Tài liệu Luận văn " SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG CÁC TỔNG CÔNG TY THỰC SỰ TRỞ THÀNH CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ LỚN MẠNH. " - Pdf 87




Luận văn SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG
CÁC TỔNG CÔNG TY THỰC SỰ
TRỞ THÀNH CÁC TẬP ĐOÀN
KINH TẾ LỚN MẠNH. "

biện pháp nhằm giải quyết vấn đề trên.

2
NỘI DUNG

I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG CÁC TỔNG CÔNG TY THỰC SỰ TRỞ
THÀNH CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ LỚN MẠNH.
1. Các Tổng công ty Nhà nước có quy mô lớn (Tổng công ty 91,90) là
công cụ quan trọng để Nhà nước điều tiết nền kinh tế theo định hướng xã
hội chủ nghĩa.
Trong quá trình chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,
Đảng và Nhà nước luôn nhận thức rõ sự cần thiết phải có một khu vực kinh tế
Nhà nước đủ mạnh, hoạt động có hiệu quả để giữ vững vai trò điều tiết nền
kinh tế, tạo chỗ dựa vật chất cho Nhà nước trực tiếp điều tiết vĩ mô nền kinh
tế. Một hệ thống các DNNN hoạt động có hiệu quả là một tác nhân quan trọng
để Nhà nước làm đối tượng với các thành phần kinh tế khác trong việc kìm
chế những sự phát triển mất cân đối của nền kinh tế do các thành phần kinh tế
tư nhân gây ra (do chạy theo lợi nhuận đơn thuần), kìm chế sự lũng đoạn của
các thành phần kinh tế khác trong từng ngành hàng, lĩnh vực cụ thể. Nhờ đó,
Nhà nước có thể hướng nền kinh tế đó theo chiến lược đã chọn. Các DNNN là
lực lượng vật chất để Nhà nước ta thực hiện sử định hướng XHCN. Muốn xây
dựng chủ nghĩa xấ hội, nhất thiết Bộ phận sở hữu này phải được củng cố, phát
triển, phải được xem vừa là mục tiêu, vừa là phương tiện để xây dựng chủ
nghĩa xã hội. Không có các nhân tố kinh tế xã hội chủ nghĩa đủ sức liên kết,
dẫ dắt các thành phần kinh tế khác đi theo quỹ đạo của CNXH, chắc chắn sẽ
không thể có được CNXH. Đặc biệt, trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần với sự cạnh tranh của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế thì
điều đó là tất yếu. Nếu hệ thống các DNNN không được củng cố, lớn mạnh,
không đủ sức mạnh vật chất để trụ vững trong cạnh tranh, Nhà nước XHCN
sẽ không thể có lực lượng vật chất để điều tiết hoạt động của nền kinh tế đi

nước, vận hành theo cơ chế “công ty mẹ”, “công ty con”. Đây chính là bước
khởi đầu cho việc hành thành cáctập đoàn kinh tế lớn, kinh doanh đa ngành,
có hiệu quả và sức cạnh tranh cao. Tại hội nghị sơ kết mô hình Tổng công ty

4
Nhà nước, nhìn chung, lãnh đạo các Tổng công ty đều tán thành ý kiến thí
điểm mô hình “công ty mẹ, công ty con”. Tổng giám đốc Tổng công ty dệt
may, ông Bùi Xuân Khu nói: “công ty mẹ - công ty con là mô hình rất linh
hoạt và hoạt động theo dạng tập đoàn lớn. Mô hình này sẽ đem lại hiệu quả và
sự hợp tác cao hơn trong công việc”. Chủ tịch HĐQT Tổng công ty Thuỷ sản
Việt Nam cho biết: “ công ty mẹ- công ty con là mô hình tập đoàn kinh tế có
quy mô lớn về vốn, lao động, doanh thu và thị trường. áp dụng mô hình này,
Tổng công ty Thủy sản Việt Nam sẽ có phạm vi hoạt động rộng, kinh doanh
đa ngành, đa nghề, nhiều lĩnh vực. Công ty mẹ sở hữu số lượng vốn lớn, giữ
cổ phần chi phối trong công ty con. Bên cạnh các tổ chức sản xuất, kinh
doanh còn các tổ chức tài chính, ngân hàng, bảo hiểm...”.
Để nâng cao sức cạnh tranh và nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổng
công ty tiến tới xây dựng một số Tổng công ty đạt được các yêu cầu cơ bản
của một tập đoàn kinh tế, trước hết phải tổng kết, đánh giá lại để thấy sẽ mặt
mạnh mặt yếu của từng Tổng công ty, thứ hai là có biện pháp, danh sách tăng
cường, củng cố các Tổng công ty, thứ ba là lựa chọn các Tổng công ty Nhà
nước quan trọng hoạt động có hiệu quả để xây dựng thành lập tập đoàn kinh
tế mạnh.
II. TỔNG KẾT LẠI MÔ HÌNH TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC
1. Mô hình tổ chức Tổng công ty Nhà nước
Hiện nay, các Tổng công ty Nhà nước được tổ chức theo quyết định số
90/ Ttg và 91/Ttg ngày 7/3/1994 của thủ tướng Chính phủ gọi tắt là Tổng
công ty 90 và Tổng công ty 91. Các Tổng công ty này vận hành theo cơ chế
“công ty mẹ” và “công ty con”; tổ chức gồm: Hội đồng quản trị (HĐQT);
Tổng giám đốc (TGĐ), Ban kiểm soát; các đơn vị thành viên.

