Kế toán NVL, CCDC tại C.ty Xây dựng công trình Hưng Thịnh - Pdf 89

Lời nói đầu
Trong nền kinh tế thị trờng, cạnh tranh là xu thế tất yếu và chính nó thúc đẩy sự
phát triển của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp hạch toán kinh doanh độc lập
hoàn toàn chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình. Vấn đề đặt ra cho
mỗi doanh nghiệp là làm thế nào để sản xuất và kinh doanh có lãi. Một trong các
biện pháp mà doanh nghiệp phải tiến hành là tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá
thành sản phẩm. Việc phân tích đánh giá đúng kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh chỉ có thể dựa trên việc tính chính xác giá thành sản phẩm. Việc tính chính
xác giá thành sản phẩm lại chịu ảnh hởng trực tiếp của việc phân bổ và tập hợp chi
phí sản xuất.
Nhận thức rằng việc tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
ở mỗi doanh nghiệp giữ vai trò đặc biệt quan trọng quyết định sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp, em đã chọn đề tài " Tổ chức hạch toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Len Hà Đông Hà Tây" làm chuyên đề
thực tập tốt nghiệp
Luận văn bao gồm 3 phần
Phần 1: Một số vấn đề lý luận chung về hạch toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm trong các doanh nghiệp công nghiệp
Phần 2: Thực trạng công tác tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm tại Công ty Len Hà Đông
Phần 3: Một số ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Len Hà Đông
Do thời gian thực tập cũng nh kiến thức còn hạn chế cho nên chắc chắn luận văn
không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy rất mong đợc sự đóng góp ý kiến của
các thầy cô và các bạn.
Hà nội, ngày 19 tháng 5 năm 2005
Sinh viên
Lê Đức Toàn
Phần 1
Một số vấn đề lý luận chung về tổ chức hạch
toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

có công dụng, ý nghĩa và yêu cầu quản lý khác nhau. Tuy nhiên về mặt hạch toán
chi phí sản xuất thờng đợc phân loại theo các tiêu thức sau:
1.2.1.Phân loại theo yếu tố chi phí
Theo cách phân loại này, căn cứ vào tính chất, nội dung kinh tế của chi phí sản
xuất khác nhau để chia ra các yếu tố chi phí, mỗi yếu tố của chi phí chỉ bao gồm
những chi phí có cùng một nội dung kinh tế không phân biệt chi phí đó phát sinh ở
lĩnh vực nào. Theo qui định hiện hành ở Việt Nam toàn bộ chi phí đợc chia làm các
yếu tố sau:
- Yếu tố nguyên liệu, vật liệu: bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính,
vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ... sử dụng vào sản xuất kinh
doanh (loại trừ giá trị dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi)
- Yếu tố nhiên liệu, động lực: Sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh trong
kỳ (trừ số dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi)
- Yếu tố tiền lơng và các khoản phụ cấp lơng: Phản ánh tổng số tiền lơng và
phụ cấp mang tính chất lơng phải trả cho công nhân viên chức.
- Yếu tố BHXH,BHYT, KPCĐ trích theo tỷ lệ qui định trên tổng số lơng và
phụ cấp phải trả cho công nhân viên.
- Yếu tố khấu hao TSCĐ: Phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ sử dụng cho sản
xuất kinh doanh trong kỳ.
- Yếu tố chi phí khác bằng tiền: Là toàn bộ chi phí bằng tiền khác cha phản
ánh vào các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ .
1.2.2.Phân loại theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm
Theo cách phân loại này căn cứ vào mục đích công dụng của chi phí trong sản
xuất để đa ra các khoản mục chi phí khác nhau, mỗi khoản mục chỉ bao gồm những
chi phí có cùng mục đích công dụng không phân biệt chi phí đó có nội dung kinh tế
nh thế nào.
Theo qui định hiện hành giá thành công xởng sản phẩm ở Việt Nam gồm ba khoản
mục phí nh sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: bao gồm chi phí nguyên liệu, vật liệu chính
và vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng vào mục đích trực tiếp sản xuất sản phẩm, không

