Tài liệu Chương 9: Quản lý chất thải rắn ở Viêng Chăn, thủ đô CNDCND Lào - Pdf 86

9
Quản lý Chất thải Rắn ở Viêng Chăn,
thủ đô CHDCND Lo
E. Rootham, C. Mitchell,

P. Phissamay

9.1. Giới thiệu về nớc Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (CHDCND Lào) là quốc gia nằm hoàn toàn
trong đất liền, có diện tích 236.800 km
2
và chung biên giới với các nớc Trung
Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Cam-pu-chia và Mi-an-ma. Với dân số 6.068.117 ngời
và thu nhập bình quân đầu ngời ớc tính 320 Đô la Mỹ, đất nớc này hiện vẫn còn
là một trong những nớc nghèo nhất trong khu vực. Nền kinh tế của Lào chủ yếu
dựa vào nông nghiệp với tỷ lệ đóng góp của ngành này vào tổng GDP là 51% và
chiếm 80% lực lợng lao động của cả nớc (CIA, 2004). Bên cạnh diện tích nông
nghiệp, Lào còn rất giàu tài nguyên thiên nhiên rừng, khoáng sản và thủy năng
(Ngân hàng Thế giới, 2004). Mặc dù Lào là nớc có tỷ lệ đô thị hoá thấp nhất ở
Đông Nam á, 23%, nhng hiện nớc này có tốc độ đô thị hàng năm cao nhất trong
khu vực là 5,1% (NOARD 2001). Xu hớng di c từ nông thôn ra thành thị cùng
với sự gia tăng của khu vực công nghiệp sẽ khiến cho luợng phát sinh chất thải
cũng tăng theo, đặc biệt là ở các khu vực thành thị.
9.2. Công tác quản lý chất thải rắn ở Thủ đô Viêng-Chăn
CHDCND Lào có 16 tỉnh (hay còn gọi là khouengs): Attapu, Bokeo,
Bolikhamxai, Champasak, Houaphan, Khammouan, Louangnamtha, Louangphrabang,
Oudomxai, Phongsali, Salavan, Savannakhet, Viangchan, Xaignabouli, Xekong, và
Xiangkhoang. Ngoài 16 tỉnh nói trên, Lào còn có một đặc khu (Xaisomboun) và
205
một đô thị tự trị (Viêng-chăn) (CIA, 2004). Ngân hàng Phát triển Châu á (2000)
ớc tính tỷ lệ rác đô thị CHDCND Lào ở mức 0,75kg/ngời/ngày, trong đó 30% là

Chi tiết
Mức phí
(kip/kg)
Tần xuất thu phí
1 Các doanh nghiệp t nhân, chợ và hộ gia đình 80 1 tháng/lần.
2 Chính phủ, các tổ chức quần chúng (Hội phụ
nữ, Đoàn thanh niên), cơ quan thuộc sở hữu
nhà nớc, nhà thờ và đền chùa
50 1 tháng/lần.
3 Đại sứ quán và các tổ chức quốc tế 1000 1 tháng/lần.
Nguồn: Dịch vụ lm sạch đô thị, Hiệpđịnh 1804/CP., 2000.

Mặc dù các tổ chức thu gom rác thải t nhân và nhà nớc vẫn đang hoạt động
nhng theo ớc tính của Nanthanavone (2000), hiện chỉ có 30% số hộ gia đình ở
Viêng-chăn tham gia sử dụng dịch vụ thu gom rác thải này.
Bảng 9.2. Mật độ thu gom rác thải sinh hoạt ở Thủ đô Viêng-Chăn
Quận/huyện Tổng số hộ gia đình
Số hộ tham gia hợp đồng
dịch vụ thu gom rác
Tỷ lệ hộ gia đình
tham gia hợp đồng
Chanthaboury 11.330 5.007 44%
Sikhottabong 13.995 2.425 85%
Sisattanak 10.441 2.587 15%
Xaysettha 9.088 3.304 36%
Tổng 44.854 13.323 30%
Nguồn: Dịch vụ lm sạch đô thị, Văn bản số 177.
Do cơ sở hạ tầng cho quản lý chất thải hầu nh không đợc đầu t nên uy tín
dịch vụ thu gom rác thải không cao, thêm vào đó các trang thiết bị cũng không
đợc bảo trì thờng xuyên (ADB 2000). Trong một số trờng hợp, nguyên nhân

