Luận văn
Đề tài “Xu hướng phát triển của thị
trường xuất khẩu sản phẩm thủy sản Việt
Nam”
§Ò ¸n m«n häc Trêng ®¹i häc KTQD
1
PHẦN MỞ ĐẦU
Sau hơn 15 năm đổi mới cho thấy chiến lược mà Đảng và Nhà nước
đề ra là hết sức đúng đắn. Quan điểm của chúng ta là hướng vào xuất khẩu
tích luỹ nội bộ cho nền kinh tế, phát huy mọi tiềm năng thế mạnh sẵn có để
công nghiệp hoá -hiện đại hoá đất nước. Xu thế quốc tế hoá nền kinh tế
ngày càng trở thành một xu hướng quan trọng trong quá trình phát triển của
mỗi quốc gia.
1.1. Các sản phẩm thủy sản chủ yếu
Nếu như thời kỳ 1985-1995, chúng ta phải dựa vào một sản phẩm chủ
yếu là tôm đông block thỡ Từ năm 1995 trở đi, tỷ lệ tôm đông giảm, các
sản phẩm tăng nhanh như cá đông lạnh các loại, mực và bạch tuộc đông
lạnh và phơi khô. Đến nay tôm đông vẫn còn là sản phẩm xuất khẩu số một
với tổng trị giá xuất khẩu tăng lên rất nhanh từ 59 triệu USD năm 1985 lên
775 triẹu USD năm 2001, nhưng tỷ trọng đã giảm đi 34% so với cách đây
15 năm. Điều đáng chú ý là trứoc đây các sản phẩm cá ít được chú ý thì gần
đây các sản phẩm cá đông lạnh, cá tưới, cá phi-lê được chú trong hơn. Hiện
nay giá trị xuất khẩu cá đông đã chiếm tỷ trọng 20%. Năm 2001 mực khô
đã trở thành một mặt hàngười xuất khẩu lớn thứ 3 đạt 144 triệu USD.
Bảng 1: Xuất khẩu thuỷ sản năm 2004 theo từng mặt hàng
năm 2003 năm 2004
Cỏc mặt hàng
Sản lượng Giỏ trị Sản lượng Giỏ trị
Bạch tuộc đông lạnh 20583.48 35183937 35688.49 71103642
Cá đông lạnh 74093.14 221947692 165596.3 464727235
Cá khô 12906.8 36844382 14755.54 47916251
Cá ngừ 14475.71 58592912 20783.76 55054959
Mực đông lạnh 21069.73 80707667 26726.62 96517102
Mực khô 18109.76 153809866 9793.97 65420451
Ruốc khô 2743.67 3802902 6927.17 5208457
Các mặt hàng khác 211505,45 1186596396 280271.9 805948097
Tổng số 375490.7 1777485754 560543.8 1611896194
Nguồn : Trung tâm thị trường KHKT và kinh tế thuỷ sản-Bộ thuỷ sản
§Ò ¸n m«n häc Trêng ®¹i häc KTQD
3
Năm 1998 dến 1999, các mặt hàng thuỷ sản giá trị gia tăng mới chiếm
4
năm 2002 đạt 96251,41 tấn, trị gớa gần 540 triệu USD, năm 2003 đạt
97953,91 tấn, trị giá gần 600 triệu USD và đến năm 2004 thỡ đạt
121160,49 tấn, trị giá gần 770 triệu USD với các sản phẩm chủ yếu của
nước ta xuất sang Nhật là tôm, cỏ mực… Hầu hết cỏc sản phẩm của ta đều
đáp ứng được yêu cầu của thị trường Nhật, được người tiêu dùng ưa
chuộm. Tuy nhiên sản phẩn của ta đang vấp phải khó khăn tương đối lớn,
đó là phải cạnh tranh với các sản phẩm của các nước Ấn Độ, Indonexia…là
những nước rất mạnh trong khu vực về xuất khẩu thuỷ sản. Mặt khác, các
sản phẩm của chúng ta vẫn chưa được cao về chất lượng, chủng loại chưa