phí khác nh phân loại chi phí theo cách thức kết chuyển chi phí, phân loại chi phí
theo lĩnh vực hoạt động kinh doanh.
2. Giá thành sản phẩm
2.1. Bản chất và nội dung kinh tế của giá thành sản phẩm
Trên các góc độ nghiên cứu, quản lý khác nhau, trong các thời kỳ khác nhau và ở
những nớc khác nhau, ngời ta có các cách hiểu khác nhau về giá thành sản phẩm.
Theo quan điểm kế toán Việt Nam hiện nay: "Giá thành sản phẩm là toàn bộ các
khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hóa có liên quan đến khối lợng
công tác, sản phẩm và lao vụ đã hoàn thành". Nh vậy, chỉ tiêu giá thành sản phẩm
đợc tính toán xác định cho từng loại sản phẩm, lao vụ cụ thể và chỉ tính toán với số
lợng sản phẩm hoặc dịch vụ đã hoàn thành toàn bộ quá trình sản xuất (thành phẩm)
hoặc kết thúc một giai đoạn sản xuất (bán thành phẩm) chứ không tính cho sản
phẩm còn đang nằm trên dây chuyền sản xuất.
Trong hệ thống kế toán Pháp ban hành năm 1982, giá thành sản xuất đợc qui định
bao gồm:
- Giá mua các vật liệu tiêu hao: chi phí phải chi ra để mua để mua các vật liệu
dùng chế tạo sản phẩm.
- Chi phí trực tiếp sản xuất: các chi phí chi ra tham gia trực tiếp vào quá trình
sản xuất sản phẩm.
- Chi phí gián tiếp có thể phân bổ hợp lý vào giá thành sản phẩm sản xuất.
Hệ thống này không cho phép tính vào giá thành sản xuất các loại chi phí sau:
+ Chi phí tài chính: các chi phí cho các nghiệp vụ tài chính.
+ Chi phí su tầm và phát triển: là các khoản chi phí mà doanh nghiệp đã đầu t
trong lĩnh vực su tầm, phát triển nhằm phục vụ lợi ích cho doanh nghiệp.
+ Các chi phí quản lý chung: các chi phí chi ra phục vụ cho quản lý doanh
nghiệp nh tiền lơng nhân viên quản lý, khấu hao TSCĐ dùng trong quản lý doanh
nghiệp, tiền thuê văn phòng.
Nh vậy, trong hệ thống kế toán Pháp chỉ có những chi phí liên quan trực tiếp đến
quá trình sản xuất sản phẩm mới tính vào giá thành sản phẩm. Điều này đảm bảo
tính khách quan và chính xác của chỉ tiêu giá thành.

khách hàng mà còn phải dựa trên cơ sở của giá thành sản phẩm.
Ngoài hai chức năng quan trọng là bù đắp chi phí và xác định giá bán sản phẩm,
giá thành còn giúp cho các doanh nghiệp lập kế hoạch, kiểm tra, đánh giá hiệu quả
của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và là cơ sở để đề ra các quyết
định đầu t.
2.2. Các loại giá thành
Để đáp ứng các yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế hoạch hóa giá thành cũng
nh yêu cầu xây dựng giá cả hàng hóa, giá thành đợc xem xét dới nhiều góc độ,
nhiều phạm vi tính toán khác nhau.
2.2.1.Phân theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành
Căn cứ vào thời gian và cơ sở số liệu tính, giá thành sản phẩm đợc chia làm:
- Giá thành kế hoạch: Giá thành kế hoạch đợc xác định trớc khi bớc vào sản xuất
kinh doanh trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trớc và các định mức, các dự toán chi phí
của kỳ kế hoạch.
- Giá thành định mức: Cũng nh giá thành kế hoạch, giá thành định mức cũng đợc
bắt đầu trớc khi sản xuất sản phẩm. Tuy nhiên khác với giá thành kế hoạch đợc xây
dựng trên cơ sở các định mức bình quân, tiên tiến và không biến đổi trong suốt cả
kỳ kế hoạch, giá thành định mức đợc xác định trên cơ sở định mức về chi phí hiện
hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch (thờng là ngày đầu tháng) nên
giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định mức chi phí
đạt đợc trong quá trình thực hiện kế hoạch giá thành.
- Giá thành thực tế: Giá thành thực tế là chỉ tiêu xác định sau khi kết thúc quá
trình sản xuất sản phẩm dựa trên cơ sở các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình
sản xuất sản phẩm. Giá thành thực tế là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả
phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử dụng các giải pháp kinh tế - tổ
chức - kỹ thuật để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm, là cơ sở để xác định kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, có ảnh hởng trực tiếp đến thu
nhập của doanh nghiệp.
Cách phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí, xác định đ-
ợc các nguyên nhân vợt (hụt) định mức trong kỳ hạch toán. Từ đó điều chỉnh kế

