Sửa các kết nối mạng
Việc xử lý sự cố thành công phụ thuộc vào 3 vấn đề
chính: tư duy logic, hiểu biết về kỹ thuật và kinh nghiệm
làm việc với các công cụ. Loạt bài viết về xử lý sự cố
TCP/IP này chủ yếu dựa vào các vấn đề cơ bản này.
Ví dụ: bài viết đầu tiên chúng tôi đã phác thảo một
phương pháp cấu trúc để thể hiện cách khắc phục một
cách có logic các vấn đề xảy ra đối với mạng TCP/IP
trên Windows – tư duy logic. Bài thứ hai chúng tôi kiểm
tra các bảng định tuyến làm việc trên các máy tính
Windows như thế nào – sự hiểu biết về kỹ thuật. Trong
bài viết này chúng tôi sẽ giới thiệu sâu hơn nữa để bạn có thể hiểu kỹ được về cách mà tính năng
Repair làm việc khi sửa chữa các vấn đề chung đối với kết nối mạng – kinh nghiệm sử dụng các
công cụ.
Những bài viết sau trong thời gian tới sẽ tiếp tục giới thiệu về các vấn đề cơ bản trên (tư duy
logic, sự hiểu biết về kỹ thuật và kinh nghiệm sử dụng công cụ) để bạn có thể cải thiện được kỹ
năng như một người chuyên xử lý các sự cố thực thụ.
Tính năng Repair là một công cụ mạnh nhưng hiếm khi được sử dụng vì nó khó hiểu đối với
nhiều người. Việc tiếp cận với tính năng này khá dễ dàng – chỉ cần kích chuột phải vào kết nối
mạng trong thư mục Networking Connections của bạn (hoặc trên biểu tượng kết nối trong vùng
thông báo hệ thống của bạn) và chọn Repair từ menu chuột phải. Khi đó, một hộp thoại sẽ hiện
và một loạt thông báo xuất hiện hiển thị tiến trình sửa chữa cần phải thực hiện. Những gì xảy ra
là một loạt các lệnh đang được thực hiện và mỗi một thông báo tiến trình hiển thị sẽ chỉ thị một
trong những hành động được thực hiện. Hãy kiểm tra mỗi bước xảy ra khi bạn sử dụng Repair để
hiểu những gì chúng thực hiện và tại sao chúng được thực hiện.
Bước 1: Làm mới lại DHCP
đúng thì truyền thông mạng có thể thất bại đối với các nút IP trên mạng. Nếu đầu vào cache
không đúng xảy ra với một nút trên mạng con nội bộ thì truyền thông với nút sẽ bị thất bại. Nếu
đầu vào cache không đúng đối với cổng mặc định thì truyền thông với các nút trên các mạng con
điều khiển xa sẽ thất bại. Kiểu truyền thông mạng thất bại đã gặp phải như vậy (có thể là các nút
trên mạng con nội bộ hoặc các mạng con điều khiển xa) có thể chỉ thị cho bạn thấy được đầu vào
ARP cache nào bị lỗi.
Bước 3: Xóa NetBIOS Cache
Lệnh thực hiện hành động này:
nbtstat –R
Lệnh này sẽ xóa nội dung của NetBIOS cache trên máy tính cục bộ. Chạy lệnh này cũng nạp lại
các đầu vào trong file LMHOSTS vào cache. Trong hầu hết các mạng Windows, Active
Directory được triển khai và DNS được sử dụng cho giải pháp tên, giải pháp tên NetBIOS kế
thừa vẫn được sử dụng cho các chức năng cụ thể. Vì các tên NetBIOS của host điều khiển xa
được giải quyết trong các địa chỉ IP kết hợp với của chúng, bằng cách truy vấn máy chủ WINS
hoặc bằng sử dụng truyền thông quảng bá NetBIOS, việc bản đồ hóa “hostname-to-IP-address”
này được bổ sung thên vào NetBIOS cache trên máy tính nội bộ để truyền thông với các host từ
xa có thể xảy ra mà không cần xử lý lặp đi lặp lại chúng. Nếu một trong những đầu vào trong
NetBIOS cache không đúng thì truyền thông mạng có thể thất bại đối với các IP host trên mạng.
Nếu đầu vào cache không đúng đối với một host trong mạng con nội bộ thì truyền thông với host
đó sẽ thất bại. Nếu đầu vào cache không đúng đối với cổng mặc định thì truyền thông với host
trên các mạng con từ xa sẽ thất bại. Kiểu truyền thông mạng lỗi như vậy (các host trên mạng con
hoặc trên các mạng con từ xa) sẽ cho chúng ta thấy được đầu vào của NetBIOS cache nào lỗi
(đây quả thực là một vấn đề quan trọng).
Các đầu vào NetBIOS cache lỗi đôi khi có thể bị gây ra do đầ
u vào cũ trong cơ sở dữ liệu WINS
trên các máy chủ WINS. Có điều này là bởi vì WINS cắt giải pháp tên quảng bá của NetBIOS
nbtstat –RR
Lệnh này sẽ thực hiện đăng kí lại máy tính cục bộ trong cơ sở dữ liệu WINS trên các máy chủ
WINS. Điều đó có nghĩa là tất cả các tên NetBIOS dành cho máy tính cục bộ được giải phóng
sau đó tạo mới trong cơ sở dữ liệu. Điều này chỉ hữu dụng nếu mạng của bạn có các máy chủ
WINS, tuy nhiên hầu hết các môi trường hoạt động kinh doanh có triển khai Active Directory và
Exchange Server nhìn chung vẫn sử
dụng WINS.
Khi máy tính Windows được tắt một cách đúng cách, máy tính này sẽ giải phóng các bản ghi của
nó từ cơ sở dữ liệu WINS. Nếu máy tính này không được tắt đúng cách thì các bản ghi WINS
cho máy tính sẽ không được gỡ bỏ ra khỏi cơ sở dữ liệu. Các bản ghi cũ trong cơ sở dữ liệu
WINS có thể gây ra các vấn đề truyền thông mạng khác, đặc biệt trong các máy tính xách tay
như laptop có thể được gỡ ra từ một mạng này và gắn vào một mạng khác. Bằng việc sử dụng
tính năng Repair bạn có thể giải quyết được các vấn đề bằng việc bắt buộc phải đăng kí lại với
WINS.
Bước 6: Đăng kí lại với DNS
Lệnh thực hiện hành động này:
ipconfig /registerdns
Lệnh này thực hiện đăng kí lại máy tính cục bộ trong cơ sở dữ liệu DNS trên máy chủ. Điều này
có nghĩa là tất cả các tên DNS đối với máy tính cục bộ sẽ được giả phóng và sau đó tạo mới
trong cơ sở dữ liệu DNS (thừa nhận rằng bạn có mạng Active Directory sử dụng Dynamic DNS
hoặc DDNS cho việc đăng kí các tên DNS trong cơ sở dữ liệu).
Kết luận