Tài liệu Tóm tắt sách môn Kinh tế vĩ mô “ Toàn cầu hóa và những mặt trái “ - Pdf 86


1
Họ và tên : Trần Minh Tùng Bộ môn: Kinh tế vĩ mô
Lớp : KH-ĐT 03 Yêu cầu : tóm tắt sách
TOÀN CẤU HÓA VÀ NHỮNG MẶT TRÁI

Chương I: Lời hứa của các tổ chứa toàn cầu
Các quan chứa quốc tế biều tượng giấu mặt của trật tự kinh tế thế giới đang bị tấn công ở mọi
nơi. Và hầu như các cuộc họp lớn nào của IMF, WB và WTO bao giờ cũng có cảnh xung đột và
bạo loạn. Thực ra bạo loạn và chống đối ở các nước phát triển không có gì mới, cái mới ở đây là
nó đã lan sang các nước phát triển. Những sự phản đối này đã làm cho các nhà nằm quyền phải tự
vấn lương tâm ngay cả tổng thống Pháp một chính khách rất bảo thủ cũng thừa nhận toàn cầu hóa
không mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn.
Thật khó hiểu toàn cầu hóa(TCH) đã mang tới tăng trưởng nhanh hơn nhờ mở của quốc tế giúp
cho hàng triệu người có cuộc sống tốt hơn.TCH đã giảm đi tình trạng cô lập của một nước mở ra
cơ hội tiếp cận tri thức cho nhiều người ở các nước phát triển.Ngay cả khi TCH có những mặt trái
thì luôn đi kèm với nó là những lợi ích. Nhưng ở các nước đang phát triển TCH đã không mang
tới lợi ích như đã hứa hẹn.Cái hố ngăn cách giữa người giàu và nghèo ngày càng tăng thêm bất
chấp lời hứa hẹn xóa đói giảm nghèo của TCH trong thập kỷ trước đây số người tăng nghèo thêm
100 triệu trong khi thu nhập thế giới tăng 2.5 %. Nếu như TCH không thành công trong việc giảm
nghèo thì nó cũng không thành công trong việc đảm bảo ổn định đó là các cuôc khủng hoảng ở
chân Á, Mỹ La Tinh đe dọa đến kinh tế toàn cầu và TCH đã đem đến sự nghèo đói chưa từng có
cho các nước chuyển đổi từ kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường.
Những người phản đối TCH chỉ trích các nước phương tây là đạo đức giả và họ hoàn toàn
đúng các nước phương tây đã ép buộc các nước nghèo xóa bỏ hàng rào thương mại nhưng chính
họ lại giử lại hàng rào cho chính họ.
Các ngân hàng phương tây đã thu được nhiều lợi nhuận từ việc nới lỏng kiểm soát thị trường
vốn ở châu Á và Mỹ La Tinh bằng dòng tiền đầu cơ chảy vào và ra sau một đêm. Vòng đàm phán