đa dạng, do đó vấn đề cạnh tranh với các nước trên là rất khó khăn.Ngoài ra
chúng ta cũn phải cạnh tranh với một s ố nước nữa như là Nauy, chilờ,
Trung Quốc…
1.2.2. Thị trường Mỹ
Trong thập kỷ vừa qua, Mỹ luôn đứng thứ ba, thứ tư trên thế giới về
tổng sản lượng thuỷ sản với mức khá ổn định từ 5,5-5,9 triệu tấn/năm. Hầu
hết các mặt hàng thuỷ sản của Mỹ đều có chất lượng cao, phong phú về
chủng loại với nhiều sản phẩm quý như cá hồi, cá tuyết, cá ngừ, tôm hùm,
sò, điệp, cá nheo...Tuy nhiên, sản lượng thuỷ sản nêu trên vẫn chưa đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước. Hơn thế, thị hiếu của người tiêu dùng
Mỹ lại tập trung vào một số mặt hàng như: Tôm đông bóc đầu, cá ngừ đóng
hộp, cá hồi tươi Đại Tây Dương, cá phi lê tươi, tôm hùm, thịt điệp...Các
mặt hàng nêu trên của Mỹ lại có rất ít hoặc có nhưng không đủ đáp ứng
nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng. Đặc điểm này là một trong
những động lực quan trọng cho ngoại thương hàng thuỷ sản của Mỹ phát
triển toàn diện cả về xuất khẩu lẫn nhập khẩu.
Những năm gần đây, xuất nhập khẩu thuỷ sản của Mỹ đạt giá trị bình
quân 10 tỷ USD/năm, lớn thứ 2 trên thế giới.
§Ò ¸n m«n häc Trêng ®¹i häc KTQD
thỡ sản lượng chỉ đạt là 91380,69 tấn, giỏ trị là gần 600 triệu USD. Cỏc
sản phẩm của nước ta xuất khẩu sang thị trường Mỹ chủ yếu là cỏc loại cỏ,
tụm…Tuy nhiờn khó khăn của thuỷ sản nước ta trên thị trường Mỹ là cú rất
nhiều cỏc đối thủ cạnh tranh, hầu hết các nước đó đều là cỏc quốc gia cú
thế mạnh về thuỷ sản với chất lượng sản phẩm cao, phong phỳ về chủng
loại như Thái Lan, Trung Quốc, Equado, Canada…
1.2.3. Thị trường Trung Quốc.
Năm 2000, sản lượng thuỷ sản các loại của Trung Quốc đạt 42.785
ngàn tấn trong đó sản lượng thuỷ sản khai thác tự nhiên là 17.400 ngàn tấn
và sản lượng thuỷ sản nuôi trồng đạt 25.385 ngàn tấn. Dự kiến đến năm
2001, sản lượng thuỷ sản của Trung Quốc sẽ tăng lên đến trên 50 ngàn tấn
nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước ngày càng tăng và nhu cầu cho
xuất khẩu với khối lượng lớn.
Về tiêu thụ, do mức sống của nhân dân Trung Quốc tiếp tục tăng lên
và nhu cầu về thuỷ sản tươi sống cũng tăng theo, dưới đây là số liệu thống
kê của Trung Quốc cho ta thấy.
Bảng 2: Cơ cấu tiêu dùng và xuất nhập khẩu thuỷ sản Trung Quốc.
Năm
Chỉ tiêu
Đơn vị 1999 2000
Mức tiêu thụ bình quân.
- Thành thị:
- Nông thôn:
Nhập khẩu.
Xuất khẩu.
kg/người
,,
,,
Tấn
,,
sang thị trường này đã đạt 150,797 triệu USD chiếm tỷ trọng 60% kim
ngạch xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam năm 2000 vượt xa gía trị xuất khẩu của
một số ngành kinh tế mạnh và có nhiều lợi thế của Việt Nam như cao su,
hạt tiêu...
