Tài liệu Bệnh Tularemia gây viêm hạch nguy hiểm - Pdf 87

Bệnh Tularemia gây viêm
hạch nguy hiểm

Các yếu tố trong dây chuyền lây nhiễm bệnh Tularemia.
Tularemia là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính do vi khuẩn francisella
tularensis gây ra. Nguồn bệnh là nhiều loài động vật có vú và được truyền
sang người bằng lây truyền trực tiếp hoặc do các loài côn trùng cắn. Bệnh gây
sốt, viêm hạch và tổn thương nhiều cơ quan như: mắt, phổi, đường tiêu hoá.
Đến nay, bệnh được phát hiện ở nhiều nước Bắc Mỹ, châu Âu, Trung Quốc,
Nhật Bản, Australia, châu Phi, Liên Xô (cũ), ở Việt Nam đã có nhiều thông báo về
các vụ dịch chuột, dịch sốt sưng hạch...
Bệnh lây truyền như thế nào?
Francisella tularensis là trực khuẩn đường ruột, ở nhiệt độ 40oC, vi khuẩn
sống trong nước và đất ẩm trên 4 tháng; 10oC trên 9 tháng; trong sữa, vi khuẩn
sống trên 3 tháng; ở xác động vật chết, vi khuẩn sống được 6 tháng... Nhưng vi
khuẩn dễ bị diệt bởi các chất thức khử khuẩn như lyzol, cloramin, crezol...
Các loài động vật chuột, thỏ, chó, bò, cừu, chim... mang mầm bệnh và thải
vi khuẩn ra nước, đất tạo ra ổ bệnh thiên nhiên. Bệnh lây truyền giữa các động vật
với nhau là do ve vỏ cứng và các loại sâu bọ hút máu gây ra. Người mắc bệnh do
tiếp xúc trực tiếp ô nhiễm vi khuẩn qua đường da, kể cả da không sây sát, niêm
mạc (mắt, hô hấp, tiêu hoá), qua thức ăn, nước uống; qua vết đốt của côn trùng;
qua vết cắn của động vật bị bệnh như mèo, chó, lợn... không thấy lây trực tiếp từ
người bệnh sang người lành hoặc qua đồ vật. Sau khi mắc bệnh, bệnh nhân có
miễn dịch lâu bền.
Các thể bệnh thường gặp
Bao gồm nhiều thể: thể hạch, hạch loét, hạch mắt, hạch họng, thể bụng hay
thể ruột, thể phổi (viêm phế quản, viêm phổi), thể lan tràn hay thể nhiễm khuẩn
huyết tiên phát. Tùy thể mà có biểu hiện lâm sàng khác nhau:
- Thể hạch, do nhiễm khuẩn qua da. Xuất hiện viêm hạch tại nơi vi khuẩn
xâm nhập. Vào ngày thứ 2 - 3, hạch sẽ sưng và rất đau, hạch to lên nhanh, từ nhỏ
bằng ngón tay cho tới to bằng quả trứng. Nhiều trường hợp sau 1 - 4 tháng, hạch

khám phổi thấy ran khô, nhiều ran ẩm nhỏ hạt. Bệnh dễ biến chứng giãn phế quản,
áp-xe phổi, viêm màng phổi, hoại thư phổi và tạo nên các hang.
- Thể viêm phổi thứ phát, là biến chứng của bất kỳ thể nào, khi vi khuẩn
theo đường máu tới phổi hoặc theo đường bạch huyết tới các hạch khí phế quản và
từ đó vào nhu mô phổi dẫn tới viêm phổi ổ nhỏ hoặc là viêm phế quản.
- Thể nhiễm khuẩn huyết, gặp ở bệnh nhân có thể lực yếu. Thường không
thấy tổn thương tại chỗ. Bệnh khởi phát đột ngột với các triệu chứng sốt 39 -
40oC, đau đầu, mệt mỏi, đau cơ, gan, lách to ngay từ ngày đầu của bệnh. Tiếng
tim mờ, huyết áp giảm, mạch yếu, tốc độ máu lắng tăng. Bạch cầu tăng. Sốt kéo
dài khoảng 3 tuần. Đa số bệnh nhân xuất hiện hồng ban dầy và đối xứng ở tay,
chân, kiểu "bít tất" ở chân và tay, mặt, cổ, ngực, ban hết sau 8 - 12 ngày. Thể này
hay biến chứng viêm phổi, viêm màng não, viêm não, viêm cơ tim...
Bệnh cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh: dịch hạch, bệnh than, lao
hạch, cúm, thương hàn, nhờ xét nghiệm vi khuẩn và các triệu chứng đặc hiệu của
mỗi bệnh.
Chữa trị và phòng bệnh
Các thuốc kháng sinh có hiệu quả tốt chữa bệnh là : streptomycin,
gentamycin, cephalosporin thế hệ 3, rifampycin. Điều trị triệu chứng truyền dịch,
giải độc. Hạch vỡ thì rửa sạch và thay băng. Nhỏ mắt bằng dung dịch kháng sinh,
nếu nặng có thể dùng hydrocortison.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status