2
Uruquay đã tăng cường quyền sở hửu trí tuệ trong lỉnh vực y tế và vòng đàm phán này phản ảnh

hơn. Khá nhiều chính sách mà IMF áp đặt, đặt biệt là tự do hóa thị trường tài chính quá sớm đã
góp phần vào quá trình bất ổn toàn cầu và nó đã thất bại trong cả nhiệm vụ nguyên thủy và sứ
mệnh mới của mình. Và thảo thuận Bretton Woods cũng kêu gọi thành lập một tổ chứa quốc tế
thứ 3 là WTO để kiểm soát thương mại toàn cầu để nhằm tránh những chính sách thương mại
kiểu “hại hàng xóm” và tổ chức này khác với 2 tổ chứa trên là không đặt ra các quy định mà tạo
một diễn đàn dàm phán thương mại giữa các bên với nhau và đảm bảo thỏa thuận được thực hiên.
Những ý tưởng thành lập các tổ chứa này đều tốt nhưng dần qua thời gian bị biến dạng hoàn toàn
khác. Những tư tưởng của Keynes bị thay thế bởi tư tưởng thị trường tự do một phần gọi là “đồng
thuận Washington” và nhiều ý tưởng cũa đồng thuận này nhằm đối phó với các nước Mỹ La Tinh
nơi mà các chính phủ thường xuyên bị thâm hụt ngân sách lại được áp dụng cho các nước khác.
Trong nhiều trường hợp chính sách kiểu đồng thuận này phù hợp với Mỹ La Tinh lại chẳng phù
hợp với các nước trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển hay các nước chuyển đổi. Cụ thể là
bắt một nước trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển mở cửa cho hàng hóa nhập khẩu, việc
này có thể bóp chết các ngành công nghiệp non trẻ hay kiểu thắt chặt tiền tệ đẩy lãi suất lên cao
khiến cho thất nghiệp cao hơn hay tồi tệ hơn là tự do hóa chẳng đêm lại tăng trưởng mà còn làm
cho nghèo đói tăng thêm và một luận điểm kinh tế tồi nửa đó là tự do hóa thị trường tài chính và
IMF đã thất bại trong tất cả các lỉnh vực mà nó tham gia: phát triển, chống khủng hoảng và
chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch tập trung sang kinh tế thi trường. Nằm sau những vấn đề của các tổ
chức quôc tế chính này là cơ cấu quản trị của chúng, chúng không chỉ bị điều khiển bởi các nước
công nghiệp giàu có mà còn bởi giới tư bản thương mại và tài chính cho nên những chính sách
này sẽ thiên về lợi ích của các nhóm này. Và vần đề là ai là đại diện cho một quốc gia. Tại IMF là
các bộ trưởng tài chính và WTO là các bộ trưởng thương mại nhưng những người phải còng lưng
ra trả nợ lại là các người nông dân hay các doanh nhân hay người tiêu dùng phải trả giá cao hơn
do hàng rào thương mại hay gánh nặng cho trợ cấp xuất khẩu cho một số ít người. Không còn sự
lụa chọn nào khác thể hiện sự bất bình họ đã nổi loại và đường phố không phải là nơi thảo luận
hay hoạch định chính sách mà là những nhượng bộ.
Tại sao như thế bản thân toàn cầu hóa là không tốt hay xấu nó đủ sức mang lại vô số điếu tốt
những nước Đông Á đã thu được rất nhiều lợi ích bất chấp cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á
1997. Ngày nay khi chi phí giao thông, liên lạc giảm xuống và sự dở bỏ hàng rào dịch chuyển (trừ
nhân công) nhưng không may ta không có một chính phủ chịu trách nhiệm với người dân mỗi

nhiều nổ lực IMF đã cho vay trở lại. Sự tranh cải về vấn đề Ethiopia đã cho tôi biết nhiều đều về