Thị trường Trung Quốc trong 7 tháng đầu năm 2001 đã tăng 2,76 lần
đạt 106 triệu USD trong đó hàng khô đạt 74,3 triệu USD tăng 2,97 lần và
mặt hàng cá đạt 33,4 triệu USD tăng 11 lần so với cùng kỳ năm 2000 mặc
dùgiá tôm xuất khẩu có giảm 20-30% so với cùng kỳ năm 2000 và vẫn
chưa có dấu hiệu nhích lên.
Thị trường Hồng Kông chiếm khoảng 10% về gía trị hàng xuất khẩu
thuỷ sản, tiêu thụ thuỷ sản Hồng Kông rất lớn và phải nhập khẩu. Hiện nay
Hồng Kông đã thuộc về Trung Quốc đang chuyển dần từ quốc gia xuất khẩu
§Ò ¸n m«n häc Trêng ®¹i häc KTQD
8
lớn thuỷ sản thành thị trường tiêu thụ và nhập khẩu lớn các hàng thuỷ sản
nên nó sẽ trở thành một thị trường tiêu thụ thuỷ sản lớn hơn trước và sẽ
không thua kém gì so với thị trường Nhật bản.
1.2.4. Thị trường EU.
Liên minh Châu Âu hiện nay bao gồm 25 quốc gia với khoảng 500
triệu người tiêu dùng. Từ năm 1968, EU đã là một thị trường thống nhất về
hải quan, có định mức thuế hải quan chung cho tất cả các nước thành viên.
Ngày 7/2/1992 hiệp ước Masstricht được ký kết tại Hà Lan mở đầu cho sự
thống nhất về chính trị, kinh tế tiền tệ giữa các nước thành viên EU. Thị
trường EU thống nhất cho phép tự do lưu thông sức lao động, hàng hoá dịch
vụ và vốn giữa các nước thành viên.
Riêng đối với mặt hàng thuỷ sản, EU là một trong ba thị trường tiêu thụ
thuỷ sản lớn nhất thế giới bên cạnh Nhật Bản và Mỹ. Hàng năm Liên minh
Châu Âu chiếm từ 25-30% nhập khẩu thuỷ sản của toàn thế giới. Mức tiêu
thụ thuỷ sản bình quân đầu người ở EU là 17kg/năm và tăng dần hàng năm
258860933 USD, năm 2003 là 132259,39 tấn, trị giá 431417822 USD và
đến năm 2004 cũng đạt được 121434,36 tấn, đạt giá trị là 380228081 USD.
Các sản phẩm xuất sang các thị trường này có rất nhiều chủng loại, đa dạng
như cá đông lạnh, cá khô, cá khô, ruốc khô,tôm đông lạnh, tôm khô…
Thị trường các nước Châu Á khác cũng chiếm tỷ trọng lớn, năm 1999
chiếm 23%. Đáng kể là Singapore, hiện nay là thị trường lớn thứ 4 về xuất
khẩu thuỷ sản của Việt Nam, chiếm tỷ trọng 8% gía trị xuất khẩu. Đến
tháng 11/2000 kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang
Singapore, Đài Loan là 22,7 triệu USD; Triều Tiên là 21 triệu USD,
Malaysia là 10,5 triệu USD; Canada là 19,6 triệu USD; Oxtraylia là17,1
triệu USD.
Đó là những thị trường cũng có nhiều tiềm năng mà Việt Nam cần
phải cố gắng xâm nhập và mở rộng hoạt động kinh doanh xuất khẩu thuỷ
sản.
1.3.Các nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu thủy sản .
