Bài 14: Sử dụng các hệ số để phân tích
Mỗi hệ số đề cập ở các bài trước chỉ cung cấp một số thông tin về mức độ hiệu
quả trong hoạt động của một công ty. Tuy nhiên, như các bạn biết, việc phân tích
tài chính đặc biệt có ý nghĩa khi bạn có một số chuẩn mực để có thể so sánh với
các hệ số của một công ty, bạn không chỉ muốn xem khả năng sinh lời, khả năng
thanh toán, tình trạng nợ và các mối liên hệ hoạt động của một sông ty là cao hay
thấp, và các yếu tố này đang được cải thiện hay xấu đi, mà bạn còn muốn xác định
mức độ hiệu quả hoạt động của công ty đó so với các đối thủ cạnh tranh khác, so
với ngành hay so với công ty hoạt động tốt nhất cùng ngành.
Mặc dù nhà quản lý của một công ty có thể tính toán các hệ số của các công ty
khác, những các thông tin này đã có sẵn từ các nguồn công khai, chẳng hạn như:
Niên giám các hệ số tài chính công nghiệp và kinh doanh, các hệ số kinh doanh
chủ yếu, các trang tài chính công ty của các cơ quan định mức tín nhiệm... Các
nguồn này cung cấp các hệ số của từng công ty và ngành có thể dùng để so sánh.
Người ta có thể so sánh những hệ số tài chính chuẩn này với các hệ số của một
công ty nào đó để xem xem liệu chúng khác nhau hay tương tự.
Bảng 5 minh hoạ việc so sánh này
Công ty
Ngành công
nghiệp
ệ số
1988 1995 1988 1995
Hệ số nợ ngắn hạn 2 lần 2,5 lần
1,8
lần
1,9 lần
Hệ số kỳ thu hồi nợ trung
bình
51,3
Tỷ lệ tăng trường thu
nhập (tính trung bình 7
năm)
- 0,09 - -0,09
Hệ số giá trên thu nhập 10,5 lần 10 lần 8 lần8 lần
Bạn có thể thấy ngay là các con số trong bảng cho thấy rằng với thời kỳ 7 năm, sự
tiến triển trong khả năng thanh toán và sinh lời của công ty lớn hơn khả năng
thanh toán và sinh lời của của toàn ngành công nghiệp mà công ty này hoạt động.
Hệ số thu nhập trả lãi định kỳ của công ty giảm, một phần do tỷ lệ nợ trên vốn cổ
phần tăng mạnh, nhưng vẫn lớn hơn mức trung bình của ngành. Hơn nữa, bạn có
thể thấy ngay rằng nói chung khả năng thanh toán và sinh lợi cũng như khả năng
trả nợ lại lớn hơn các công ty cùng ngành. Có một điểm kém hấp dẫn là biến động
trong đòn bẩy tài chính của công ty (nợ trên vốn cổ phần), hệ số này đã lên đến
45% và vào thời điểm năm 1995 đã cao hơn hẳn mức trung bình của ngành. Yếu
tố này cho thấy rằng trong tương lai công ty nên phát hành cổ phiếu hơn là trái
phiếu nhằm giữ hệ số nợ trên vốn tương đương với mức hợp lý của ngành. Bảng 5
cũng cho thấy mặc dầu tỷ lệ tăng trưởng của công ty tương đương với mức trong
toàn ngành nhưng tỷ lệ giá trên thu nhập (P/E) lại cao hơn, chủ yếu là khả năng
thanh toán cũng như danh tiếng của công ty vượt trội so với toàn ngành. Tuy
nhiên, tỷ lệ đánh đổi rủi ro lợi nhuận của công ty vào năm 1988 tương đương mức
toàn ngành như đã thấy trong hệ số đồng biến thiên. Các nnhà đầu tư hiển nhiên
nhận thấy sự tăng trưởng trong tỷ lệ nợ trên vốn là đáng báo động, do vậy, tỷ lệ giá
trên thu nhập (P/E) giảm từ 10,5 năm 1988 xuống 10,0 năm 1995, trong khi đó tỷ
lệ P/E của ngành không thay đổi trong cùng kỳ.
Việc chi tiết hoá các hệ số như trong bảng 5 giúp các công ty chỉ ra được những
điểm yếu và điểm mạnh trong hoạt động cuả mình. Như vậy, việc phân tích các hệ
số cung cấp cho các nhà quản lý những công cụ để cải thiện và phát triển hoạt
động của công ty.
Ngoài ra, cũng nên dè chừng với các công ty tìm cách thao túng những con số của
mình bằng cách bán tài sản của mình hay những thủ thuật đối với chi phí thay thế.
Mặc dù nghiệp vụ kế toán đã được cải tiến nhằm giải quyết các vấn đề này, nhưng
có nhiều cách giải thích và phương pháp khác nhau trong việc lập các báo cáo tài
chính có thế che dấu điểm mạnh hay điểm yếu thực tế của một công ty. Do vậy,
khi thực hiện phân tích các báo cáo tài chính và các hệ số tài chính, cần phải biết
rằng các nhà phân tích và các nhà quản lý có thể đưa ra các giải thích khác nhau.
Tóm lại, cần thận trọng khi phân tích một công ty dựa trên cơ sở các hệ số tài
chính. Phải tính đến các hạn chế có liên quan đến các hệ số này./.