Kiến thức cơ bản về chứng khoán - Bài 3 - Pdf 75

Bài 04: Chứng khoán có thể
chuyển đổi
1. Khái niệm
Chứng khoán có thể chuyển đổi là những chứng khoán cho phép người nắm giữ
nó, tuỳ theo lựa chọn và trong những điều kiện nhất định có thể đổi nó thành một
chứng khoán khác.
Những loại chứng khoán có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thường phổ biến là:
- Cổ phiếu ưu đãi.
- Trái phiếu.
3. Mục đích của việc phát hành và đầu tư vào chứng khoán chuyển đổi
Phát hành chứng khoán có thể chuyển đổi là nhằm huy động thêm vốn vào những
thời điểm chưa thích hợp cho việc phát hành cổ phiếu thường. Việc phát hành
chứng khoán có thể chuyển đổi cũng có thể nhằm mục đích tăng thêm tính hấp dẫn
cho đợt phát hành, nhất là khi thị trường trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi đang xuống
giá.
4. Lợi ích của trái phiếu chuyển đổi
* Đối với bên phát hành: do việc người đầu tư sẽ được hưởng quyền chuyển đổi
trái phiếu này ra cổ phiếu thường khi đến hạn, nên:
+ Nếu là trái phiếu: bên phát hành sẽ bán trái phiếu ra với lãi suất thấp.
+ Nếu là cổ phiếu ưu đãi: bên phát hành sẽ chào bán với giá cao.
Khi các chứng khoán được chuyển đổi, nhà phát hành còn có lợi vì loại bỏ được
các khoản cố định phải trả, đồng thời tăng thêm số lượng cổ đông của công ty, một
chỉ báo có lợi cho danh tiếng của công ty.
* Đối với người đầu tư:
+ Chứng khoán có thể chuyển đổi có sức hấp dẫn ở chỗ chúng kết hợp được tính
an toàn của trái phiếu (thu nhập cố định) với tính có thể đầu cơ của cổ phiếu
thường.
+ Chứng khoán có thể chuyển đổi cho phép nhà đầu tư có thể được bảo hiểm trước
tình trạng lạm phát.
Tuy nhiên, những lợi ích của việc thực hiện chuyển đổi tuỳ thuộc nhiều vào giá
chuyển đổi, tỷ lệ chuyển đổi, và tương quan giá giữa công cụ có thể chuyển đổi

- Thời hạn của quyền.
- Mức giá thực hiện theo quyền.
c. Những mức giá liên quan tới một quyền lựa chọn là:
- Giá thị trường hiện hành của loại hàng hoá cơ sở.
- Giá hàng hoá cơ sở thực hiện theo quyền.
- Giá quyền lựa chọn.
Đối với quyền chọn mua, nếu giá thực hiện thấp hơn giá hiện hành của chứng
khoán cơ sở, thì quyền đó được gọi là đang được tiền (in the
money), tức là người
có quyền có thể có lợi từ việc thực hiện quyền. Nếu giá thực hiện bằng với giá thị
trường, quyền đang ở trạng thái hoà vốn ( at the money), và nếu cao hơn, gọi là
đang mất tiền (out of money). Đối với quyền chọn bán thì ngược lại, người thực
hiện quyền sẽ có lợi nếu giá bán thực hiện quyền cao hơn giá thị trường của hàng
hoá cơ sở và sẽ bị mất tiền nếu giá thực hiện quyền thấp hơn giá thị trường của
hàng hoá cơ sở.
Giá trị mà người nắm giữ quyền lựa chọn sẽ nhận được bằng cách thực hiện quyền
được gọi là giá trị nội tại (intrinsic value). Nếu quyền ở trạng thái bị mất tiền, giá
trị nội tại bằng 0. Giá thị trường của một quyền thường ít nhất là bằng giá trị nội
tại. Giá bán quyền được gọi là phần phụ trội, chênh lệch giữa giá bán quyền với
giá trị nội tại (trong trường hợp quyền đang được tiền) được gọi là phần phụ trội
giá trị theo thời gian. Nói cách khác, khi đó:
Giá trị theo thời gian của quyền chọn mua = Giá quyền - (giá thị trường - giá
thực hiện).
Ví dụ 1: Giá của một quyền chọn mua XYZ là 400.000 đồng, giá thị trường của
XYZ là 42.000 đồng. Người giữ quyền có thể chiếm lấy 200.000 đ ngay tức thì
bằng cách thực hiện quyền, tức là mua 100 cổ phần ( mức giá được quyền ấn định)
với tổng chi phí 4.000.000 đồng, cũng theo mức giá thực hiện theo quyền là
40.000 đ một cổ phần; sau đó bán ngay với giá thị trường, thu về 4.200.000 đ. Giá
trị nội tại của quyền là 200.000 đ.
Mức phụ trội giá trị theo thời gian = giá quyền – giá trị nội tại = 400.000 đ -


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status