIỆC QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ
Môn: Kinh tế đầu tư
Nhóm 9 k4ktdtA
Trường ĐH Kinh tế và quản trị kinh doanh Thái Nguyên
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam kể từ sau khi chuyển từ cơ chế kế hoạch tập trung sang
nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước , đã có những bước
tiến đáng kể :thu nhập quốc dân, kim ngạch xuất nhập khẩu không ngừng tăng
với tốc độ cao; sản phẩm, hàng hoá trên thị trường ngày càng đa dạng, phong
phú; đời sống người dân được nâng cao; …Để có được những kết quả này, vai
trò của hoạt động đầu tư là vô cùng quan trọng. Đặc biệt khi Việt Nam tham gia
vào quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế, việc đẩy mạnh hoạt động
đầu tư nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh là yêu cầu cấp thiết. Trong những
năm gần đây, môi trường, thể chế, chính sách và luật pháp của Nhà nước ngày
càng thông thoáng, phù hợp hơn đã và đang khuyến khích tất cả mọi thành phần
kinh tế phát triển, khơi dậy sức dân và huy động mọi nguồn vốn cho công cuộc
CNH-HĐH đất nước.
Làm thế nào để hoạt động đầu tư có hiệu quả? Sự quản lý của Nhà nước và chủ
đầu tư là một yếu tố quan trong quyết định trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động
đầu tư. Đến đây một vấn đề được đặt ra nữa là: làm thế nào để Nhà nước quản lý
có hiệu quả? Vì đầu tư phát triển có những đặc điểm khác biệt so với các loại
đầu tư khác nên các cơ quan, chủ thể quản lý cần nắm bắt, hiểu rõ được những
đặc điểm này và vận dụng chúng vào công tác quản lý thực tiễn. Vì vậy chúng
tôi làm bài tiểu luận này nhằm tìm hiểu chính về năng lưc cũng như hạn chế
trong công tác quản lý hoạt động đầu tư phát triển ở Việt Nam. Từ đó đưa ra
một số giải pháp về vấn đề này. Dưới đây là nội dung chi tiết:
NỘI DUNG
2.1 Lý thưyết chung về đầu tư phát triển

hoặc tài sản thực như nhà xưởng, máy móc thiết bị…
+ Đầu tư cho đối tượng phi vật chất như: Đầu tư vào tài sản trí tuệ và
nguồn nhân lực như đào tạo, nghiên cứu khoa học, y tế…
Môn: Kinh tế đầu tư
Nhóm 9 k4ktdtA
Thu hồi tư
SXKD
Thu hồi tư
đầu tư
Thu hồi
vốn
SXKD
Đầu tư
Vốn
Người đầu tư
Ngưởi cho vay
Người thực
hiện đầu tư
Người sản xuất
kinh doanh
Trường ĐH Kinh tế và quản trị kinh doanh Thái Nguyên
Trong các loại đầu tư trên, đầu tư cho đối tượng vật chất là điều kiện tiên quyết,
cơ bản làm tăng tiềm lực của nền kinh tế,đầu tư tài sản trí tuệ và các nguồn nhân
lực là điều kiện tất yếu để đảm bảo cho đầu tư các đối tượng vật chất tiên hành
thuận lợi và đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao.
- Theo phân cấp quản lý: Đầu tư phát triển chia thành đầu tư theo các dự
án quan trọng cấp quốc gia, dự án nhóm A, B, C.
Tùy theo tính chất và quy mô đầu tư của dự án mà phân thành dự án quan trọng
cấp quốc gia, dự án nhóm A, B, C, trong đó dự án quan trọng cấp quốc gia do
Quốc hội quyết định, dự án nhóm B do Thủ tướng Chính phủ quyết định, dự án

Môn: Kinh tế đầu tư
Nhóm 9 k4ktdtA
Trường ĐH Kinh tế và quản trị kinh doanh Thái Nguyên
hạn, đặc điểm kỹ thuật của quá trình thực hiện đầu tư để tái sản xuất mở rộng
các tài sản cố định là phức tạp, đòi hỏi số vốn lớn, thu hồi vốn lâu (nếu có thể
thu hồi).
Đầu tư vận hành chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn đầu tư, đặc điểm kỹ thuật
của quá trình thực hiện đầu tư không phức tạp. Đầu tư tư vận hành cho các cơ sở
sản xuất kinh doanh có thêt thui nhanh sau khi đưa ra các kết quả đầu tư nói
chung vào hoạt động.
