LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: “Phương hướng và giải
pháp chủ yếu đẩy mạnh thu hút vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài theo vùng
kinh tế ở Việt Nam”
Mục lục
Lời nói đầu.......................................................................................................1
Phần I: Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài.................................3
I. Lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài.......................................3
1. Đầu tư và đặc điểm của đầu tư..........................................................3
2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment-
FDI)...................................................................................................4
3. Đặc điểm và môi trường của đầu tư trực tiếp nước ngoài................7
II.sự cần thiết phải thu hút FDI vào phát triển các vùng kinh tế ở Việt
Nam.............................................................................................10
III. Các nhân tố ảnh hưởng tới việc thu hút FDI vào các vung kinh
2. Một vài nhận xét và đánh giá chung...............................................41
2.1. Ưu điểm...................................................................................41
2.2. Tồn tại......................................................................................44
2.3. Nguyên nhân............................................................................45
Phần III: Phương hướng và các giải pháp nhằm tăng cường thu hút vào phát triển các vùng
kinh tế ở Việt Nam ..........................47
I. Phương hướng tăng cường thu hút vốn FDI vào phát triển các vùng kinh tế ở Việt
Nam.....................................................................47
II. Một số giải pháp tăng cường thu hút vốn FDI vào phát triển các vùng kinh tế ở
Việt Nam..............................................................48
2. Khuyến khích và ưu đãi hơn nữa các dự án đầu tư vào lĩnh vực nông - lâm - ngư
nghiệp và vùng sâu, vùng núi, vùng xa.......48
3. Tạo mội điều kiện thuận lợi để các dự án triển khai hoạt động mở rộng tăng công
suất hiện có......................................................49
4. Xử lý linh hoạt hơn nữa hình thức đầu tư.......................................50
5. Phát triển mạnh nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà
nước.................................................................................................52
6. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hoạt động của công đoàn.......52
7. Cần phải phát triển thị trường tài chính..........................................53
8. Cải tiến và tiếp nhận công nghệ hiện đại để tăng khả năng cạnh
tranh........................................Error! Bookmark not defined.
9. Tăng cường hoạt động kinh tế hướng ngoại và tích cực tìm chọn đối
tác.....................................Error! Bookmark not defined.
Kết luận..........................................................................................................54
Tài liệu tham khảo........................................................................................55
Lời nói đầu
Nền kinh tế thế giới đang vận động phát triển không ngừng đòi hỏi từng
quốc gia phải từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới, để giảm khoảng cách
của sự nghèo nàn với các nước tư bản phát triển. Đặc biệt trong những năm gần
Bài viết này bao gồm ba phần :
phần I:
Tổng quan về đầu tư trực tiếp với nước ngoài (FDI).
phầnII:Thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các vùng
kinh tế thời gian qua.
phầnIII:
Phương hướng và các giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư
vào phát triển các vùng kinh tế ở Việt Nam.
Phần I
Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài
I. Lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế, hoạt động đầu tư nước ngoài nói
chung và hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng đang diễn ra hết sức
mạnh mẽ. Nhưng đối với Việt Nam, đầu tư nước ngoài vẫn còn là một vấn đề
hết sức mới mẻ . Do vậy để có một cái nhìn tổng thể, khai thác được những
mặt tích cực và hạn chế được những mặt tiêu cực của đầu tư nước ngoài nhằm
thực hiện thành công quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH-HĐH),
đòi hỏi phải nghiên cứu vấn đề này một cách thấu đáo.
1. Đầu tư và đặc điểm của đầu tư
nhà đầu tư, mục đích của nhà đầu tư là giành được tiếng nói có hiệu quả trong
công việc quản lý hãng đó".