công trực tiếp
Chi phí sản
xuất chung
=
+
+
Giá thành tiêu
thụ sản phẩm
Giá thành sản xuất
của sản phẩm
Chi phí quản lý
doanh nghiệp
Chi phí bán
hàng=
+
+
- Chi phí sản xuất trong kỳ bao gồm cả những chi phí đã trả trớc trong kỳ nhng
cha phân bổ cho kỳ này và những chi phí phải trả kỳ trớc nhng thực tế kỳ này
mới phát sinh; nhng không bao gồm những chi phí trả trớc của kỳ trớc phân bổ
cho kỳ này và những chi phí phải trả kỳ này nhng thực tế cha phát sinh. Ngợc lại,
giá thành sản phẩm lại chỉ liên quan trực tiếp đến chi phí phải trả trong kỳ và chi
phí trả trớc đợc phân bổ trong kỳ.
Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm đợc biểu hiện qua công
thức sau:

4. Yêu cầu, nhiệm vụ hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Nh chúng ta đã biết, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai chỉ tiêu kinh tế
cơ bản phản ánh chất lợng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Kết
quả lỗ, lãi của doanh nghiệp phụ thuộc phần lớn vào yếu tố chi phí và giá thành sản
xuất.

- Xác định đúng đối tợng tập hợp chi phí sản xuất và phơng pháp tập hợp chi
phí sản xuất phù hợp với đặc điểm qui trình công nghệ, đặc điểm tổ chức sản
xuất của doanh nghiệp.
- Lựa chọn đúng đối tợng tính giá thành và phơng pháp tính giá thành phù hợp
với đặc điểm riêng của doanh nghiệp.
- Xác định chính xác giá trị sản phẩm dở dang.
- Thực hiện phân bổ chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ cho các đối tợng tính
giá và thực hiện công tác tính giá thành cho khối lợng sản phẩm, dịch vụ đã
hoàn thành.
Phân tích chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm để có những kiến nghị, đề
xuất cho lãnh đạo doanh nghiệp kịp thời ra quyết định trớc mắt cũng nh lâu dài đối
với sự phát triển của doanh nghiệp.
5. Hạch toán chi phí sản xuất
5.1. Đối tợng hạch toán chi phí sản xuất
Xác định đối tợng hạch toán chi phí sản xuất là công việc đầu tiên và quan trọng
của việc tổ chức hạch toán quá trình sản xuất. Tổ chức hạch toán quá trình sản xuất
bao gồm hai giai đoạn kế tiếp nhau và có quan hệ mật thiết với nhau. Đó là giai
đoạn hạch toán chi tiết chi phí sản xuất phát sinh theo từng sản phẩm nhóm sản
phẩm, đơn đặt hàng, giai đoạn công nghệ, phân xởng ...và giai đoạn tính giá thành
sản phẩm, chi tiết sản phẩm theo đơn vị tính giá thành qui định.. Việc phân chia này
xuất phát từ yêu cầu quản lý, kiểm tra phân tích chi phí, yêu cầu hạch toán kinh
doanh nội bộ và theo đặc điểm tổ chức sản xuất, đặc điểm qui trình công nghệ của
từng doanh nghiệp và yêu cầu tính giá thành sản phẩm theo đơn vị tính giá thành
qui trình.
Nh vậy, xác định đối tợng hạch toán chi phí sản xuất chính là việc xác định giới
hạn tập hợp chi phí mà thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và đối tợng chịu
chi phí. Việc xác định đối tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong các doanh
nghiệp sản xuất cần dựa trên các căn cứ cơ bản sau:
Thứ nhất: Căn cứ vào tính chất sản xuất và đặc điểm qui trình công nghệ kỹ thuật
sản xuất sản phẩm.