5
cơ chế làm việc của IMF, dường như tổ chức này không bao giờ nghe người khác IMF luôn cho
rằng nó là một “nhà cung cấp” độc quyền những tư vấn “đúng đắn”. IMF làm cho người ta nghi
ngờ rằng quyền lực chính trị và lợi ích đặc biệt đang tác động vào các chính sách của tổ chức này.
Đối với IMF thật khó cho việc thấu hiểu mọi vấn đề của thế giới và điều này cũng dễ hiểu. Vì
IMF luôn dùng “1 liều chữa bách bệnh” và có lẽ mọi vấn đề đều xuất phát từ nhân sự của tồ chức
này nơi mà các nhân viên chỉ được giảng dạy về thị trường cạch tranh hoàn hảo không có thất
nghiệp tự nguyện và cung luôn bằng với cầu. Các nhà kinh tế ở IMF không thể lờ đi sự tồn tại của
thất nghiệp và họ cho rằng thất nghiệp không phải do thị trường mà đo yếu tố khác là công đoàn
và đòi hỏi lương cao. IMF thường lờ đi những tác động ngắn hạn của những chính sách mà nó tư
vấn và tin rằng trong dài hạn sẽ tốt hơn là đêm đến tăng trưởng và mang lợi ích cho tất cả. IMF
cho rằng bất kỳ một tác động trong ngắn hạn là sự đau đớn cần thiết nhưng theo tôi có thể tránh
được phần lớn các đau đớn nếu chính sách được thiết kế tốt.
Một ví dụ khác nửa đó là Botswana một quốc gia chỉ có 1.5 triệu dân và là một nước nông nghiệp
với mức thu nhập dưới 100USD/người/năm nhưng vẩn tăng trưởng 7.5%/năm (1961-1997). Một
thuận lợi của đất nước này là có nhiều kim cương nhưng không như các quốc gia châu phi khác
nạn tham nhũng và tranh giành xảy ra khắp nơi. Botswana có một bộ mấy chính trị ổn định kiểm
soát tốt nguồn tài nguyên này. Một lý do nữa dẫn đến thành công của nước này là họ lựa chọn các
nhà tư vấn rất kỹ. Một thập kỷ trước đây khi Botswana gặp cuộc khủng hoảng với tên gọi là
khủng hoảng thanh khoản và muốn IMF giúp đỡ thì phải thực hiện theo yêu cầu của IMF là thực
hiện chính sách tài khóa thu hẹp có thể là cuộc khủng hoảng tồi tệ thêm và Botswana đã nhận biết
sự bất ổn ở 2 khu vực là nông nghiệp và kim cương Botswana đã thận trọng lập ra một quỹ dự
phòng cho các cuộc khủng hoảng này và họ đã vượt qua cuộc khủng hoảng này mà không cần sự
giúp đỡ của IMF và từ đó trở đi họ không còn quay qua nhờ IMF giúp đỡ nữa. Ethiopia và
Botswana là điển hình thành công ở châu phi
Tôi nhận biết sự tương phản này khi đến Kenya vào 1960 một nước có xuất phát điểm rất tốt
nhưng khi tôi quay trở lại nền kinh tế của nước này đã suy sụp trong một thời gian dài. Nạn tham
nhũng hoanh hành là lỗi riêng của Kenya nhưng củng một phần do nghe theo IMF. IMF không

người dân coi đó là quyền chứ không phải là một ận huệ
Chương 3: Quyền tự do lựa chọn?

7
Chính sách tài khóa khắt khổ, tư nhân hóa và tự do hóa thị trường là ba trụ cột trong các vần đề
kiểu đồng thuận Washington. Những chính sách này được xây dựng để đối phó với những vần đề
ở Mỹ La Tinh và chúng đã thực sự có hiệu quả đáng kể nhưng vần đề là các chính sách này lại
được tiền hành quá mức và quá nhanh nên dẫn tới kết quả không mong muốn và thường gây thiệt
hại rất lớn cho nhiều nước chưa chủng bị tốt dể tiến hành những chính sách này.
Tự nhân hóa .
Nói chung ở nhiều nước phát triển và không phát triển thì thường là chính phủ không có kỹ
năng để điều hành các công ty nhà nước tốt nhất nên vấn đề tư nhân hóa là cần quan tâm nh
ưng
IMF và WB thì thường tiếp cận vần đề này một cách tiêu cực là phải tư nhân hóa cho thật nhanh
và càng nhanh thì càng tốt và kết quả là hàng loạt các thất bại ra đời
.
IMF thì thường giả định một cách rất đơn giản là thị trường sẽ đáp ứng mọi nhu cầu nhưng
trong thực tế thì chính phủ sinh ra để cung cấp các dịch vụ mà thị trường thất bại chẳng hạng như
tình trạng độc quyền, thị trường bảo hiểm niên kiêm ở Châu Âu... Không chỉ tác động đến người
tiêu dùng bởi thất bại thị trường tư nhân hóa còn tác dụng đền người lao động.Tư nhân hóa không
tạo ra các công ty mới mà tái cơ cấu lại các công ty nhà nước hoạt động không hiệu quả và kết
quả là ban quản trị mới này sẽ cắt giảm lượng công nhân có năng suất lao động thấp dẫn đến tình
trạng thiếu việc làm ảnh hưởng đến người lao động nói riêng và xã hội nói chung đã làm tệ nạn xã
hội tăng nhanh do thiếu việc làm. Do dó tư nhân hóa phải là một chương trình toàn diện đi đôi với
việc cát giảm việc làm là tăng việc làm mới.
Và cuối cùng là vấn đề thường xảy ra nhất chính là nạn tham nhũng trong quá trình tái cơ cấu
các doanh nghiệp nhà nước. Nếu ở một nước mà bộ máy quản lý đã tham nhũng thì ta sẽ thấy rỏ
ràng là chính phủ đó không thể quản lý tốt vấn đề tư nhân hóa. Họ nghĩ rằng tại sao lại không bán
các công ty nhà nước với giá rẽ hơn thị trường để kiếm chát mà phải bán đúng giá thị trường đêm
về cho ngân sách quốc gia, mà họ không có chút gì vào túi riêng và bằng chứng rõ ràng nhất chính

