z LUẬN VĂN
Đ
Đ
ề
ềt
t
à
à
i
ip
p
h
h
í
í–
–l
l
ợ
ợ
i
ií
í
c
c
h
h
ư
ư
ớ
ớ
c
cs
s
i
i
n
n
h
hh
h
o
o
ạ
ạ
t
tc
c
ạ
ạ
i
it
t
h
h
u
u
ộ
ộ
c
ch
h
u
u
y
y
ệ
ệ
n
n
ộ
ộ
i
i
”
”
Ta biết rằng, nguồn nước sinh hoạt bị ô nhiễm là nguồn gốc chủ yếu gây ra
các bệnh tật, ảnh hưởng đến sức khoẻ và lao động của người dân, gây ra tình
trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em, ảnh hưởng lâu dài đến các thệ hệ mai sau.
Trước tình hình đó, Nhà nước ta đã ban hành Luật bảo vệ sức khoẻ nhân
dân, Luật bảo vệ môi trường và nhiều văn bản pháp quy về việc cung cấp
nước sạch cho nông thôn, miền núi, thị trấn, thị xã; việc bảo về các nguồn
nước, các hệ thống cấp nước, thoát nước, các công trình vệ sinh và thực hiện
các quy định về vệ sinh công cộng ở nhiều địa phương còn bị hạn chế. Nhiều
vùng nông thôn còn rất khó khăn về nước uống và nước sinh hoạt. Nguồn
nước mặt trong kênh, rạch, ao, hồ ở nhiều nơi bị ô nhiễm nặng nề. Nguồn
nước ngầm tại không ít giếngkhoan cũng bị mặn hoá, phèn hoá, trữ lượng
nước bị cạn kiệt do bị khai thác quá mức.
Huyện Thanh Trì là một huyện cực Nam của thành phố Hà Nội, là vùng đất
trũng, lượng mưa trung bình trong năm là 1600-1800 mm. Thanh Trì có nhiều 2
con sông lớn nhỏ chảy qua như sông Hồng, sông Nhuệ, sông Kim Ngưu.
Trong những năm gần đây Thanh Trì đã và đang có những bước nhảy lớn, tốc
độ đô thị hóa nhanh chóng. Tốc độ gia tăng dân số cũng khá cao. Khu công
nghiệp Vĩnh Tuy,các nhà máy công nghiệp như công nghiệp hoá chất, xi
măng…, khu nghĩa trang Văn Điển…và các hoạt động kinh tế, sinh hoạt khác
đang làm cho chất lượng nước ngọt của Huyện Thanh Trì bị suy giảm nghiêm
trọng. Mặt khác vì là một thành phố ở phía Nam của Thủ đô, do đặc điểm tự
nhiên, Thanh Trì phải gánh chịu nhiều nguồn ô nhiễm của Thủ đô như nước
thải, khí thải…
Vì vậy, trong nhiều năm qua các cấp lãnh đạo từ Trung ương đến Thành
phố đều quan tâm giải quyết nguồn nước sạch cho nhân dân Thanh Trì.
Trong một thời gian dài, Chương trình nước sinh hoạt nông thôn với sự tài
trợ của UNICEF đã khoan cho nông dân hàng nghìn giếng khoan lắp bơm tay.
nghiên cứu đề tài :
“Phân tích chi phí – lợi ích của Dự án cấp nước sinh hoạt cho các xã
còn lại thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội”.
2. Mục tiêu của dự án:
Nhằm hạn chế những tác động tiêu cực về mặt môi trường trong quá trình
xây dựng mới các nhà máy nước, tôi thấy việc cần thiết phải có sự xem xét,
phân tích, đánh giá cụ thể, chi tiết về mặt kinh tế và môi trường nhằm mục
tiêu phát triển bền vững của huyện Thanh Trì.
Từ đó nhằm làm rõ tính khả thi, hiệu quả của dự án, đồng thời đưa ra một
vài giải pháp với mục đích làm tăng tính hiệu quả và khả thi của dự án.