- Theo luật Đầu tư nước ngoài của Liên Bang Nga (04/07/1991"Đầu tư
trực tiếp nước ngoài là tất cả các hình thức giá trị tài sản và những giá trị tinh
thần mà nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các đối tượng sản xuất kinh doanh
và các hoạt động khác nhằm mục đích thu lợi nhuận"
- Theo Hiệp hội Luật quốc tế Henxitiky (1996 )
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự di chuyển vốn từ nước của người đầu
tư sang nước của người sử dụng nhằm xây dựng ở đó những xí nghiệp kinh
doanh hay dịch vụ.
- Theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam sửa đổi, ban hành
12/11/1996, tại Điều 2 Chương 1:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt
Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tư theo
quy định của luật này.
Như vậy, mặc dù có rất nhiều quan điểm khác nhau khi đưa ra khái
niệm về FDI, song ta có thể đưa ra một khái niệm tổng quát nhất, đó là:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức mà nhà đầu tư bỏ vốn để
tạo lập cơ sở sản xuất kinh doanh ở nước tiếp nhận đầu tư. Trong đó nhà
đầu tư nước ngoài có thể thiết lập quyền sở hữu từng phần hay toàn bộ vốn
đầu tư và giữ quyền quản lý, điều hành trực tiếp đối tượng mà họ bỏ vốn
nhằm mục đích thu được lợi nhuận từ các hoạt động đầu tư đó trên cơ sở
tuân theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài của nước sở tại.
b. Phân loại đầu tư.
- Theo phạm vi quốc gia:
+ Đầu tư trong nước.
+ Đầu tư ngoài nước.
- Theo thời gian sử dụng:
+ Đầu tư ngắn hạn.
Châu á (ADB)...
+ Tín dụng thương mại: là nguồn vốn chủ yếu nhằm hỗ trợ cho hoạt
động thương mại, xuất nhập khẩu giữa các quốc gia.
+ Nguồn vốn từ việc bán tín phiếu, trái phiếu, cố phiếu...Đây là nguồn
vốn thu được thông qua hoạt động bán các chứng từ có giá cho người nước
ngoài. Có quốc gia coi việc mua chứng khoán là hoạt động đầu tư trực tiếp.
- Đầu tư trực tiếp: là hình thức đầu tư mà người bỏ vốn đồng thời là
người sử dụng vốn. Nhà đầu tư đưa vốn ra nước ngoài để thiết lập cơ sở sản
xuất kinh doanh, làm chủ sở hữu, tự quản lý, điều hành hoặc thuê người quản
lý, hoặc hợp tác liên doanh với đối tác nước sở tại để thành lập cơ sở sản xuất
kinh doanh nhằm mục đích thu được lợi nhuận.
Như vậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những nguồn vốn tài
chính đưa vào một nước trong hoạt động đầu tư nước ngoài.
3. Đặc điểm và môi trường của đầu tư trực tiếp nước ngoài.
a. Đặc điểm FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có những đặc điểm cơ bản sau:
- Hoạt động FDI không chỉ đưa vốn vào nước tiếp nhận đầu tư mà còn
có cả công nghệ, kỹ thuật, bí quyết kinh doanh, sản xuất, năng lực Marketing,
trình độ quản lý...Hình thức đầu tư này mang tính hoàn chỉnh bởi khi vốn đưa
vào đầu tư thì hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành và sản phẩm
được tiêu thụ trên thị trường nước chủ nhà hoặc xuất khẩu. Do vậy, đầu tư kỹ
thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm là một trong những nhân tố làm tăng
sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Đây là đặc điểm để phân biệt với
các hình thức đầu tư khác, đặc biệt là với hình thức ODA (hình thức này chỉ
cung cấp vốn đầu tư cho nước sở tại mà không kèm theo kỹ thuật và công
nghệ).
- Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một lượng vốn tối thiểu vào
vốn pháp định tuỳ theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài ở từng nước, để
họ có quyền trực tiếp tham gia điều hành, quản lý đối tượng mà họ bỏ vốn đầu
tư. Chẳng hạn, ở Việt Nam theo điều 8 của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt
b. Môi trường đầu tư FDI tại Việt Nam.