IMF thường đưa ra lập luận đơn giản cho quan điểm của nó là thị trường tự do hoạt động hiệu quả
hơn và hiệu quả cao hơn dẫn đến tăng trưởng nhanh hơn và sẽ thu hút được vốn đầu tư nước
ngoài.

9
Vai trò của đầu tư nước ngoài:
Theo như Đồng thuận Washington thì đầu tư nước ngoài đem đến tăng trưởng cho các nước và
nhà đầu tư nước ngoài sẽ mang đến công nghệ kiến thức, tạo ra nhiều việc làm giúp các nước
đang phát triển tiếp cận được với thị trường nước ngoài. Nói như thế không có nghĩa là đầu tư
nước ngoài không có mặt trái của nó khi các doang nghiệp nước ngoài tràn vào sẽ bóp chết các
doanh nghiệp nhỏ với với hy vọng phát triển nền công nghiệp bản địa. Thứ hai, là nếu như chưa
có luật cạnh tranh thì các doah nghiệp này sau khi đánh bật các doanh nghiệp trong nước sẽ dùng
sức mạnh độc quyền để tăng giá
Ngân hàng là một lĩnh vực mà các ngân hàng nước ngoài thường chèn ép các ngân hàng bản
địa vì chúng có tiềm lực tài chính mạnh hơn và đưa ra các dịch vụ hấp dẫn hơn. Nhưng các ngân
hàng này không thích mở chi nhánh cho vay ở các vùng xa xôi hẻo lánh và khó thu hồi nợ chúng
chỉ thích cho các tập đoàn đa quốc gia vay và các doanh nghiệp lớn trong nước còn những doanh
nghiệp nhỏ thì rất khó tiếp cận nguồn tín dụng từ các ngân hàng nước ngoài này. Và một điểm
đáng lo ngại nửa là ngân hàng nước ngoài ít chịu tác động điều tiết kinh tế vĩ mô thông cửa sổ
chiết khấu. Tài chính không phải là vấn đề duy nhất, khi chính phủ có dính dáng đến tham nhũng
thì các tập đoàn nước ngoài thường “gợi ý” thường bằng hối lộ cho các quan chức chính phủ đổi
lại để chúng có đuợc các bản hợp đồn béo bở (mua với giá cao và một sản lượng lớn) gây thiệt hại
cho đất nước nhưng bù lại chỉ là một số ít tiền chảy vào túi các quan chức chính phủ. Và khi các
nước đang phát triển này tìm ra một nguồn tài nguyên nào đó có giá trị lớn thì thường rơi vào tình
trạng mà kinh tế học gọi là “căn bệnh Hà Lan”, hay thay vì tập trung tạo của cải cho đất nước thì
người ta tập trung vào tranh giành chím đoạt lợi nhuận. Tuy nhiên vai trò của đầu tư nước ngoài là
rất cần thiết để các nước đang phát triển thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn và tiếp cận với công nghệ,
tri thức và thị trường nước ngoài.
Xác định nhịp độ
Có lẽ sai lầm ngớ ngẩn của IMF là sai lầm về lịch trình và nhịp độ việc thúc đẩy tự do hóa và