4
5
Nguồn nước có vai trò đặc biệt quan trong đối với hầu hết các hoạt động phát
triển kinh tế- xã hội trên mỗi lưu vực:
Cấp nước cho sinh hoạt.
Cấp nước cho công nghiệp và dịch vụ.
Tưới cho các vùng đất canh tác nông nghiệp.
Phát triển thuỷ điện.
Nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản.
Du lịch sinh thái
Giao thông vận tải thuỷ.
Chuyển tải nước sang các khu vực thiếu nước.
…
Trong số nhiều chức năng quan trọng của nguồn nước nói chung và các hệ
thống sông lớn nói riêng, có lẽ quan trọng hơn cả là chức năng cung cấp nước
cho sinh hoạt của cộng đồng dân cư lớn.
Việt Nam với đặc thù là một nước nông nghiệp, hiện nay Việt Nam đang
đứng thứ hai về xuất khẩu gạo trên thế giới, nguồn nước được sử dụng nhiều
cho nông nghiệp. Theo tính toán, năm 1985 đã sử dụng 41 tỷ m
3
, chiếm
89,9% tổng lượng nước tiêu thụ toàn quốc, năm 1990 đã sử dụng 46,9 tỷ m
3
,
chiếm 90% và năm 2000 sử dụng khoảng trên 60 tỷ m
3
. Đến nay, cả nước đã
có 75 hệ thống thuỷ lợi vừa và lớn, rất nhiều hệ thống thuỷ lợi nhỏ với tổng
giá trị tại sản cố định khoảng 60.000 tỷ đồng (chưa kể giá trị đất đai và công
Nhà đầu tư.
Nền kinh tế
Và ta cũng biết một thực tế, không phải mọi dự án có khả năng sinh lợi cao
đều tạo ra những ảnh hưởng tốt đối với nền kinh tế và xã hội. Lợi ích kinh tế
– xã hội của dự án đầu tư là chênh lệch giữa các lợi ích mà nền kinh tế và xã
hội thu được so với các đóng góp mà nền kinh tế và xã hội đã bỏ ra khi thực
hiện dự án.
Những lợi ích mà xã hội thu được chính là sự đáp ứng của dự án đối với
việc thực hiện các mục tiêu chung của xã hội, của nền kinh tế. Những sự đáp 7
ứng này có thể được xem xét mang tính định tính như đáp ứng các mục tiêu
phát triển kinh tế, phục vụ việc thực hiện các chủ trương chính sách của Nhà
nước, góp phần chống ô nhiễm môi trường, cải tạo môi sinh…hoặc đo lường
bằng các tính toán định lượng như mức tăng thu cho ngân sách, mức gia tăng
số người có việc làm, mức gia tăng ngoại tệ, lợi ích cơ hội tăng do việc giảm
bệnh tật cho người dân…
Chi phí xã hội bao gồm toàn bộ các tài nguyên thiên nhiên, của cải vật
chất, sức lao động mà xã hội dành cho đầu tư thay vì sử dụng vào các công
việc khác trong tương lai không xa.
Như vậy, phân tích kinh tế – xã hội của dự án đầ tư chính là việc so sánh
(có mục đích) giữa cái giá mà xã hội phải trả cho việc sử dụng các nguồn lực
sẵn có của mình một cách tốt nhất và lợi ích do dự án tạo ra cho toàn bộ nền
kinh tế (chứ không chỉ riêng cho một cơ sở sản xuất kinh doanh hoặc một đơn
vị nào cụ thể).
Như vậy, việc phân tích kinh tê - xã hội đối với một dự án là cần thiết và
phải được phân tích một cách rõ ràng, triệt để.
4.2. Phương pháp đánh giá lợi ích kinh tế – xã hội do thực hiện dự án
Khi xem xét lợi ích kinh tế – xã hội của dự án cần phải tính đến mọi chi
Theo báo cáo kết quả tổng điều tra dân số năm 1999, toàn bộ địa bàn huyện
Thanh Trì có 53.476 hộ gia đình với 221.564 nhân khẩu phân bố trên 24 xã và
01 Thị trấn. Mật độ dân số khoảng 2.000 người/ km
2
.