Than, Tổng công ty điện lực, Tổng công ty Hàng Không, Tổng công ty Xi
măng, Tổng công ty Thuốc lá, Tổng công ty Rượu bia, nước giải khát, Tổng
công ty Xăng dầu.
Các Tổng công ty này không chỉ đạt được các chỉ tiêu hiện tăng trưởng
mà thị phần của ngành ngày càng được mở rộng, tỷ lệ huy động năng lực sản
xuất cao.

6
* Các Tổng công ty ngày càng thể hiện được sức mạnh kinh tế và kinh
doanh, khẳng định vai trò, tác dụng của nó trên thực tế đối với hầu hết các
ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng của nền kinh tế nước ta.
Các Tổng công ty có sức mạnh cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh và
thị trường tiêu thụ sản phẩm trong nước. Một số loại sản phẩm của một số
ngành kinh tế do các Tổng công ty sản xuất đã và đang có vị trí đứng ở thị
trường nước ngoài, tạo khả năng tự cân đối được kim ngạch xuất nhập khẩu
nhhư ngành Rượu - bia - nước giải khát, thuốc lá, Than, May mặc, Dầu khí.
Nhìn chung các Tổng công ty có khả năng và thực lực để thực hiện các
nhiệm vụ và chiến lược phát triển ngành do Chính phủ giao. Các Tổng công
ty 91 v à 90 đã được tổ chức và hoạt động ở tất cả các ngành kinh tế - kỹ thuật
quan trọng của đất nước. Do tiềm hợp vê số lượng các doanh nghiệp thành
viên và nguồn lực tích tụ, tập trung vốn, vào động, khoa học công nghệ, trình
độ tổ chức quản lý, nên các Tổng công ty đã có vai trò chủ đạo và chi phối cả
trong sản xuất và thị trường đối với các ngành kinh atế. Đối với một số ngành
kinh tế lớn, vai trò tác dụng của Tổng công ty ở chỗ tạo lập được trật tự trong
sản xuất và thị trường tiêu thụ thông qua cơ chế thống nhất quản lý và điều
hành toàn Tổng công ty và trực tiếp ký hợp đồng vơí các hộ tiêu thụ lớn, ổn
định, lâu dài. Điểm hình nhất là Tổng công ty Than, Tổng công ty Điện lực
trong quản lý thống nhất các đầu mối tiêu thụ. Còn hầu hết các Tổng công ty
đều quản lý thống nhất được các đầu mối thị trường xuất nhập khẩu.
* Đa ngành, đa lĩnh vực trong hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó

được vị trí của mình trong Tổng công ty. Điều đó một phần do cơ chế, chính
sách chưa rõ ràng, nhưng phần chủ yếu vẫn là cán Bộ thành viên của HĐQT
không đủ năng lực để đảm nhận nhiệm vụ mới mẻ này, đặc biệt là chức danh
HĐQT.
3.1.2. Mối quan hệ giữa HĐQT và ban Tổng giám đốc.
Cho đến nay vẫn còn nhiều vướng mắc trong các quyết định về quyền
đại diện chủ sở hữu tài sản Nhà nước trong DNNN, vai trò và trách nhiệm của
Chủ tịch HĐQT chưa được xác định rõ nên đôi khi vẫn chưa có sự phối hợp
nhịp nhàng giữa HĐQT và ban TGĐ. Cùng một số vốn được giao nhưng cả

8
Chủ tịch HĐQT và TGĐ đều phải ký nhận. Như vậy, trách nhiệm thì tập thể
nhưng người điều hành chỉ là Tổng giám đốc. HĐQT tuy có trách nhiệm giám
sát nhưng vốn của các DNNN lại không thuộc quyền sở hữu của mình. Do đó,
trách nhiệm và quyền hạn của HĐQT cũng bị giới hạn. Hiện nay, giám đốc
của các doanh nghiệp thành viên chủ lực hầu hết chưa tham gia HĐQT của
Tổng công ty vì muốn tách chức năng quản lý và chức năng điều hành, nhưng
thực tế hai chức năng này gắn bó tới hiệu quả kinh doanh của Tổng công ty.
Có nơi HĐQT trong khi chưa thực hiện tốt chức năng. Chủ yếu như xây dựng
chiến lược, quyết định dự án đầu tư, lựa chọn cán bộ nhưng lại sa vào lĩnh
vực điều hành của Tổng giám đốc. Có nơi Tổng giám đốc quyết định các vấn
đề thuộc quyền hạn của chủ tịch HĐQT. Lại có nơi chủ tịch HĐQT lại bao
biện công việc điều hành của giám đốc. Thực tế hiện nay cho thấy, nơi nào uy
tín và trình độ của chủ tịch HĐQT cao hơn thì thường can thiệp vào hoạt động
kinh doanh, lấn quyền của giám đốc, biến HĐQT thành cơ quan chủ quản của
doanh nghiệp. Ngược lại, nơi nào trình độ và uy tín của Tổng giám đốc cao
hơn thì vai trò của HĐQT trở lên mờ nhạt. Sở dĩ có tình trạng trên là vì quyền
hạn và trách nhiệm ở đây được phân công không xuất phát từ lợi ích kinh tế
mà hoàn toàn xuất phát từ năng lực quản lý hành chính.
3.2. Mối quan hệ giữa Tổng công ty với các đơn vị thành viên và giữa