Nước ta mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài muộn hơn các nước trong
khu vực, hệ thống luật đầu tư nước ngoài ra đời muộn hơn. Nhưng tương đối
đầy đủ và không kém phần hấp dẫn so với các nước trong khu vực. Luật đầu
tư nước ngoài của Việt Nam được ban hành từ năm 1987, đây là một mốc
quan trọng đánh dấu quá trình mở cửa nền kinh tế, đa dạng hoá đa phương
hoá quan hệ đối ngoại của nước ta. Trước đó năm 1977 Chính phủ ban hành
một nghị định về đâu tư trực tiếp nước ngoài. Song quá trình thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài chỉ thực sự kể từ khi luật đầu tư nước ngoài được ban
hành. Luật đầu tư nước ngoài được ban hành dựa trên kinh nghiệm và luật
pháp của một số nước phát triển cùng với các điều kiện và đặc điểm từng
vùng của Việt Nam. Từ khi ra đời đến nay luôn được sự quan tâm nghiên cứu,
sửa đổi hoàn thiện đảm bảo tính linh họat phù hợp với bối cảnh thực tiễn. Đã
sửa đổi bổ xung vào các năm 1990, 1992, 1996 và lần mới nhất là tháng 6
năm 2000 vừa qua. Cùng với luật đầu tư cho tới nay có tới trên 1100 văn bản
dưới luật quy định và hướng dẫn thưc hiện luật đầu tư nước ngoài, trong đó có
nghị định 24\2000 NĐ-CP ngày 31-7-2000 mới nhất quy định về luật đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam. Đã chi tiết hoá các vấn đề trong luật đầu tư nước
ngoài, đã giải quyết dứt điểm các vấn đề cơ bản của đầu tư nước ngoài như:
hình thức đầu tư tổ chức kinh doanh, vấn đề thuế, tài chính, quản lý ngoại hối,
xuất nhập khẩu chuyển giao công nghệ, bảo vệ môi trường sinh thái, quan hệ
lao động, bảo đảm đầu tư, về hồi hương vốn và khen thưởng.... luật đầu tư
nước ngoài của ta được đánh giá là đạo luật thông thoáng, cởi mở bảo đảm
cho nhà đầu tư nước ngoài an toàn về đầu tư và tự do kinh doanh. Đồng thời
bảo đảm nguyên tắc bảo đảm độc lập tự chủ tôn trọng chủ quyền, tôn trọng
pháp luật của Việt Nam bình đẳng hợp tác cùng có lợi. Luật vừa phù hợp với
tình hình nước ta và thích ứng với hệ thống thông lệ quốc tế. Do đó đã có sức
hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó các bộ các ngành liên
quan đã có những thông tư hướng dẫn nhằm cải thiện môi trường đầu tư và đã
có những thay đổi hợp lý làm tăng tính hấp dẫn đầu tư như: Sắc lệnh ngân
SX không hiệu quả
Thu nhập thấp
Tích luỹ thấp
Đầu tư
hấ
Khi có FDI ⇒ Đầu tư tăng ⇒ Quy mô XS, hiệu quả XS tăng ⇒ Thu
nhập tăng ⇒ Tích luỹ tăng ⇒ Tạo đà phát triển cho giai đoạn sau.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ góp phần tạo công ăn việc làm, nâng cao
thu nhập, ổn định đời sống dân cư:
+ Khi chưa có FDI : Đầu tư thấp ⇒ quy mô SX nhỏ ⇒ Sử dụng ít lao
động ⇒ thất nghiệp
+ Khi có FDI : Đầu tư tăng ⇒ quy mô SX tăng ⇒ Sử dụng nhiều lao
động, tạo nhiều việc làm ⇒ Giảm thất nghiệp
Tăng thu nhập dân cư.