mà mình làm ra nên có thể thui chột động lực làm việc của họ do đó cải cách ruộng đất là cần
thiết, nó sẽ làm cho đất được sử dụng hiệu quả và công bằng hơn

11
Hai là, kiểm soát khu vực tài chính vì theo nghiên cứu thì đây là một trong ba nguyên nhân
chính dẩn tới khủng hoảng tài chính nhưng IMF thì không chú trọng tới vấn dề này bằng việc
giảm lạm phát. Và giảm lạm phát sẽ làm cho tăng trưởng chậm hơn và thất nghiệp cao hơn.
Và cuối cùng là giảm nghèo, may mắn là ngày nay giảm nghèo đã được quan tâm hơn trong
tăng trưởng nhưng thực tế là một số nước tuy tăng trưởng nhưng không giảm nghèo một số khác
thì lại được cả hai là vừa tăng trưởng vừa giảm nghèo. Câu hỏi ở đây chính là tác động của các
chính sách mà các nước này áp dụng. một số chính sách có tác dụng tăng trưởng nhưng không
giảm nghèo, một số khác lại kích thích tăng trưởng và gia tăng nghèo và vừa tăng trưởng vừa
giảm nghèo. Do đó muốn có dược những lựa chọn mang tính chiến lược thì phải tìm hiều nguyên
nhân và bản chất của nghèo đói.
Chúng ta đã thấy tự do hóa thương mại cùng với lãi suất tăng cao sẽ làm gia tăng thất nghiệp
và người nghèo gánh chịu. Tự do hóa thị trường tài chính mà không đi đôi với kiểm soát phù hợp
sẽ làm cho bất ổn kinh tế và làm cho lãi suất tăng chứ không giảm như mong đợi và nông dân
càng khó tiếp cận với nguồn tín dụng để mua phân bón và giống cao sản. Tư nhân hóa mà không
đi kèm với luật cạnh tranh sẽ làm cho giá tiêu dùng tăng chứ không giảm hay chính sách tài khóa
thu hẹp đ
ược tiến hành không đúng lúc sẽ làm cho thất nghiệp cao và vỡ tan khế ước xã hội.
IMF thường đánh gái thấp thiệt hại nhưng lại đánh giá cao lợi ích từ những chương trình của
nó ví dụ như việc thu học phí ở các nước nghèo, IMF cho rằng việc thu học phí sẽ không ảnh
hưởng đáng kể đến số lượng hoc sinh đến trường và chính phủ thì cần khoản thu này. Và trong
thực tế thì số học sinh đến trường giảm đáng kể và gây tác động lớn đến vấn đề xã hội. Nếu như
IMF rất đề cao đến thị trường thì lại đánh giá rất thấp vai trò của chính phủ và họ cho rằng chính
phủ là nguyên nhân chính của mọi vấn đề, thị trường mới là nơi giải quyết mọi vấn đề
Do mỗi thời kỳ và mỗi nước khác nhau nên liệu các nước có thu được thành công giống như
Đông Á và liệu những chiến lược thành công trong một phần tư thế kỷ trước có thể thành công
trong hôm nay hay không? Các nhà kinh tế có thể không thống nhất câu trả lời. Nhưng mỗi nước

