TIỂU LUẬN TỔNG QUAN VIỂN THÔNG
I. TÓM TẮT NỘI DUNG
- Qúa trình phát triẻn thông tin di động
- Các phương thức truy nhập trong thông tin di động
- Các thành phân trong hệ thống thông tin di động
- Dãi tân GSM 900
- Các đặc tính cơ bản của một hệ thống thông tin di động
- Hoạt đông trong một mang thông tin di động
II. NỘI DUNG CHÍNH
1 Lịch sử phát triển viễn thông
- 1964: Khai thác các hệ thống chuyển mạch
- 1970-1975: CCITT phát triển các tiêu chuẩn về PCM
- 1975-1985: Hệ thống quang dung lượng lớn, chuyển mạch tích hợp cao, các
bộ vi xử lý tín hiệu số; Mạng di động tổ ong hiện đại được đưa vào khai thác
(NMT, AMPS); Mô hình tham chiếu OSI (tổ chức ISO)
- 1985- 1990: LAN, ISDN được chuẩn hoá, các DV truyền SL phổ biến, truyền
dẫn quang thay cáp đồng trên các đường truyền dẫn băng rộng cự ly xa, phát triển
SONET, chuẩn hoá và khai thác GSM, SDH
CHUYÊN ĐỀ SỐ 1
Lớp : D07DTA1
NGƯỜI THỰC HIỆN: 1/ LÊ ĐỨC THUẬN
2/ LÊ VĂN KIỂM
- 1990-1997: GSM tế bào số, truyền hình vệ tinh phổ biến rộng rãi trên thế giới;
Internet mở rộng nhanh chóng nhờ WWW
- 1997-2000: Viễn thông mang tính cộng đồng, phát triển rộng rãi GSM,
CDMA; Internet phát triển; WAN băng rộng nhờ ATM, LAN Gb
- 2001: HDTV, di động 3G, các mạng băng rộng, các hệ thống truy nhập đưa các
dịch vụ đa phương tiện tới mọi người
2 Các phương thức truy nhập thông tin di động
FDMA :Truy nhập phân kenh theo tần số
- FDMA (Frequency Division Multiple Access) đây là công nghệ dựa trên
công cộng
Các chức năng chính của MSC
-Xử lý cuộc gọi (call procesing).
- Điều khiển chuyển giao (Handover control).
-Quản lý di động (mobility management).
- Xử lý tính cước (billing).
- Tương tác mạng (interworking function)
- BSC : Base Station Control - Đài điều khiển trạm gốc
BSC có nhiệm vụ quản lý tất cả giao diện vô tuyến thông qua các lệnh điều
khiển từ xa. Các lệnh này chủ yếu là lệnh ấn định, giải phóng kênh vô tuyến và
chuyển giao. Một phía BSC được nối với BTS, còn phía kia nối với MSC của
phân hệ chuyển mạch SS. Giao diện giữa BSC và MSC là giao diện A, còn
giao diện giữa BTS và BSC là giao diện A.bis.
Các chức năng chính của BSC:
- Quản lý mạng vô tuyến: Việc quản lý vô tuyến chính là quản lý các cell và
các kênh logic của chúng. Các số liệu quản lý đều được đưa về BSC để đo đạc
và xử lý, chẳng hạn như lưu lượng thông tin ở một cell, môi trường vô tuyến,
số lượng cuộc gọi bị mất, các lần chuyển giao thành công và thất bại...
- Quản lý trạm vô tuyến gốc BTS: Trước khi đưa vào khai thác, BSC lập cấu
hình của BTS ( số máy thu/phát TRX, tần số cho mỗi trạm... ). Nhờ đó mà
BSC có sẵn một tập các kênh vô tuyến dành cho điều khiển và nối thông cuộc
gọi.
- Điều khiển nối thông các cuộc gọi: BSC chịu trách nhiệm thiết lập và giải
phóng các đấu nối tới máy di động MS. Trong quá trình gọi, sự đấu nối được
BSC giám sát. Cường độ tín hiệu, chất lượng cuộc đấu nối được ở máy di
động và TRX gửi đến BSC. Dựa vào đó mà BSC sẽ quyết định công suất phát
tốt nhất của MS và TRX để giảm nhiễu và tăng chất lượng cuộc đấu nối. BSC
cũng điều khiển quá trình chuyển giao nhờ các kết quả đo kể trên để quyết
định chuyển giao MS sang cell khác, nhằm đạt được chất lượng cuộc gọi tốt
hơn. Trong trường hợp chuyển giao sang cell của một BSC khác thì nó phải
- OMC : Operating and Maintaining Central - Trung tâm khai thác và bảo
dưỡng - là một vị trí được sử dụng để vận hành và duy trì một mạng không
dây.