trình công nghệ, tổ chức sản xuất và yêu cầu cũng nh trình độ quản lý, kế toán lựa
chọn phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất thích hợp.
5.2.1. Phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất theo chi phí hoặc bộ phận sản xuất
Theo phơng pháp này, các chi phí sản xuất đợc tập hợp và phân loại theo từng chi
tiết hoặc bộ phận sản xuất và giá thành sản phẩm đợc xác định bằng tổng chi phí
của các chi tiết, bộ phận cấu thành sản phẩm.
Phơng pháp này khá phức tạp, chỉ áp dụng hạn chế ở doanh nghiệp chuyên môn
hóa cao, sản xuất ít loại sản phẩm, mang tính chất đơn chiếc và ít có chi tiết bộ
phận.
5.2.2. Phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất theo sản phẩm
Theo phơng pháp này, các chi phí sản xuất đợc tập hợp và phân loại theo từng thứ
sản phẩm riêng biệt. Nếu quá trình sản xuất trải qua nhiều phân xởng, giá thành có
thể đợc xác định bằng phơng pháp trực tiếp và phơng pháp tổng cộng chi phí.
Phơng pháp này đợc áp dụng với các doanh nghiệp sản xuất hàng loạt và khối lợng
lớn.
5.2.3.Phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất theo nhóm sản phẩm
Theo phơng pháp này, các chi phí sản xuất đợc tập hợp và phân loại theo nhóm sản
phẩm cùng loại. Khi áp dụng phơng pháp này thì giá thành sản phẩm đợc xác định
bằng nhiều phơng pháp nh phơng pháp trực tiếp, hệ số, tỷ lệ.
Phơng pháp này đợc áp dụng ở các doanh nghiệp sản xuất nhiều chủng loại, có qui
cách khác nhau.
5.2.4. Phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất theo đơn đặt hàng
Theo phơng pháp này, các chi phí đợc tập hợp và phân loại theo đơn đặt hàng
riêng biệt. Khi đơn đặt hàng hoàn thành thì tổng chi phí tổng hợp theo đơn đặt hàng
là giá thành thực tế của sản phẩm hoàn thành theo đơn đặt hàng.
Phơng pháp này áp dụng rộng rãi ở các doanh nghiệp sản xuất có tính chất đơn
chiếc nh xây dựng, sữa chữa, cơ khí chế tạo...
5.2.5. Phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất theo giai đoạn công nghệ
Theo phơng pháp này, các chi phí phân tích theo từng loại sản phẩm hoặc bán
thành phẩm. Phơng pháp này đợc áp dụng trong các doanh nghiệp mà toàn bộ công

Tài khoản này đợc mở chi tiết cho từng đối tợng tập hợp chi phí và đối tợng tính
giá thành. Kết cấu của tài khoản này nh sau:
Bên nợ: Giá trị nguyên vật liệu trực tiếp cho chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao
vụ, dịch vụ.
Bên có: - Giá trị nguyên vật liệu dùng không hết nhập lại kho
- Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Tài khoản 621 cuối kỳ không có số d
* Trình tự hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo phơng pháp kê khai thờng
xuyên đợc thể hiện qua sơ đồ hạch toán sau:
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ hạch toán tổng hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo ph-
ơng pháp kê khai thờng xuyên

* Trình tự hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo phơng pháp kiểm kê định
kỳ thể hiện qua sơ đồ hạch toán sau:
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ hạch toán tổng hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo ph-
ơng pháp kiểm kê định kỳ:
5.3.2. Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp là khoản thù lao lao động phải trả cho công nhân trực
tiếp sản xuất ra sản phẩm, trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ nh tiền lơng chính,
lơng phụ và các khoản phụ cấp có tính chất lơng (phụ cấp khu vực, đắt đỏ, độc hại,
phụ cấp làm đêm, thêm giờ...). Ngoài ra, chi phí nhân công còn gồm những khoản
đóng góp cho quỹ bảo hiểm xã hội, bảohiểm y tế, kinh phí công đoàn do chủ sử
dụng lao động chịu và đợc tính vào
chi phí kinh doanh theo một tỷ lệ nhất định với số tiền lơng của công nhân trực tiếp
sản xuất.
Để theo dõi chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng TK 622 - Chi phí
. TK 611 TK 621 TK 631
Giá trị NVL dùng Kết chuyển chi phí
chế tạo SP NVL trực tiếp