- Theo giai đoạn hoạt động của các kết quả đầu tư trong quá trình tái
sản xuất xã hội, có thể phân loại đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh thành
đầy tư thương mại và đầu tư sản xuất.
+ Đầu tư thương mại là hoạt động đầu tư mà thời gian thực hiện đầu tư
và hoạt động của các kết quả đầu tư để thu hồi vốn đầu tư ngắn, vốn vận động
nhanh, độ mạo hiểm thấp do trong thời gian ngắn tính bất định không cao, lại dễ
dự đoán và dự đoán dễ đạt độ chính xác cao.
+ Đầu tư sản xuất là loại đầu tư dài hạn (5;10;20 năm hoặc lâu hơn), vốn
đầu tư lớn, thu hồi chậm, thời gian thực hiện đầu tư lâu, độ mạo hiểm cao, vì
tính kỹ thuật của đầu tư phức tạp, phải chịu tác động của nhiều yếu tố bất định
trong tuơng lai không thể dự đoán hết và dự đoán chính xác được (về nhu cầu,
giá cả đầu vào và đầu ra, cơ chế chính sách, tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật,
thiên tai, sự ổn định chính trị…). Loại đầu tư này phải được chuẩn bị kỹ, phải cố
gắng dự đoán những gì có liên quan đến kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu
tư trong tương lai xa; xem xet các biện pháp xử lý khi các yếu tố bất định xảy ra
để đảm bảo thu hồi đủ vốn và có lãi khi hoạt động đầu tư kết thúc.
Trong thực tế, trên giác độ điều tiết vĩ mô, nhà nước thông qua các cơ chế chinh
sách của mình để làm sao hướng được các nhà đầu tư không chỉ đầu tư vào lĩnh
vực thương mại mà cả vào lĩnh vực sản xuất, theo các định hướng và mục tiều
đã dự kiến trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong cả nước.

lượng và chất). Đây là loại đầu tư để tái sản xuất mở rộng, là biện pháp chủ yếu
để tăng thêm việc làm cho người lao động, là tiền đề để thực hiện đầu tư tài
chính vầ đầu tư chuyển dịch cơ cấu. Đầu tư trực tiếp được thực hiện bởi người
trong nước và cả nước ngoài. Do vậy, việc cân đối giữa hai luồng vốn đầu tư ra
và vào và việc coi trọng cả hai luồng vốn này là hết sức cần thiết.
Chính sự điều tiết của bản thân thị trường và các chính sách khuyến khích đầu tư
của nhà nước sẽ hướng việc sử dụng vốn của các nhà đầu tư theo định hướng
của nhà nước, từ đó tạo nên được một cơ cấu đầu tư phục vụ cho việc hình thành
cơ cấu kinh tế hợp lý.
- Theo nguồn vốn trên phạm vi quốc gia, hoạt động đầu tư chia thành:
Đầu tư bằng nguồn vốn trong nước và đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài.
+ Đầu tư bằng nguồn vốn trong nước: các hoạt động đầu tư được tài trợ
tư nguồn vốn tích lũy của ngân sách, của doanh nghiệp, tiền tiết kiệm của dân
cư.
+ Đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài: hoạt đông đầu tư được thực hiện
bằng các nguồn vốn đầu tư gián tiếp và trực tiếp nước ngoài.
Cách phân loại này có tác dụng chỉ rõ vai trò từng nguồn vốn trong quá trình
phát triển kinh tế xã hội đất nước. Trong đó, phải thống nhất quan điểm: vốn
trong nước là quyết định, vốn đầu tư nược ngoài là quan trọng.
- Theo vùng lãn thổ chia thành đầu tư phát triển của các vùng lãnh thổ,
các vùng kinh tế trọng điểm, đầu tư khu vực thành thị và nông thôn… Cách
Môn: Kinh tế đầu tư
Nhóm 9 k4ktdtA
Trường ĐH Kinh tế và quản trị kinh doanh Thái Nguyên
phân chia này phản ánh tình hình đầu tư của từng tỉnh, từng vùng kinh tế và ảnh
hưởng của đầu tư đối với tình hình phát triển kinh tế - xã hôi ở từng địa phương.