+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ kích thích quá trình SX: FDI ⇒ đầu tư
tăng ⇒ SX tăng
Cầu đầu vào tăng(NVL) Tăng SX cung cấp đầu vào
(NVL)
Đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ cải thiện cán cân thanh toán, do khoản
thường có cơ cấu kinh tế bất hợp lý, chủ yếu phát triển khu vực một do không
có nhiều vốn. Vi vây FDI sẽ cung cấp vốn để đầu tư chuyển dịch cơ cấu kinh
tế hợp lý hơn,dần dần mang tính chất của một nền kinh tế phát triển.
III. Các nhân tố ảnh hưởng tới việc thu hút FDI vào các vung kinh tế.
1. Môi trường chính trị- xã hội.
Sự ổn định chính trị - xã hội có ý nghĩa quyết định đến việc huy động
và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài. Tình hình
chính trị không ổn định, đặc biệt là thể chế chính trị (đi liền với nó là sự thay
đổi luật pháp) thì mục tiêu và phương thức thực hiện mục tiêu cũng thay đổi.
Hậu quả là lợi ích của các nhà ĐTNN bị giảm (họ phải gánh chịu một phần
hay toàn bộ các thiệt hại đó) nên lòng tin của các nhà đầu tư bị giảm sút. Mặc
khác, khi tình hình chính trị - xã hội không ổn định, Nhà nước không đủ khả
năng kiểm soát hoạt động của các nhà ĐTNN, hậu quả là các nhà đầu tư hoạt
động theo mục đích riêng, không theo định hướng chiến lược phát triển kinh
tế -xã hội của nước nhận đầu tư. Do đó hiệu quả sử dụng vốn FDI rất thấp.
Kinh nghiệm cho thấy, khi tình hình chính trị -xã hội bất ổn thì các nhà
đầu tư sẽ ngừng đầu tư hoặc không đầu tư nữa. Chẳng hạn, sự lộn xộn ở Nga
trong thời gian qua đã làm nản lòng các nhà đầu tư mặc dù Nga là một thị
trường rộng lớn, có nhiều tiềm năng...Tuy nhiên, nếu chính phủ thực hiện
chính sách cởi mở hơn nữa thì chỉ làm giảm khả năng thu hút các nhà ĐTNN,
cá biệt có trường hợp trong chiến tranh vẫn thu hút được FDI song đó chỉ là
trường hợp ngoại lệ ddối với các công ty thuộc tổ hợp công nghiệp quân sự
muốn tìm kiếm cơ hội buôn bán các phương tiện chiến tranh hoặc là sự đầu tư
của chính phủ thông qua hình thức đa phương hoặc song phương nhằmthực
hiện mục đích riêng. Rõ ràng, trong trường hợp này, việc sử dụng FDI không
đem lại hiệu kinh tế - xã hội cho nước tiếp nhận đầu tư.
2. Sự ổn định của môi trường kinh tế vĩ mô.
Đây là điều kiện tiên quyết của mọi ý định và hành vi đầu tư. Điều này
đặc biệt quan trọng đối với việc huy động và sử dụng vốn nước ngoài. Để thu
hút được FDI, nền kinh tế địa phương phải là nơi an toàn cho sự vận động của
quản lý gọn nhẹ, cán bộ quản lý có năng lực, năng động,có phẩm chất đạo
đức. Việc quản lý các dự án FDI phải chặt chẽ theo hướng tạo thuận lợi cho
các nhà đầu tư song không ảnh hưởng đến sự phát triển chung của nền kinh tế
và xã hội.
4 Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
Kết cấu hạ tầng kỹ thuật là cơ sở để thu hút FDI và cũng là nhân tố thúc
đẩy hoạt động FDI diễn ra nhanh chóng, có ảnh hưởng quyết định đến hiệu
quả sản xuất kinh doanh. Đây là mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư
trước khi ra quyết định. Quốc gia có hệ thống thông tin liên lạc, mạng lưới
giao thông, năng lượng, hệ thống cấp thoát nước, các cơ sở dịch vụ tài chính
ngân hàng... tạo điều kiện cho các dự án FDI phát triển thuận lợi. Mức độ ảnh
hưởng của mỗi nhân tố này phản ánh trình độ phát triển của mỗi quốc gia và
tạo môi trường đầu tư hấp dẫn.Trong quá trình thực hiện dự án, các nhà đầu
tư chỉ tập trung vào sản xuất kinh doanh, thời gian thực hiện các dự án được
rút ngắn, bên cạnh đó việc giảm chi phí cho các khâu vận chuyển, thông
tin...sẽ làm tăng hiệu quả đầu tư.