Các khoản đóng góp Kết chuyển CPNCTT
BHXH, BHYT, KPCĐ theo phương pháp KKĐK
TK 335
Trích trước lương phép,
lương ngừng việc của CNSX
ơng của công nhân sản xuất...Để theo dõi các khoản chi phí sản xuất chung, kế toán
sử dụng TK 627 - Chi phí sản xuất chung, mở chi tiết cho từng phân xởng, bộ phận
sản xuất, dịch vụ.
Kết cấu TK này nh sau:
Bên nợ: Chi phí sản xuất chung thực tế phát sinh trong kỳ.
Bên có: - Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất chung.
-Kết chuyển hay phân bổ chi phí sản xuất chung vào chi phí sản
phẩm hay lao vụ, dịch vụ.
TK 627 cuối kỳ không có số d và đợc chi tiết thành các tiểu khoản nh sau:
+ TK 6271: Chi phí nhân viên phân xởng.
+ TK 6272: Chi phí vật liệu.
+ TK 6273: Chi phí dụng cụ sản xuất.
+ TK 6274: Chi phí khấu hao TSCĐ.
+ TK 6277: Chi phí dịch vụ mua ngoài.
+ TK 6278: Chi phí bằng tiền khác.
Ngoài ra, tùy theo yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp, từng ngành, TK 627
có thể mở chi tiết thêm một số tiểu khoản khác để phản ánh một số nội dung hoặc
yếu tố chi phí.
Trình tự hạch toán chi phí sản xuất chung theo phơng pháp kê khai thờng xuyên
và phơng pháp kiểm kê định kỳ đợc phản ánh qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.4: Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất chung
Chi phí theo dự toán ở đây bao gồm:
+ Chi phí trả trớc (1421):
- Giá trị công cụ, dụng cụ xuất dùng thuộc loại phân bổ nhiều lần
- Giá trị sữa chữa lớn ngoài kế hoạch

tế. Trong quan hệ với công tác kế hoạch, cả hai loại sản phẩm nói trên lại đợc chi
tiết thành sản phẩm hỏng trong định mức và sản phẩm hỏng ngoài định mức.
* Hạch toán sản phẩm hỏng trong định mức
Thiệt hại về sản phẩm hỏng trong định mức bao gồm giá trị sản phẩm hỏng không
thể sữa chữa đợc và phần chi phí sữa chữa sản phẩm tái chế trừ đi phần phế liệu thu
hồi (nếu có). Do đây là phần thiệt hại đợc xem là không tránh khỏi trong quá trình
sản xuất nên toàn bộ phần thiệt hại này đợc tính vào chi phí sản xuất sản phẩm. Vì
vậy, nó đợc hạch toán nh đối với chính phẩm.
* Hạch toán sản phẩm hỏng ngoài định mức
Khác với sản phẩm hỏng trong định mức, sản phẩm hỏng ngoài định mức là những
sản phẩm nằm ngoài dự kiến, không đợc chấp nhận nên giá trị của những sản phẩm
hỏng này không đợc xem là khoản phí tổn thời kỳ, phải trừ vào thu nhập. Do đó, giá
trị thiệt hại của những sản phẩm này phải đợc theo dõi riêng đồng thời xem xét từng
nguyên nhân gây ra sản phẩm hỏng để có biện pháp xử lý. Toàn bộ giá trị thiệt hại
có thể theo dõi riêng trên một tài khoản nh TK 1381, 627, 1421 (chi tiết sản phẩm
hỏng ngoài định mức), sau khi trừ đi số phế liệu thu hồi và bồi thờng.
Trình tự hạch toán thiệt hại sản phẩm hỏng ngoài định mức đợc thể hiện qua sơ đồ
sau đây:
Sơ đồ 1.5 : Sơ đồ hạch toán sản phẩm hỏng ngoài định mức
5.3.4.2. Thiệt hại về ngừng sản xuất
Trong thời gian về ngừng sản xuất vì những nguyên nhân chủ quan hoặc khách
quan, các doanh nghiệp vẫn bỏ ra một khoản chi phí để duy trì hoạt động nh tiền
công lao động, khấu hao TSCĐ, chi phí bảo dỡng... Những khoản chi phí chi ra
trong thời gian này đợc coi là thiệt hại ngừng sản xuất.
Trên thực tế, phần lớn các doanh nghiệp tính trớc phần thiệt hại trong kỳ hạch
toán để tránh tăng đột ngột chi phí và giá thành sản xuất. Thiệt hại ngừng sản xuất
chia thành thiệt hại về ngừng sản xuất trong dự kiến và thiệt hại về ngừng sản xuất
ngoài dự kiến.
* Hạch toán thiệt hại ngừng sản xuất trong kế hoạch.
Với những khoản chi phí về ngừng sản xuất theo kế hoạch, kế toán theo dõi trên