Malaysia là đủ dũng cảm chống lại IMF. Tại hội nghị Hồng Kông tôi đã đề nghị các bộ trưởng
ĐÔng Á đã tiến hành một sự hợp tác kiểm soát vốn nhằm hạn chế tihệt hại do các dòng vốn đầu
cơ rút chạy và họ đã bàn bạc việc hợp tác này để thực hiện nhưng khi họ trở về nước thì cuộc

13
khủng hoảng đã xảy ra đầu tiên là Indonexia sau đó là Hồng Kông rồi các nước trên thế giới bị
đầu cơ ngoại tệ tấn công.
Có hai hình mẫu trong các cuộc khủng hoảng : Thứ nhất, được minh họa bằng trường hợp của
Hàn Quốc, dưới sức ép của Mỹ. Hàn Quốc đã mở của thị trường tài chính và cho phép các doanh
nghiệp vay nước ngoài và các doanh nghiệp này bị ảnh hưởng mạnh bởi thị trường tài chính quốc
tế. Cuối năm 1997 đã có những tin đồn rằng Hàn Quốc đang gặp khó khăn và sau đó chúng dược
công khai trên báo chí thế là các ngân hàng quốc tế đã không còn cho các doanh nghiệp HÀn
Quốc vay nợ gối đầu nửa và lời đồn đã thành sự thật Hàn Quốc gặp khó khăn. Thứ hai, được minh
họa bằng trường hợp Thái Lan. Khi những nhà đầu cơ tin rằng đồng nội tệ sẽ bị phá giá họ sẽ
chuyển toàn bộ nội tệ sang USD và khi các nhà kinh doanh ngoại tệ liên tục bán ra đồng nội tệ
thì giá đồng nội tệ giảm xuống thực và tiên đoán của họ trở thành sự thật. thông thường thì
NHTW sẽ bán ngoại tệ để giử tỷ giá nhưng khi hết ngoại tệ dự trữ thi đồng nội tệ rơi tư do và thế
là các nhà đầu cơ chuyển ngoại tệ sang nội tệ chốt lời.
Nếu như khủng hoảng có các hình mẫu quen thuộc thì phản ứng của IMF cũng vậy, nó sẽ
bơm cả đống tiền vào để giử tỷ giá và tin rằng khi các nước này có đủ ngoại tệ dự trử thì chẳng có
lý do gì để các nhà đầu cơ tấn công tỷ giá cả nhưng khoản tiền này còn có chức năng khác là cho
cung cấp tiền cho các doanh nghiệp vay nợ nước ngoài trả nợ thế là đã giúp các chủ nợ quốc tế
thu hồi được nợ xấu. còn một hệ quả nửa đó là giúp các người giàu trong nước đêm tài sản ra
nước ngoài với một tỷ giá có lợi. Và thường thì đi kèm theo khoản viện trợ này là một số điều
kiện áp đặt bao gồm lãi suất cao, cắt giảm chi tiêu chính phủ, tăng thuế. Và biện luận cho những
áp đặt của mình thì IMF cho rằng các quốc gia này không những phải hoàn trả số tiền này mà còn
phải thực hiện đúng đề sớm khôi phục kinh tế, các quốc gia nhân viện trợ từ nó không còn cách
náo khác là phải chấp nhận từ bỏ một số chủ quyền kinh tế để nhận lấy khoản viện trợ này.
TẠI SAO NHỮNG CHÍNH SÁCH CỦA IMF LẠI SAI LẦM
Tôi tin rằng tự do hóa thị trường tài chính là nguyên nhân quan trọng dẩn tới khủng hoảng, tôi

giảm đua Đông Á đến suy thoái. Thứhai, sự suy giảm doanh thu thuế làm mất cân bằng ngân sách.
Giờ đây IMF đã thừa nhận sai lấm và IMF cho rằng nó chỉ muốn các nước này đảm bảo cân bằng
ngân sách.
Chính sách tự hại mình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status