5. Hệ thống thị trường đồng bộ, chiến lược phát triển hướng ngoại.
Hoạt động kinh doanh muốn đem lại hiệu quả cao thì phải diễn ra trong
môi trường thuận lợi, có đầy đủ các thị trường: thị trường lao động, thị trường
tài chính, thị trường hàng hoá - dịch vụ...Các nhà ĐTNN tiến hành sản xuất
kinh doanh ở nước chủ nhà nên đòi hỏi ở nước này phải có một hệ thống thị
trường đồng bộ, đảm bảo cho hoạt động của nhà đầu tư được tồn tại và đem
lại hiệu quả. Thị trường lao động là nơi cung cấp lao động cho nhà đầu tư. Thị
trường tài chính là nơi cho nhà đầu tư vay vốn để tiến hành sản xuất kinh
doanh và thị trường hàng hoá - dịch vụ là nơi tiêu thụ sản phẩm, lưu thông
hàng hoá, đem lại lợi nhuận cho nhà đầu tư. Hệ thống thị trường này sẽ đảm
bảo cho toàn bộ quá trìng hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra thuận lợi - từ
nguồn đầu vào đến việc tiêu thụ sản phẩm đầu ra.
Chiến lược phát triển kinh tế hướng ngoại là thực hiện chiến lược
hướng về xuất khẩu. Mở rộng thị trường xuất khẩu, nâng cao năng lực cạnh
IV. Các quan điểm và yêu cầu thu hút FDI theo vùng kinh tế tại Việt Nam.
1. Các quan điểm về thu hút FDI.
Trên nhiều vấn đề cụ thể liên quan tới FDI còn sự khác nhau về đánh
giá và cách xử lý dẫn đến các quan điểm:
- Tạo lập môi trường chính trị trong nước và quốc tế ổn định.
ổn định chính trị là mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư. Do vậy,
cần quan tâm đến kết cấu hạ tầng xã hội, chia sẻ thành quả tăng trưởng cho
mọi tầng lớp xã hội tạo điều kiện ổn định chính trị trong nước - là tiền đề cho
mọi sự thành công khác, hạn chế mức độ rủi ro cho các nhà ĐTNN.
Bên cạnh đó, các quốc gia đều xúc tiến hoạt động ngoại giao, chính trị
hình thành nên khu vực ổn định chính trị, an ninh thông qua việc ký kết các
hiệp định thân thiện, hợp tác theo xu hướng thống nhất trong đa dạng. Vì vậy,
nâng cao năng lực của hệ thống chính trị với hạt nhân là sự lãnh đạo của Đảng
cầm quyền, tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo hướng vừa mềm
dẻo, vừa cương quyết, bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư cũng như lợi ích của xã
hội.
- Quan điểm về môi trường pháp lý.
Môi trường pháp lý đầy đủ, đòng bộ và vận hành có hiệu quả sẽ tạo ra
môi trường kinh doanh hoàn thiện. Có nhiều ưu đãi cho các nhà ĐTNN: Miễn
giảm thuế, cải cách thủ tục hành chính, giải quyết mềm dẻo các tranh chấp
xảy ra trong hoạt động đầu tư; không quốc hữu hoá, thực hiện chính sách
"không hồi tố", sử dụng danh mục hạn chế đầu tư... tạo ra hành lang pháp lý
rõ ràng.
- Quan điểm về xây dựng chiến lược kinh tế hướng ngoại đúng đắn.