Tập hợp chi phí chi ra trong Thiệt hại thực
thời gian ngừng sản xuất
T K 1381, 111

Giá trị bồi thường
Bên nợ: Tổng hợp chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ (chi phí nguyên vật
liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung).
Bên có: - Các khoản ghi giảm chi phí sản phẩm.
- Tổng giá thành thực tế hay chi phí thực tế sản phẩm, lao vụ, dịch vụ
đã hoàn thành.
Số d bên nợ : Phản ánh chi phí thực tế sản phẩm của lao vụ, dịch vụ dở dang
cha hoàn thành.
Trình tự tổng hợp chi phí sản xuất theo phơng pháp kê khai thờng xuyên đợc thể
hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ1.8 : Sơ đồ tập hợp chi phí sản xuất theo phơng pháp
kê khai thờng xuyên
5.4.2. Tổng hợp chi phí sản xuất theo phơng pháp kiểm kê định kỳ
Để tổng hợp chi phí sản xuất theo phơng pháp kiểm kê định kỳ, kế toán sử dụng
TK 631- Giá thành sản xuất. TK này đợc hạch toán chi tiết theo địa điểm phát sinh
chi phí, theo loại, nhóm sản phẩm, chi tiết sản phẩm, lao vụ... tơng tự nh TK 154.
Kết cấu TK 631 nh sau:
TK 621 TK 154 TK 152, 111, 112...
Kết chuyển CPNVLTT Các khoản ghi giảm
chi phí sản phẩm
TK 155
TK 622 Nhập kho
Kết chuyển CPNCTT
TK 157
Z thực tế SP Gửi bán
TK 627 hoàn thành

chuyền sản xuất tuỳ theo yêu cầu của hạch toán kinh tế nội bộ và tiêu thụ sản phẩm.
Việc xác định đối tợng tính giá thành cũng phải căn cứ vào:
*Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất của doanh nghiệp:
- Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất hàng loạt với khối lợng lớn thì đối tợng tính
giá thành có thể là sản phẩm cuối cùng.
- Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất đơn chiếc và hàng loạt với khối lợng nhỏ
thì đối tợng tính giá thành là sản phẩm của từng đơn đặt hàng.
*Căn cứ vào quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm:
- Nếu qui trình công nghệ sản phẩm giản đơn thì đối tợng tính giá là sản phẩm
đã hoàn thành ở cuối qui trình công nghệ.
- Nếu qui trình công nghệ sản xuất phức tạp, liên tục thì đối tợng tính giá thành
có thể là thành phẩm hoặc bán thành phẩm ở từng giai đoạn công nghệ.
- Nếu qui trình công nghệ sản xuất phức tạp kiểu song song thì đối tợng tính giá
thành có thể là thành phẩm hoặc một chi tiết bộ phận của sản phẩm.
6.1.2. Kỳ tính giá thành
Cũng nh chi phí sản xuất, việc tính giá thành cũng phải tính cho một kỳ nào đó.
Kỳ tính giá thành là thời kỳ kể từ thời điểm kế toán mở sổ ghi chi phí sản xuất
đến thời điểm khóa sổ chi phí sản xuất để xác định giá thành sản phẩm.
Doanh nghiệp cần phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất và chu kỳ sản xuất
kinh doanh để xác định kỳ tính giá thành. Thông thờng, doanh nghiệp sản xuất với
khối lợng lớn , chu kỳ sản xuất ngắn và xen kