Tài liệu đồ án công nghệ chuyển mạch IP, chương 6 - Pdf 87

chương 6:
Cấu hình một miền định
tuyến RIP
Để cấu hình một miền định tuyến RIP thì các router phải
được cấu h
ình để thực hiện các nhiệm vụ dưới đây. Một số nhiệm
vụ là rõ ràng nhưng một số khác cần giải thích thêm.
- Cho phép RIP là nhi
ệm vụ duy nhất được yêu cầu cấu hình
để router thực hiện hoạt động RIP .
- Cho phép cập nhật unicast cho RIP. RIP sẽ vận hành như
một giao thức broadcast trừ khi nhiệm vụ này được cấu
hình. Với nhiệm vụ này, các nhà quản lý mạng có thể điều
khiển các quyết định trao đổi thông tin định tuyến.
- Áp dụng offset đối với các tham số (metric) định tuyến.
Trong khi RIP là giao thức hop-count, nhiệm vụ này có
th
ể được sử dụng để tăng metric đến các tuyến được biết
bởi RIP. Nó cho phép nhà quản lý mạng coi trọng hơn các
khám phá RIP.
-
Điều chỉnh timer và xác định phiên bản của RIP
- Cho phép nhận thực RIP. RIP 2 hỗ trợ nhận thực có thể
thiết lập (plain-text, MD5). Để sử dụng MD5 thì các khoá
ph
ải được thiết lập và xác định,một trương thời gian sống
phải được xác định cho một bộ khoá trên một ‘chain’. Mỗi
khoá phải được xác định với một ‘key ID’và key được lưu
trữ cục bộ. Key ID và giao diện kết hợp với key xác định
đơn nhất thuật toán nhận thực và MD5 được sử dụng.
- Không cho phép tóm tắt tuyến. Tóm tắt tuyến được thực

- Phân cấp hai mức.
- Thông tin trạng thái tuyến chỉ thông báo khi có sự biến đổi
về cấu hình.
- Có kh
ả năng mở rộng.
Một ví dụ về mạng OSPF gồm một số vùng như hình 2.9:
Hình 2.9: Mạng OSPF
Một mạng OSPF phải có một vùng 0 được định nghĩa như
vùng backbone. Nếu có nhiều vùng được cấu hình, tất cả các vùng
khác 0 ph
ải kết nối đến vùng 0 qua ABR (Area Border Router).
Các router trong m
ột vùng thông báo trạng thái đường LSA (Link
State Advertisement) và xây dựng một sơ đồ các vùng được gọi là
cơ sở dữ liệu trạng thái đường. Thông tin được tóm tắt về các cấu
hình và các mạng đặc biệt được chuyển giữa các vùng thông qua
ABR. Do đó các router duy trì thông tin hoàn chỉnh về tất cả các
mạng và các router trong vùng của nó và thông tin đặc biệt về các
mạng và các router ngoài vùng của nó. Để đạt tới mạng trong vùng
này, các router c
ần phải có đủ thông tin để hướng các gói đến ABR
phù hợp.
OSPF thu hút được sự quan tâm của nhiều nh
à phát triển
mạng và quản lý mạng vì một số lý do sau.
- Các mạng lớn hơn bao gồm nhiều hơn các router đang
được triển khai v
à xây dựng, khả năng scalability lớn hơn
RIP và các giao thức định tuyến véc tơ khoảng cách khác.
- Các chức năng và dịch vụ bổ sung đang và sẽ cần được

hiện với tất cả các loại mạng. OSPF thực hiện một giao thức
‘hello’, nó là một giao thức bắt tay,và sau đó thực hiện ‘ping’ với
các router kế cận để biết chắc rằng link hoặc router nào đó đang
hoạt động. Sau khi thực hiện ‘hello’ hoàn thành, các router đồng
tầng được xem như ‘merely adjacent’ có nghĩa là các router này đã
hoàn thành m
ột phần đồng bộ chứ chưa phải tất cả. Tiếp theo,các
router trao đổi thông tin mô tả hiểu biết của chúng về miền định
tuyến. Thông tin này được đặt trong các bản tin LSA, nó không
phải là thông tin mô tả toàn bộ cơ sở dữ liệu trạng thái đường
nhưng nó chứa đủ thông tin để router thu biết liệu cơ sở dữ liệu
trạng thái đường của nó có đúng với cơ sở dữ liệu của các router


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status