Phát triển công nghiệp hướng về xuất khẩu, định hướng cho hệ thống
các chính sách kinh tế vĩ mô: tăng cường sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới,
phát huy nội lực để giải quyết những khó khăn cho nền kinh tế. Kiềm chế lạm
phát, ttạo nguồn vốn đối ứng trong nước đủ để đáp ứng nhu cầu đầu tư, tiếp
nhận công nghệ hợp lý tuỳ thuộc vào từng giai đoạn phát triển để có thể phát
huy lợi thế so sánh khi trao đổi quốc tế.
nguyên đó. Đây là yêu cầu quan trọng để vùng đó coa cơ hội lớn trong việc
thu hút vốn đầu tư (FDI)
+ Trình độ phát triển của nông, lâm, ngư nghiệp. Điều kiện tự nhiên
ảnh hởng đối với sự phat triển của các ngành. Nếu điều kiện tự nhiên cho
phép phát triển nông, lâm, ngư nghiệp thì sẽ tạo cơ hội lớn cho việc thu hút
vốn đầu tư. Cũng như sự phát triển của bản thân nông, lâm ,nghư nghiệp phát
triển thì nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các ngành cung cấp
sản phẩm tiêu dùng cho nông, lâm, ngư nghiệp (phân bón, thuốc trừ sâu...)
+ Khả năng đầu tư hiện đại hoá, mở rộng các cơ sở công nghiệp hiện
có tại vùng đó.
+ Mối liên hệ sản xuất giữa các ngành công nghiệp trong vùng và nước
ngoài. Mối liên hệ này được thể hiện qua việc cung ứng vật tư và tiêu thụ sản
phẩm của nhau. Mối liên hệ này càng phát triển thì cơ hội thu hút vốn đầu tư
càng thuận lợi.
Phần II
Thực trạng thu hút FDI vào các vùng kinh tế ở Việt Nam trong
thời gian qua.
I. Giới thiệu về sự hình thành các vùng kinh tế ở Việt Nam.
Nguồn lực là tiền đề vật chất quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội
của một quốc gia. Quy mô và tốc độ phát triển - xã hội của một nước, ở mức
theo % FDI đến hết năm 1999
STT Vùng lãnh thổ Tỷ lệ %
1 Đông Nam Bộ 53,13
2 Đồng bằng sông Hồng 29,6
3 Duyên hải Nam Trung Bộ 8,64
4 Đông Bắc 5,46
5 Đồng bằng sông Cửu Long 2,86
6 Bắc trung Bộ 2,46
7 Tây Nguyên 0,16
8 Tây Bắc 0,15
Tổng 100
Nguồn:những vấn đề kinh tế thế giới –số 2(64)2000
II. Khái quát về thực trạng thu hút FDI vào nền kinh tế Việt Nam nói chung.
1. Vị trí và tầm quan trọng của đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế
Việt Nam.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong những thập kỷ qua đã tăng rất
nhanh, tốc độ tăng trung bình của toàn thế giới là 24% trong thời kỳ 1986-
1990 và 3,2% vào đầu thập kỷ 90. Trong đó tốc độ tăng FDI của các nước
ASEAN là nhanh nhất, vào khoảng 40%/năm trong suốt thời kỳ 1985-1994
(theo World Investment Report, New York -1995).
Với sự ra đời và hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài, thị trường xuất khẩu của Việt Nam không ngừng được mở
rộng. Từ các thị trường truyền thống thuộc khối các nước xã hội chủ nghĩa
trước đây mà chủ yếu là các nước Đông Âu, thị trường ck đã mở rộng sang
các nước Tây Âu, Bắc Mỹ và các nước NICs. Kim ngạch xuất khẩu của khối
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh qua các năm, từ 52 triệu
USD năm 1991, năm 1995 đạt 440 triệu USD - tăng 8,5 lần so với năm 1991,
năm 1999 đạt 2.577 triệu USD tăng 5,9 lần so với năm 1995 và tăng 1,3 lần