gặp phải chính là các rào cản thơng mại về xuất khẩu nhựa. Chính phủ Thái Lan
đánh thuế nhập khẩu quá nặng đối với một số loại nhựa nhất định, đặc biệt là loại
nhựa đợc làm sạch và cắt miếng nhỏ bằng máy cắt trớc khi xuất khẩu (trong
trờng hợp này, số nhựa đó đợc liệt kê vào loại sản phẩm đã qua chế biến chứ
không phải là nguyên liệu thô). Phức tạp hơn, Thái Lan còn không chấp nhận các
loại nhựa cha đợc làm sạch và cha qua chế biến vì nhựa này đợc coi là nguy
208
hại đối với sức khoẻ con ngời. Hiện nay các cấp có thẩm quyền về quản lý chất
thải và các tổ chức phi chính phủ quan tâm đến Lào đang nỗ lực vận động hành
lang để Bộ Công nghiệp Thái Lan giảm thuế nhập khẩu đối với mặt hàng này của
Lào nhằm khuyến khích việc tái chế các loại phế liệu (Manivong, 2002;
Nanthanavone, 2002; Vieng Kham, 2002).
Viêng-chăn hiện có 4 cơ sở buôn bán các vật liệu tái chế nằm gần bãi chôn
lấp rác, các cơ sở này nhận thu mua phế liệu từ những ngời nhặt rác và các công
nhân thu gom rác, họ phải bới và tìm nhặt các loại kim loại vụn, nhựa, vải sợi, giấy,
bìa cứng và thuỷ tinh. Nhiều làng ở Viêng-chăn còn có một cửa hàng mua bán các
chất tái chế để các hộ gia đình mang phế liệu đến bán; một số hộ khác lại bán rác
thải có thể tái chế đợc của gia đình mình cho những ngời phế thải kéo xe bò đến
từng nhà để thu mua.
9.2.3 Các dự án tái chế chất thải ở Viêng-chăn
Trong năm 2001, một dự án về nhà máy tái chế chất thải đã đợc Trung tâm
Đào tạo Phát triển Hoạt động (PADETC)
1
khởi xớng để thúc đẩy công tác tái chế
chất thải ở 3 cộng đồng làng (Meuang Va Tha, Xiang Nhune, và Phonesinouane) và
3 trờng trong các huyện gần trung tâm của Viêng-chăn. Giai đoạn đầu của dự án
tập trung vào việc phát triển năng lực cho khu vực t nhân để xử lý các chất có thể
tái chế và lắp đặt, tổ chức hoạt động cho các xởng tái chế trong 3 làng thử nghiệm
và 3 trờng. Các xởng tái chế này thu mua thuỷ tinh, nhựa, giấy và kim loại phế
phẩm từ dân chúng và bán các nguyên liệu thu mua đợc đó cho xởng tái chế t

Bia Lào (chai nhỏ) - 250 kip/chai 50 kip/chai
Đồ uống có cồn (chai to) - 400 kip/chai 200 kip/chai
Nhựa
Chai nớc trắng 1500 kip/kg 1500 kip/kg 500 kip/kg
Các loại chai, lọ hộp
bằng nhựa khác
300 kip/kg 400 kip/kg 200 kip/kg
Giấy/Bìa cứng
Bìa cứng 250 kip/kg 400 kip/kg 200 kip/kg
Kim loại
Bình, can nhôm 4000 kip/kg 700 kip/kg 4000 kip/kg
Kim loại vụn 150-200 kip/kg 500 kip/kg 400 kip/kg
Nguồn: Rootham, 2003
210
Một nghiên cứu thực hiện năm 2003 đã phát hiện rằng tỷ lệ tham gia vào các
dự án xởng tái chế còn thấp (Roothan, 2003). Nguyên nhân của vấn đề này là sự
tràn lan và thay thế của các hình thức bán hàng khác, đặc biệt là hoạt động thờng
xuyên của những ngời thu mua chất thải lu động. Họ mua trực tiếp các phế phẩm
từ hộ gia đình và điều này rõ ràng là thuận tiện hơn với ngời dân trong xã. Hơn
nữa, các cửa hàng thu mua phế liệu của địa phơng thờng chào giá cao hơn giá
của xởng tái chế đối với một số mặt hàng. Do vậy, việc tái chế chất thải ở các cơ
sở t nhân thuận tiện và mang lại nhiều lợi nhuận hơn. Tuy nhiên, chúng ta không
nên nhìn nhận vấn đề này theo chiều hớng tiêu cực bởi lẽ mục tiêu trên cuối cùng
của dự án chính là thúc đẩy các hoạt động tác tái chế và toàn bộ các hoạt động này,
trên thực tế, đã khá cao do có sự quan tâm và tham gia của các khu vực t nhân và
phi chính thức. Do đó đóng góp của khu vực phi chính thức vào việc giảm thiểu
lợng chất thải tồn đọng ở bãi rác thành phố cần đợc công nhận và đánh giá đúng
mức. Tuy nhiên, tỷ lệ tham gia ở các kho tái chế cộng đồng vẫn thấp do một số dân
trong xã không có thời gian và ngại phân loại rác, vì vậy họ thờng đem vứt rác tập
trung ở các bãi chôn lấp để tiêu huỷ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status