1.2 Giao thông:
Ở vị trí cửa ngõ phí Nam của Thành phố, trên địa bàn huyện Thanh Trì tập
trung nhiều đầu mối giao thông đường bộ, đường sông, đường sắt quan trọng.
a. Đường sắt:
Tuyến đường sắt Bắc –Nam , hai ga Văn ĐIển và Giáp Bát là 2 ga hàng
hoá lớn, ngoài ra còn ga Lập Tầu- Ngọc Hồi sẽ được xây dựng.
b. Đường sông:
Trên địa bàn huyện Thanh Trì có nhiều sông nhưng phần lớn là các sông
nhỏ chủ yếu phục vụ cho công việc tưới tiêu nông nghiệp. Đáng kể nhất là có
sông Hồng chảy qua địa bàn huyện. Cảng Khuyến Lương nằm tronghuyện
Thanh Trì sử dụng cho tầu pha sông biển, có khả năng bốc xếp khoảng
200.000 nghìn tấn/năm.
c.Đường bộ
Mạng lưới đường giao thông do Thành phố và Trung ương quản lý, trên địa
bàn huyện Thanh Trì có tổng chiều dàI tổng cộng55,4 km bao gồm các tuyến:
Quốc lộ 1 A: Địa đIểm từ Mai Động – Pháp Vân- Qua thị trấn Văn Điển
và kết thúc ở xã Liên Ninh, đoạn đi trên địa bàn huyện Thanh Trì dài
13,7km ; Đoạn từ Mai Động – Pháp Vân tới điểm giao nhau với đường
giải phóng mặt đường rộng 7 m chất lượng đường xấu ; Đoạn tiếp đến cầu 10
Văn Điển, mặt đường mới được cải tạo rộng 35,5 m, mặt đường bê tông
nhựa tốt.
1.3 Cấp điện
Các hệ thống này làm nhiệm vụ tiêu nước cho toàn huyện. Vì vậy, khi xây
dựng các điểm dân cư trên địa bàn huyện cần kết hợp giữa hệ thống thoát 11
nước đô thị với hệ thống thuỷ lợi của huyện để khônggây ảnh hưởng tới khu
vực xung quanh và sản xuất nông nghiệp.
b. Hệ thống thoát nước bẩn
Nước bẩn sinh hoạt được thải ra từ bể tự hoại và nước thải công nghiệp
được xả thẳng trực tiếp vào hệ thống thoát nước mưa.
1.5. Kinh tế
Hiện nay, nền kinh tế của Thanh Trì đang trong đà phát triển mạnh, đa
dạng hoá các ngành nghề.
Như vậy, qua phân tích trên thì nguồn nước mặt ở hầu hết các xã thuộc
huyện Thanh Trì đều bị ô nhiễm, có nơi bị ô nhiễm rất nặng. Vì vậy, nếu để
người dân sinh hoạt, sản xuất bằng chính nguồn nước mặt này thì việc nhiễm
các bệnh về đường ruột và các bệnh nguy hiểm khác như bệnh ung thư… là
khôngthể tránh khỏi.
Do đó, việc xây dựng các trạm nước để cung cấp nước sạch cho sinh hoạt
và sản xuất của người dân là hết sức cần thiết và là mối quan tâm hàng đầu
của Uỷ ban nhân dân Huyện Thanh Trì cũng như của thành phố Hà Nội.
2. Thực trạng của hệ thống cấp nước sinh hoạt hiện nay ở Thanh Trì.
Hiện nay nhân dân huyện Thanh Trì đang sử dụng các lợi hình cấp nước
cho sinh hoạt như sau:
Nước máy được cấp vào từng nhà hoặc các vòi công cộng. Hình thức
này được cấp cho các khu dân cư đô thị thị trấn Văn Điển, các khu gần
nhà máy nước và các vùng ven đô như: Vĩnh Tuy, Thanh Trì, Tương
Mai, Giáp Bát, Khương Đình, Triều Khúc…
Nước giếng khơi, giếng khoan ở các vùng đê, thôn xóm.
Bể chứa nước mưa ở tất cả các nơi.