Ngoài ra, trong thực tế, để đáp ứng yêu cầu quản lý và nghiên cứu kinh tế người
ta còn phân chia đầu tư theo quan hệ sở hữu, theo quy mô và theo các tiêu thức
khác nữa.
• Đặc điểm của đầu tư phát triển.

dụng và đào thải công trình.Các thành quả của hoạt động đầu tư có thể kéo dài
hàng chục năm hoặc lâu hơn thế như Vạn lý trường thành ở Trung Quốc, nhà thờ
Môn: Kinh tế đầu tư
Nhóm 9 k4ktdtA
Trường ĐH Kinh tế và quản trị kinh doanh Thái Nguyên
và đấu trường La Mã ở Italia...trong quá trình vận hành các kết quả của đầu tư
phát triển chịu tác động cả hai mặt, tích cực và tiêu cực của nhiêù yếu tố tự
nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội...Do đó, yêu cầu đặt ra đối với công tác đầu tư là
rất lớn, nhất là về công tác dự báo về cung cầu thị trường sản phẩm đầu tư trong
tương lai, quản lý tốt quá trình vận hành, nhanh chóng đưa thành quả đầu tư đưa
vào sử dụng, hoạt động tối đa công suất để nhanh chóng thu hồi vốn, tránh hao
mòn vô hình, chú ý đến cả độ trễ thời gian trong đầu tư. Đây là đặc điểm có ảnh
hưởng rất lớn đến công tác quản lý hoạt động đầu tư.
- Đặc điểm thứ tư là các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển
mà là các công trình xây dựng thường phát huy tác dụng ngay tại nơi nó
được tạo dựng nên, do đó, quá trình thực hiện đầu tư cũng chịu ảnh hưởng rất
lớn của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng. Các điều kiện tự nhiên của
vùng như khí hậu, đất đai... có tác động rất lớn trong việc thi công, khai thác và
vận hành các kết quả đầu tư. Đối với các công trình xây dựng, điều kiện về địa
chất ảnh hưởng rất lớn không chỉ trong thi công mà cả trong giai đoạn đưa công
trình vào sử dụng, nếu nó không ổn định sẽ làm giảm tuổi thọ cũng như chất
lượng công trình. Tình hình phát triển kinh tế của vùng ảnh hưởng trực tiếp tới
việc ra quyết định và quy mô vốn đầu tư. Ngoài ra môi trường xã hội cũng ảnh
hưởng rất lớn đến việc thực hiện các dự án đầu tư như phong tục tập quán, trình
độ văn hóa...
- Một đặc điểm dễ nhận thấy là hoạt động đầu tư phát triển có độ rủi
ro cao. Mọi kết quả và hiệu quả của quá trình thực hiện đầu tư chịu nhiều ảnh
hưởng của các yếu tố không ổn định theo thời gian và điều kiện địa lý của không
gian. Do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kỳ đầu tư kéo dài và thời gian vận hành
các kết quả đầu tư cũng kéo dài...nên mức độ rủi ro của hoạt động đầu tư phát

quy hoạch treo gây thất thoát lãng phí nguồn tài nguyên. Cùng với đó là đào tạo
nguồn nhân lực một cách hiệu quả, đáp ứng kịp thời nhu cầu về nguồn lực con
người trong hoạt động đâu tư.
Ngoài ra, Hệ thống cơ quan chuyên trách về quản lý dự án đầu tư và cán bộ có
trình độ chuyên môn cao đáp ứng yêu cầu thực tế cũng cần được nhà nước chú
trọng xây dựng.
• Tác động ở cấp vi mô.
Khi nhà nước đã có những chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu
tư thì các nhà đầu tư cũng cần có các biện pháp để quản lý hoạt động đầu tư ở
tầm vi mô một cách có hiệu quả.
Trước khi tiến hành các hoạt động đầu tư, chủ đầu tư cần nghiên cứu kỹ các
điều kiện về môi trường tự nhiên, kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội ở địa
phương. Nó giúp cho chủ đầu tư có thể khai thác tối đa lợi thế vùng và nâng cao
hiệu quả vốn đầu tư.
Ngoài ra, doanh nghiệp cần xây dựng một chiến lược đầu tư rõ ràng, khoa học
để hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro có thể gặp phải. Cần rõ ràng trong
chuẩn bị về vốn đầu tư, tiến trình đầu tư...Một điều cũng rất quan trọng đó là cần
xác định chính xác sự thay đổi của cung cầu trên thị trường về đầu vào và đẩu ra
của dự án, đưa ra được dự báo chính xác trong tương lai để có các biện pháp
điều chỉnh kịp thời.