hại đến lợi ích của Nhà nước.
* Khác với các tập đoàn kinh tế của nước ngoài, mối quan hệ giữa “công
ty mẹ” và “công ty con” là mối quan hệ mang tính hữu cơ chặt chẽ, “công ty
mẹ” chi phối hoạt động của công ty con bằng các quan hệ tài chính, thị
trường, ở các Tổng công ty của Việt Nam, mối quan hệ này chỉ mang tính
“hành chính”, “cơ học”. Tổng công ty điều hành hoạt động của các doanh
nghiệp thành viên bằng các quyết định, bằng các ràng buộc về quyền lợi và
nghĩa vụ của doanh nghiệp với Tổng công ty. Điều này phản ánh một thực
trạng là, nếu Tổng công ty thực hiện vai trò của mình thì vô hình chung nó đã
biến mình thành cấp chủ quản cản trở hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp thành viên.
Sở dĩ có mâu thuẫn trên là vì các Tổng công ty Nhà nước được thành lập
chủ yếu bằng con đường hành chính tổ chức chứ không áp dụng những yếu tố
của kinh tế thị trường. Theo cách thức này, các DNNN trong cùng một ngành

10
được gom góp lại và được tham gia vào một tổ chức gọi là Tổng công ty Nhà
nước. Có những DNNN tham gia vào Tổng công ty không phải là tự nguyện
mà bị gò ép, họ thậm chí không có quyền quyết định vận mệnh của chính
mình. Tất cả những điều này đã không tạo ra được sự gắn kết cần thiết giữa
các đơn vị thành viên với Tổng công ty và do đó không phát huy được sức
mạnh tổng hợp của Tổng công ty.
3.3. Thiếu sự phân công, phân cấp cụ thể, rõ ràng về quản lý Nhà nước
và thực hiện quyền chủ sở hữu Nhà nước đối với DNNN giữa chính phủ với
Bộ quản lý ngành, Bộ chức năng và UBND cấp tỉnh, cấp huyện nên mối quan
hệ giữa Tổng công ty với các cơ quan quản lý Nhà nước rất phức tạp, có quá
nhiều đầu mối, trách nhiệm giải quyết công việc không rõ ràng và khó xác
định trách nhiệm khi xảy ra hậu quả.
Hiện tại đại diện quyền sở hữu Nhà nước được dàn trải ở nhiều cơ quan
đại diện làm nảy sinh nhiều vấn đề phiền hà cho doanh nghiệp, tạo ra nhiều sơ

động của Tổng công ty, có kiến thức chuyên môn sâu rộng, am hiểu nội tình
của doanh nghiệp mà mình đang quản lý. Tham gia vào HĐQT có một số các
giám đốc của các công ty đầu đàn của Tổng công ty. Tổng giám đốc Tổng
công ty Dệt - May Việt Nam Bùi Xuân Khu nói: “Mô hình HĐQT cần hết sức
gọn nhẹ. Thành viên HĐQT phải là những người giỏi chuyên môn, am hiểu
ngành nghề thì mới có thể xây dựng các chiến lược, chính sách đúng đắn. Bên
cạnh đó có thể lập hội đồng cố vấn để giúp đỡ cho HĐQT.
Theo ý kiến của Thủ tướng chính phủ và của ban đổi mới quản lý doanh
nghiệp trung ương thì trong thời gian tới nên thí điểm mô hình chủ tịch
HĐQT kiêm Tổng giám đốc Tổng công ty. Một số Tổng công ty đồng tình
với giải pháp này. “Việc chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Tổng công ty là
hoàn toàn đúng” ông chủ tịch HĐQT Tổng công ty xây dựng số 1 nói. Nhưng
cũng có ý kiến cho rằng, chủ tịch HĐQT không nên kiêm nhiệm Tổng giám
đốc. Tổng giám đốc Tổng công ty điện lực Việt Nam Hoàng Trung Hải đề
nghị: “HĐQT nên chỉ có một số ít thành viên chuyên trách như: chủ tịch và
trưởng ban kiểm soát, còn các thành viên khác nên kiêm nhiệm. Chủ nhiệm
HĐQT phải là người quản lý có nhiều kinh nghiệm, năng động, có khả năng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status