Mẫu người quân tử - con người toàn thiện trong
“Luận ngữ” của Khổng Tử
Bốn tác phẩm kinh điển nổi tiếng của Nho giáo mà bất kỳ người nào nghiên
cứu học thuyết này cũng đều biết đến là Đại học, Trung Dung, Luận Ngữ,
Mạnh Tử, được nhà triết học nổi tiếng đời Tống là Chu Hy (1130 - 1200)
sắp xếp, kế thừa cách chú giải của các nhà tư tưởng Tống Nho đi trước, cũng
như chú giải của chính ông thành bộ sách có tên chung là Tứ thư tập chú,
trong đó Luận ngữ được xem là một trong những tác phẩm khởi đầu quan
trọng cho một nền Nho học Trung Hoa do Khổng Tử sáng lập. Đây là cuốn
sách đề cập đến các vấn đề của triết học, chính trị, tôn giáo, đạo đức... Có
thể nói, những tinh tuý được rút ra từ những vấn đề đó nhằm mục đích xây
dựng con người toàn thiện, toàn mỹ cho một xã hội phong kiến lý tưởng theo
học thuyết của Không Tử.
Trong bài viết này, từ bình diện triết học, chúng tôi muốn làm rõ mẫu người
quân tử - con người toàn thiện trong Luận ngữ của Khổng Tử.
Để làm rõ mẫu người quân tử - con người toàn thiện trong học thuyết Khổng
Tử, chúng ta cần phải lý giải tại sao ông lại chọn đối tượng quan tâm trong
học thuyết của mình là con người và các quan hệ của con người. Song, trong
khuôn khổ của một bài viết, chúng tôi không thể thực hiện được điều đó mà
chỉ muốn nói rằng, bất kỳ ai khi nghiên cứu học thuyết của Khổng Tử cũng
đều thống nhất ở điểm cho rằng, đứng trước một xã hội đang phải hứng chịu
sự suy thoái về đạo đức của con người (cái mà Trời phú cho con người khi
con người xuất hiện và được đặt nó vào vị trí trung tâm của Vũ trụ), xác định
đối tượng quan tâm của mình ở trần thế, Khổng Tử muốn làm cho con người
thấy được chính bản thân mình, thấy được sự băng hoại về bản tính đạo đức
(tính bản thiện) vốn giống nhau khi nó mới được sinh ra nhưng cũng ngay
lập tức bị phân hoá, đồng thời dạy cho con người biết cái căn bản nhất của
nó là Nhân tính. Chính vì vậy mà ông không đề cập, hay nói đúng hơn là cố
mà nó không làm chủ, cho nên có thể bảo nó là lớn. Vì cho tới cùng, nó
không tự nhận nó là lớn cho nên mới hoàn thành được cái vĩ đại của nó" .
Người nắm được đạo cao và có đức cả là Thánh nhân (Đạo nhân). Đó là
người "biết hoà thì gọi là bất biến (thường), biết bất biến thì gọi là sáng".
Còn Khổng Tử thì lại thấy mẫu người (Đức cả) đó là người nắm được đạo
Trung, họ thật hiếm trong dân chúng thời bấy giờ: "Trung dung quả là một
đức tính, rất mực tất đẹp? Đã lâu dân chúng không theo nổi" (Trung dung
chi đức dã, kỳ chí dĩ hồ! Dân tiễn cữu hĩ - Luận ngữ, VI, 27).
Trong Kinh Dịch đã có khái niệm con người toàn thiện hay thiện nhân. Đó là
người biết theo đạo trung chính, biết giá trị của hạng cao sĩ. Thế nhưng,
Dịch không bỏ qua mẫu người đối lập với con người hoàn thiện như hai thế
lực tự nhiên âm và dương. Đó là sự đối lập giữa quân tử và tiểu nhân.
Nguyễn Hiến Lê đã nhận định một cách đúng đắn rằng, "Dịch muốn đào tạo
hạng người quân tử, khuyến khích tiểu nhân cải tà quy chính (quẻ Bác):
"Dịch vị quân tử mưu” là nghĩa vậy, cho nên tôi cho đạo Dịch là ‘đạo của
người quân tử". Nếu ngay từ đầu, tiểu nhân và quân tử là hai hạng người đối
lập nhau và sự đối lập đó là hoàn toàn mang tính tự nhiên thì làm thế nào để
tiểu nhân cải tà quy chính được? Khổng Tử là người đã khắc phục vấn đề đó
bằng cách vượt khỏi lập luận của Dịch về sự hình thành hai thế lực đối lập.
Nhìn thẳng vào cuộc sống xã hội hiện thực, ông đã khẳng định rằng, "Bản
tính người ta gần giống nhau, thói quen khiến xa nhau (Tính tương cận dã,
tập tương viễn dã - Luận ngữ, XII, 2). Nghĩa là, nếu "giáo đục" con người,
có thể uốn nắn đạo đức của họ, tẩy đi những tham dục nảy sinh trong cuộc
sống của họ, đưa họ về với bản tính (thiện) ban đầu và nâng cao phẩm hạnh
của họ bằng "ngũ thường”. Tuy nhiên, với kẻ tiểu nhân thì sự "giáo dục" đó
chỉ có hiệu quả khi phát hiện kịp thời sự suy thoái đạo đức "bởi thói quen"
của nó và khi sự suy thoái đó chưa đến mức tột cùng của sự hèn hạ. Khổng
Tử nói rằng: "Chỉ có hạng thượng trí và hạng trí ngu là không thay đổi (tính
tình)" (Duy thượng trí dữ hạ trí ngu bất di Luận ngữ, XVII, 3). Hạng thượng