4/ Cấu trúc cơ bản của mạng di động
Mỗi mạng điện thoại di động có nhiều Tổng đài chuyển mạch MSC ở các khu
vực khác nhau (Ví dụ như tổng đài miền Bắc, miền Trung, miền Nam) và mỗi
Tổng đài lại có nhiều Trạm thu phát vô tuyến BSS
Sau day la so do:
Mọi mạng điện thoại đều cần một cấu trúc nhất định để định tuyến các cuộc gọi
vào đến tổng đài cần thiết và cuối cùng đến thuê bao bị gọi. Trong mạng di động
cấu trúc này rất quan trọng do tính lưu thông của các thuê bao trong mạng.
Về mặt địa lý một mạng di động gồm :
Vùng mạng.
Vùng phục vụ.
Vùng định vị.
Ô (Cell).
Vùng mạng
Các đường truyền giữa mạng GSM/PLMN và mạng PSTN/ISDN khác hay
các mạng PLMN khác sẽ ở mức tổng đài trung kế quốc gia hay quốc tế.
Trong một mạng GSM/PLMN tất cả các cuộc gọi kết cuối di động đều được
định tuyến đến một tổng đài vô tuyến cổng (GMSC). GMSC làm việc như
một tổng đài trung kế vào cho GSM/PLMN. Đây là nơi thực hiện chức năng
hỏi định tuyến cuộc gọi cho các kết cuối di động.
Vùng phục vụ : MSC / VLR
Vùng phục vụ là bộ phận của mạng được một MSC quản lý. Để định tuyến
một cuộc gọi đến thuê bao di động, đường truyền qua mạng sẽ nối đến MSC
ở vùng phục vụ MSC nơi thuê bao đang ở.
Vùng phục vụ là bộ phận của mạng được định nghĩa như một vùng mà ở
đó có thể đạt đến một trạm di động nhờ việc trạm MS này được ghi lại ở một
bộ ghi tạm trú,
hỏi cổng thích ứng ( các chức năng tương tác IWF :Interworking Function ).
SS cũng cần giao tiếp với mạng ngoài để sử dụng các khả năng truyền tải
của các mạng này cho việc truyền tải số liệu của người sử dụng hoặc báo
hiệu giữa các phần tử của mạng GSM. Chẳng hạn SS có thể sử dụng mạng
báo hiệu kênh chung số 7 (CCS 7), mạng này đảm bảo hoạt động tương tác
giữa các phần tử của SS trong nhiều hay một mạng GSM. MSC thường là
một tổng đài lớn điều khiển và quản lý một số các bộ điều khiển trạm gốc
(BSC). Một tổng đài MSC thích hợp cho một vùng đô thị và ngoại ô có dân
cư vào khoảng một triệu (với mật độ thuê bao trung bình ).
Để kết nối MSC với một số mạng khác cần phải thích ứng các đặc
điểm truyền dẫn của GSM với các mạng này. Các thích ứng này được gọi là
các chức năng tương tác. IWF ( Interworking Function ) bao gồm một số
thiết bị để thích ứng giao thức truyền dẫn. Nó cho phép kết nối với các mạng
: PSPDN ( Packet Switched Public Data Network : mạng số liệu công cộng
chuyển mạch gói ) hay CSPDN ( Circuit Switched Public Data network :
mạng số liệu công cộng chuyển mạch theo mạch) , nó cũng tồn tại khi các
mạng khác chỉ đơn thuần là PSTN hay ISDN. IWF có thể được thực hiện
trong cùng chức năng MSC hay có thể ở thiết bị riêng, ở trường hợp hai giao
tiếp giữa MSC và IWF được để mở.
• Bộ ghi định vị thường trú (HLR - Home Location Register)
Ngoài MSC, SS bao gồm cả các cơ sở dữ liệu. Các thông tin liên quan
đến việc cung cấp các dịch vụ viễn thông được lưu giữ ở HLR không phụ
thuộc vào vị trí hiện thời của thuê bao. HLR cũng chứa các thông tin liên
quan đến vị trí hiện thời của thuê bao. Thường HLR là một máy tính đứng
riêng không có khả năng chuyển mạch nhưng có khả năng quản lý hàng trăm
ngàn thuê bao. Một chức năng con của HLR là nhận dạng trung tâm nhận
thực AUC mà nhiệm vụ của trung tâm này là quản lý an toàn số liệu của các
thuê bao được phép.
• Bộ ghi định vị tạm trú (VLR - Visitor Location Register)
VLR là cơ sở dữ liệu thứ hai trong mạng GSM. Nó được nối với một