2.2 Thực trạng của hoạt động đầu tư phát triển tại Việt Nam.
Thực tiễn Việt Nam từ khi thực hiện chính sách đổi mới mở cửa, bên cạnh
việc thoát khỏi khủng hoảng kinh tế Việt Nam còn đạt đựơc thành tích tăng
Môn: Kinh tế đầu tư
Nhóm 9 k4ktdtA
Trường ĐH Kinh tế và quản trị kinh doanh Thái Nguyên
trưởng kinh tế cao liên tục (bình quân GDP hàng năm trong giai đoạn
1991_2005 đạt 7.5% năm 2006 8.2%), năm 2007 8.48%, năm 2008 6.23%).
Điều đó làm cho khả năng huy động, khai thác và sử dụng các nguồn vốn đầu tư
được mở rộng hơn.Tốc độ gia tăng quy mô đầu tư gia tăng đáng kể trung bình

66,7 nghìn tỷ đồng, bằng 102,7% kế hoạch năm, trong đó một số địa phương có
số vốn thực hiện lớn là: thành phố Hồ Chí Minh đạt 9,9 nghìn tỷ đồng, bằng
112,1% kế hoạch; Hà Nội đạt 6,3 nghìn tỷ đồng, bằng 73,4%; Đà Nẵng đạt 2,6
nghìn tỷ đồng, bằng 108,5%; Bà Rịa-Vũng Tàu đạt 2,1 nghìn tỷ đồng, bằng
104,9%; Nghệ An đạt 1,5 nghìn tỷ đồng, bằng 107,1%; Hải Phòng đạt 1458,5 tỷ
Môn: Kinh tế đầu tư
Nhóm 9 k4ktdtA
Trường ĐH Kinh tế và quản trị kinh doanh Thái Nguyên
đồng, bằng 103,5%; Bình Dương đạt 1291,8 tỷ đồng, bằng 104,6%; Lâm Đồng
đạt 1200,9 tỷ đồng, bằng 152,3%.
Bên cạnh đó, chúng ta luôn coi trọng việc thu hút nguồn vốn từ bên ngoài. Nhà
nước đã ban hành nhiều văn bản luật và cơ chế chính sách với mục đích khuyến
khích nhà đầu tư nước ngoài mang vốn,công nghệ quản lý hiện đại vào Việt
Nam.Cùng với đó là tạo lập môi trường đầu tư thuận lợi cho các nhà đầu tư nước
ngoài,giữ vững môi trường kinh tế vĩ mô ổn định,giảm chi phí đầu tư,giải quyết
những vướng mắc cụ thể cho các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước. Đặc biệt
từ khi Việt Nam là thành viên của tổ chúc thương mại thế giới WTO vốn đầu tư
nước ngoài vào Việt Nam gia tăng đáng kể.Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài năm
2005 là 78,400 tỷ đồng, năm 2006 là 97,175 tỷ đồng, năm 2007 99,525 là tỷ
đồng.Vốn đầu tư nước chiếm khoảng 30% tổng vốn đầu tư phát triển của nền
kinh tế. Nguồn vốn ODA trong thời gian qua đạt thành tựu quan trọng tổng mức
ODA các nhà tài trợ cam kết cho nước ta trong giai đoạn 2000-2006 ước tính đạt
31 tỷ USD,trong đó các khoản viện trợ không hoàn lại chiếm 15-20%.Nguồn vốn
ODA đã được giải ngan khoảng 15.5 tỷ USD ,chiếm khoảng 50% giá trị ODA cam
kết tài trợ,trong đó 80% nguồn vốn đầu tư cho đầu tư phát triển còn lại là chi cho sự
nghiệp,tốc độ giải ngân là 11.3%.Hiện nay có 25 nhà tài trợ song phương,14 tổ
chức tài trợ đa phương và trên 350 NGO hoạt động tại Việt Nam.
Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài năm nay tiếp tục đạt kết quả cao.
Trong tháng 12/2008, cả nước có 112 dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép
mới với tổng số vốn đăng ký 1254 triệu USD, nâng tổng số dự án cấp phép từ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status