----------
BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài : “Một số giải pháp nhằm nâng
cao khả năng cạnh tranh của ngành cơ
khí Việt Nam ”
Ngoài lời nói đầu và phần kết luận,kết cấu đề án gồm ba phần.
Phần I : Cạnh tranh và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp trong cơ chế thị trường
§Ò ¸n m«n häc QTKDCN & XD
2
Phần II : Thực trạng khả năng cạnh tranh của ngành cơ khí Việt
Nam hiện nay.
Phần III : Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của
ngành cơ khí Việt Nam.
Với trình độ thời gian có hạn cho nên đề tài khó tránh khỏi những khiếm
khuyết. Em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo tận tình của các thầy cô
giáo và các bạn để đề án đạt kết quả tốt hơn nữa. Em xin chân thành cảm ơn
thầy giáo PGS. PTS Vũ Phán cùng các cán bộ trong Hội cơ khí Việt Nam đã
giúp em rất nhiều trong quá trình hoàn thành đề án này.
Sinh viên : Phạm Thị Hải Anh
§Ò ¸n m«n häc QTKDCN & XD
3 PHẦN I
CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH
CỦA DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP TRONG CƠ CHẾ THỊ
TRƯỜNG.
I. Sản phẩm công nghiệp và thị trường sản phẩm công
nghiệp.
1. Sản phẩm công nghiệp.
Theo quan niệm truyền thống, sản phẩm công nghiệp là tổng hợp các đặc
trưng vật lý, hoá học có thể quan sát và được tập hợp trong một hình thức
II. Cạnh tranh và khả năng cạnh tranh của các doanh
nghiệp trên thị trường.
1. Cạnh tranh trong cơ chế thị trường.
1.1. Quan niệm về cạnh tranh.
Thuật ngữ “cạnh tranh” có nguồn gốc từ tiếng La tinh với nghĩa chủ yếu
là sự đấu tranh, ganh đua, thi đua giữa các đối tượng cùng phẩm chất, cùng
loại, đồng giá trị nhằm đạt được những ưu thế, lợi ích, mục tiêu xác định.
Kinh tế học định nghĩa cạnh tranh là sự tranh giành thị trường ( khách
hàng ) để tiêu thụ sản phẩm giữa các doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, cạnh tranh là một điều kiện và là
yếu tố kích thích kinh doanh, là môi trường và động lực thúc đẩy sản xuất phát
triển, tăng năng suất lao động, tạo sự phát triển của xã hội nói chung. Kết quả
cạnh tranh sẽ tự loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả và tất yếu
những doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả sẽ đứng vững trên thị trường.
Tuy nhiên, ngoài những mặt tích cực, cạnh tranh không lành mạnh cũng
gây ra nhiều hậu quả tiêu cực cho xã hội như : gây tổn thất lãng phí cho xã
hội, ô nhiễm môi trường .... Chính vì vậy, nhà nước cần có những giải pháp
hữu hiệu để hạn chế những tác hại tiêu cực của cạnh tranh.
1.2. Các loại hình cạnh tranh.
Có nhiều cách phân loại cạnh tranh dựa trên những tiêu thức khác nhau .
1.2.1. Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường, có ba loại :
- Cạnh tranh giữa người bán và người mua
- Cạnh tranh giữa những người mua với nhau
- Cạnh tranh giữa những người bán với nhau
1.2.2. Căn cứ vào mức độ, tính chất của cạnh tranh trên thị
trường, có 3 loại :
- Cạnh tranh hoàn hảo : Là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường
có rất nhiều người mua và người bán và không có người nào có ưu thế để
có thể ảnh hưởng đến giá cả trên thị trường.
- Cạnh tranh không hoàn hảo : Tình trạng thị trường không đạt
hoạt động quản trị cũng như khâu tiêu thụ ... nhằm sản xuất ra được những sản
phẩm hàng hoá và dịch vụ có chất lượng cao với chi phí sản xuất thấp, được
thị trường chấp nhận nhờ đó tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, không
ngừng duy trì và mở rộng thị phần , xác lập cho doanh nghiệp một chỗ đứng
vững chắc trên thị trường.