1.3.1. Yếu tố kinh tế .
§Ò ¸n m«n häc Trêng ®¹i häc KTQD
10
Kinh tế là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến việc xuất
khẩu hàng hoá của mỗi quốc gia, trong đó có thuỷ sản. Khi một thị trường
nào đó bị rơi vào tỡnh trạng bị khủng hoảng thỡ việc xuất khẩu sang thị
trường đó là rất khó khăn vỡ khi đó ng ười dân sẽ không muốn tiêu thụ
những hàng hoá có giá trị cao, thậm chí là trung bỡnh, do đó giá trị xuất
khẩu thu về sẽ không được cao,thậm chớ cú khi cũn bị lỗ. Kinh tế của đất
nước cũng ảnh hưởng đến thu nhập của người dân, khi thu nhập người dân
giảm xuống thì nhu cầu của người dân về các sản phẩn thuỷ sản nhập khẩu
cũng sẽ giảm xuống, do đó việc xuất khẩu sang các thị trường đó sẽ gặp rất
nhiều khó khăn, có khi là không xuất khẩu được. Đối với các doanh nghiệp
khi xuất khẩu cũng cần phải chú ý đến yếu tố này vì nó sẽ ảnh hưởng đến
phẩm vào các quốc gia có nền văn hoá khác nhau thì sẽ khác nhau. Một ví
dụ đơn giản về ảnh hưởng của các yếu tố văn hoá tới thị trường quốc tế là
việc giới thiệu và bán váy ngắn ở các quốc gia theo đạo hồi là điều không
tưởng.
Một số yếu tố khác như: Trình độ công nghệ, hệ thống phân phối..
cũng có tác động rất lớn đến các thị trường xuất khẩu của một nước.
2 . Đánh giá thực trạng .
2.1 . Những kết quả đạt được.
Năm 1985, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đạt 75 triệu USD, năm 1990
là 178 triệu USD và tăng nhanh với 1475 triệu USD năm 2000. Năm 2001
là 1760 triệu USD. Sau thập kỷ 90 vừa qua, giá trị xuất khẩu đã tăng lên
888% là mức tăng nhanh nhất trong số các sản phẩm lương thực và thực
phẩm xuất khẩu.
Trong 5 năm gần đây mức tăng này bình quân hàng năm là
24,2%/năm. Đây là mức tăng cao không chỉ ở nước ta mà còn trên thế giới
(giá trị xuất khẩu thuỷ sản thế giới cùng thời kỳ chỉ tăng bình quân
1%/năm). Nhờ xuất khẩu thuỷ sản hàng năm tăng nhanh vào đầu thập kỷ
90 của thế kỷ 20, Việt nam còn đứng hàng thứ 25, 26 tới cuối thế kỷ 20 đã
§Ò ¸n m«n häc Trêng ®¹i häc KTQD
12
vươn lên thứ 13, 14 trên thế giới và đã gia nhập danh sách những nước xuất
khẩu thuỷ sản chính của thế giới.
Vào những năm 2000 thì các thị trường của xuất khẩu có những biến
động mạnh, đặc biệt là sau vụ kiện tôm và cá basa nhập khẩu vào thị trường
Mỹ.Tuy nhiên xuất khẩu thuỷ sản vẫn có những bước phát triển đáng ghi
nhận, các thị trường vẫn được duy trì, mở rộng với tổng cộng hơn 80 quốc
gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, các thị trường từng bước được khai thác
cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
Bảng 3:Xuất khẩu thuỷ sản chính ngạch năm 2004 trên các thị trường.
nước đã có những việc làm cụ thể, hợp lý để đưa ngành thủy sản phát triển
theo đúng định hướng phát triển của nhà nước :
- Nâng cao chất lượng quản lý, hoàn thiện bộ máy quản lý ở các địa
phương, phân cấp mạnh tới các cơ sở sản xuất. Bên cạnh đó tích cực hạn
chế và khắc phục tính tự phát tăng cường hiệu quả và phát triển bền vững,
đề xuất những chính sách, giải pháp cụ thể để thu hút các nguồn vốn đầu
tư, xúc tiến tiếp tục mở rộng thị trường tiêu thụ.