Giờ nào thuốc nấy Thuốc là các hoạt chất đưa vào cơ thể, để tạo ra những biến đổi sinh
học mang lại hiệu quả trị bệnh hoặc tạo phản ứng có lợi cho sức khỏe. Bên
cạnh đó, thuốc cũng có các tác dụng phụ gây hại cho người dùng. Vì vậy,
“Thời khắc liệu pháp” (chronotherapy) ra đời, nghiên cứu nhịp sinh học của
cơ thể tương ứng với thời điểm dùng thuốc để mang lại hiệu quả cao trong
việc sử dụng thuốc theo mục đích trị bệnh.
Nhịp sinh học của cơ thể
Thực tế, nhịp sống của cơ thể không bao giờ giống nhau, vì vậy, có khi ăn
nhiều nhưng không lên cân vì đó là thời điểm cơ thể cần tiêu hao năng lượng.
Nhưng ngược lại, cũng có lúc ăn không bao nhiêu nhưng năng lượng lại được dự
trữ thành mỡ ở bụng. Hoặc có thời điểm mà lượng chất gây dị ứng (histamin)
trong cơ thể được phóng thích nhiều (như lúc nửa đêm về sáng), khiến những
người có cơ địa dị ứng thường dễ bị hắt hơi, nhảy mũi hoặc lên cơn suyễn.
Dựa vào nhịp sống ấy của cơ thể mà hiện nay một ngành khoa học mới
đang được nghiên cứu và phát triển, đó là ngành “thời khắc liệu pháp” hay nói
cách khác, đó là dùng thuốc đúng giờ - tức “giờ nào, thuốc nấy”. Mục đích các
công trình nghiên cứu là nhằm xác định loại thuốc nào phát huy tác dụng mạnh
nhất trong cơ thể khi uống, chích, hít… đồng thời ít có tác dụng phụ gây hại nhất
cho người bệnh. Kết quả là: dùng thuốc ít, hiệu quả điều trị cao, bệnh nhân mau
lành bệnh và ít bị tác dụng phụ.
Từ nghiên cứu thời khắc liệu pháp trị bệnh ung thư
Tại hội nghị chuyên đề về “Thời khắc liệu pháp” tổ chức tại Paris tháng
9/1997, các nhà khoa học đã nêu lên một trong những hiệu quả điều trị quan trọng
nhất đó là việc trị bệnh trong lĩnh vực ung thư. BS. Francis Lévi và các cộng sự đã
khảo cứu trên 186 bệnh nhân ung thư đại tràng giai đoạn tiến triển, được điều trị
bằng liệu pháp hóa học với 2 thuốc oxaliplatine và fluoroouracil kết hợp với acid
folinic. Bệnh nhân được chia làm 2 nhóm bằng nhau, cùng điều trị liên tục 5 ngày
cách khoảng 16 ngày. Nhóm đầu được truyền dịch với lưu lượng không đổi, chia
của thuốc. Đó là hiện tượng đề kháng kháng sinh mà nhân dân thường gọi là “lờn”
thuốc. Thí dụ với kháng sinh nhóm beta-lactam (ampi, amox ...), vi khuẩn chống
lại bằng cách: ngăn cản sự xâm nhập qua thành ngoài của vi khuẩn hay tiết ra beta-
lactamase phá hủy beta-lactam khiến kháng sinh mất hiệu lực.
Việc kháng thuốc của vi khuẩn lại được di truyền để tạo ra những chủng vi
khuẩn đề kháng kháng sinh. Kết quả là liều lượng thuốc tuy có tăng hoặc thay đổi
thuốc mới mạnh hơn, tốn tiền nhiều hơn mà bệnh vẫn không hết. Do đó, khi dùng
kháng sinh trị bệnh cần nhớ đến nguyên tắc “đúng, đủ, đều” nghĩa là uống đúng
thuốc, đủ liều lượng và phân bố đều trong 24 giờ để tiêu diệt mầm bệnh.
Vì thế khi đi khám bệnh và nhận toa thuốc, bệnh nhân có thể hỏi thêm thầy
thuốc nên uống thuốc lúc nào thì tác dụng tốt, trước hay sau bữa ăn, bụng no hay
đói hoặc đọc kỹ hướng dẫn sử dụng thuốc để có thể biết thêm về việc uống thuốc
theo giờ.