2.2. Các chỉ tiêu phản ánh khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp.
Để phản ánh khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp, người ta dùng
rất nhiều các chỉ tiêu khác nhau gồm các chỉ tiêu định lượng và các chỉ tiêu
định tính.
2.2.1. Các chỉ tiêu định lượng.
- Thị phần của doanh nghiệp : Đây là một chỉ tiêu thường được sử
dụng để đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này được
§Ò ¸n m«n häc QTKDCN & XD
6
đo bằng tỷ lệ phần trăm doanh số của công ty so với doanh số của toàn
ngành. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng cạnh
tranh cao và ngược lại.
- Doanh thu : Dựa vào doanh thu có thể đánh giá được khả năng
tiêu thụ của doanh nghiệp là tốt hay không tốt. Để sử dụng được chỉ tiêu
này thì doanh nghiệp có thể chọn từ 3 đến 5 đối thủ cạnh tranh mạnh nhất
trong ngành để đưa ra so sánh và kết luận.
Chỉ tiêu này dễ tính, đơn giản nhưng nhược điểm là dôi khi không chính
xác và khó lựa chọn ra doanh nghiệp nào là mạnh nhất.
- Tỷ suất lợi nhuận : Tỷ suất lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp, nó
phản ánh khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và cũng thể hiện tính hiệu
quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Công thức tính :
Lợi nhuận của doanh nghiệp
Tỷ suất lợi nhuận = —–———————————
- Các nhân tố về mặt kinh tế.
- Các nhân tố về chính trị, luật pháp.
- Các nhân tố về khoa học – công nghệ.
- Các yếu tố về văn hoá-xã hội.
- Các yếu tố tự nhiên.
2. Nhóm nhân tố thuộc môi trường ngành.
Môi trường ngành là môi trường phức tạp nhất và ảnh hưởng nhiều nhất
đến cạnh tranh. Sự thay đổi thường diễn ra thường xuyên khó dự báo được và
phụ thuộc vào các lực lượng sau đây :
- Sức ép của đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành : Khi trong ngành
kinh doanh của doanh nghiệp có số lượng đông đối thủ cạnh tranh hoặc có
nhiều đối thủ thống lĩnh thị trường thì cạnh tranh sẽ ngày càng gay gắt hơn.
- Sự đe doạ của các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn sẽ gia nhập thị trường
- Sức ép của nhà cung ứng : Quyền lực của nhà cung ứng được khẳng
định thông qua sức ép về giá nguyên vật liệu.
- Sức ép của khách hàng :Vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp còn bị đe
doạ bởi chính năng lực, trình độ nhận thức, khả năng của người tiêu dùng.
- Sự xuất hiện các sản phẩm thay thế : Khi trên thị trường xuất hiện thêm
sản phẩm mà doanh nghiệp đang sản xuất tất yếu sẽ giảm khả năng tiêu thụ
sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường.
3.Nhân tố bên trong doanh nghiệp.
3.1. Nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực có vai trò quan trọng nhất trong mọi hoạt động của
doanh nghiệp.
Nguồn nhân lực bao gồm :
- Quản trị viên cấp cao : Gồm ban giám đốc và các trưởng phòng phó
ban. Đây là đội ngũ có ảnh hưởng quyết định đến kết quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp
§Ò ¸n m«n häc QTKDCN & XD
8
Sản xuất là việc sử dụng con người lao động để tác động lên các yếu tố
đầu vào của quá trình sản xuất ( vật tư, máy móc, đất đai, thông tin.... ) để làm
ra các sản phẩm hay dịch vụ phù hợp với nhu cầu thị trường.
Lĩnh vực này gồm các nhiệm vụ cụ thể sau :
- Hoạch định chương trình
- Xây dựng kế hoạch sản xuất
- Điều khiển quá trình sản xuất
§Ò ¸n m«n häc QTKDCN & XD
9
- Kiểm tra chất lượng
Lĩnh vực sản xuất có vai trò rất quan trọng. Tổ chức sản xuất hợp lý sẽ
góp phần to lớn vào việc sử dụng có hiệu quả nguyên, nhiên, vật liệu, thiết bị,
máy móc và sức lao động trong quá trình sản xuất. Từ đó, có thể sản xuất
được những sản phẩm có chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu thị trường với
chi phí thấp nhất. Vì vậy, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp tất
yếu phải tổ chức tốt quá trình sản xuất.
2. Lĩnh vực Marketing
Nhiệm vụ chung của quản trị Marketing là thực hiện tốt nhất các nhiệm
vụ chung của doanh nghiệp như : lợi nhuận, tăng doanh thu và nâng cao uy tín
của doanh nghiệp.
Nhiệm vụ cụ thể của quản trị Marketing là : nghiên cứu khách hàng và thị
trường để trên cơ sở đó đề ra các chiến lược về thị trường, về sản phẩm, tiêu
thụ.... Cụ thể bao gồm những nội dung sau :
- Nghiên cứu các thông tin về thị trường
- Hoạch định chính sách sản phẩm
- Hoạch định chính sách giá cả
- Hoạch định chính sách phân phối
- Chính sách hỗ trợ tiêu thụ
Nâng cao khả năng cạnh tranh tất yếu phải tăng cường hoạt động
Marketing trong doanh nghiệp. Thông qua Marketing, các doanh nghiệp sẽ có
- Quản lý vốn
Mục đích của quản trị tài chính là nhằm sử dụng vốn một cách có hiệu
quả để thu lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp, bảo đảm khả năng thanh toán
cho doanh nghiệp, bảo toàn và phát triển vốn, bảo đảm an toàn tài chính.... Có
thể nói, thực hiện tốt chức năng quản trị tài chính là một đòi hỏi tất yếu để
nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp bởi nguồn lực về vốn luôn là một
nhân tố có tác động quyết định đến sức cạnh tranh.
PHẦN II
THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NGÀNH CƠ
KHÍ VIỆT NAM HIỆN NAY
I. Đặc điểm của ngành cơ khí Việt Nam có ảnh hưởng đến
khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp cơ khí.
1. Qúa trình hình thành và phát triển ngành cơ khí Việt Nam
Ngành công nghiệp cơ khí ở nước ta có một lịch sử phát triển trên 40
năm và luôn được xác định là ngành công nghiệp then chốt. Ngay từ năm
1955 ngành công nghiệp cơ khí bắt đầu phát triển thành một ngành ưu tiên của
nền kinh tế. Năm 1970, giá trị sản lượng cơ khí chiếm 12% giá trị sản lượng
của toàn ngành công nghiệp. Từ sau năm 1985, ngành công nghiệp cơ khí chịu
ảnh hưởng bởi chính sách đổi mới kinh tế. Các dòng hàng hoá và thương mại
đã thay đổi và phương thức trợ cấp trực tiếp trước đây từ Nhà nước cho ngành
cơ khí đã giảm. Kết quả là, nhiều doanh nghiệp cấp huyện, cấp tỉnh hoặc bị
tan rã, hoặc hợp nhất hay giao lại cho trung ương quản lý. Số lượng các doanh
§Ò ¸n m«n häc QTKDCN & XD
11
nghiệp cơ khí quốc doanh giảm từ 610 doanh nghiệp năm 1985 còn 463 doanh
nghiệp năm 1996.
Hiện nay, ngành công nghiệp cơ khí có khoảng 460 doanh nghiệp nhà
nước, trên 900 doanh nghiệp tư nhân và 12 viện nghiên cứu. Thêm vào đó,
tranh quyết liệt.
2.3. Đặc điểm về thị trường.
§Ò ¸n m«n häc QTKDCN & XD
12
Ngành cơ khí Việt Nam có một thị trường sản phẩm rất rộng lớn, đa
dạng. Bao gồm : thị trường máy móc- thiết bị phục vụ cho sản xuất công
nghiệp và giao thông vận tải, thị trường máy móc- thiết bị phục vụ sản xuất
nông-lâm-ngư nghiệp, thị trường máy móc-thiết bị phục vụ xây dựng, thị
trường máy móc- thiết bị phục vụ tiêu dùng...
Hiện nay, nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nên
nhu cầu về sản phẩm cơ khí càng cao. Có thể nói, ngành cơ khí Việt Nam có
một lợi thế to lớn : đó là có một thị trường rộng lớn để tiêu thụ sản phẩm.
Song trên thực tế các sản phẩm của ngành cơ khí nước ta chưa đáp ứng được
nhu cầu thị trường. Vì vậy, chỉ chiếm một thị phần rất nhỏ bé và khiêm tốn.
2.4. Đặc điểm về công nghệ.
Công nghệ và thiết bị vạn năng cũ kỹ, lạc hậu hàng 30-40 năm so với
khu vực và 50-60 năm so với thế giới. Có tới 95% thiết bị được gom nhặt từ
các thiết bị lẻ, không đồng bộ, không xác định được sản phẩm ổn định, không
nhận được chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển, thiết bị hầu hết đã
hết khấu hao.
2.5. Đặc điểm về nguồn nhân lực.
Ngành cơ khí có một lực lượng lao động khá lớn. Theo số liệu thống kê
của tổng cục thống kê, chưa kể khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, hiện nay có
khoảng 224000 lao động đang làm việc trong ngành cơ khí, trong đó có
khoảng 10000 người có trình độ trên đại học. Tuy nhiên, nhìn chung chất
lượng nguồn nhân lực ngành cơ khí không cao. Phần lớn đội ngũ công nhân,
cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý chưa được trang bị kịp các kiến thức mới để
đáp ứng được đòi hỏi của nền sản xuất cơ khí có công nghệ cao trong cơ chế
thị trường đa dạng và quốc tế.
2.6. Đặc điểm về vốn.
lượng siêu trường, siêu trọng, thiết bị tham gia vào các công trình lớn như xi
măng, đường mía, thuỷ điện, nhiệt điện, luyện kim, khai thác dầu khí... đã lần
lượt ra đời. Có thể nói, trong hơn 10 năm đổi mới vừa qua, ngành cơ khí đã có
rất nhiều nỗ lực. Tuy nhiên, đó cũng chỉ là quá trình thích nghi để không bị tụt
lùi, để tồn tại nên đến nay ngành chỉ đáp ứng được 8-9% nhu cầu của nền kinh
tế quốc dân và trên tổng thể ngành vẫn ở bên bờ của khủng hoảng. Hầu hết các
doanh nghiệp cơ khí đang ở trạng thái hoạt động yếu và không có tính cạnh
tranh quốc tế.
Trước hết, sức sản xuất của ngành công nghiệp cơ khí hiện nay vẫn còn
quá nhỏ bé chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường, kể cả thị trường trong
nước và thị trường nước ngoài.
Thị trường trong nước : Đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hoá-
hiện đại hoá nên nhu cầu về các sản phẩm của ngành cơ khí rất cao, đặc biệt là
nhu cầu về các thiết bị cho các ngành sản xuất công nghiệp, nhu cầu về máy
móc phục vụ giao thông vận tải, nông nghiệp... Trong những năm gần đây,
cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, nhu cầu về các sản phẩm cơ
khí lại càng tăng nhanh và đa dạng đặc biệt là nhu cầu về thiết bị đồng bộ để
cải tạo đầu tư chiều sâu, xây dựng các nhà máy mới và các loại hàng tiêu dùng
cao cấp. Các mặt hàng này chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng kim ngạch nhập
khẩu của nước ta trong thời kỳ dổi mới. Theo số liệu của các cơ quan có thẩm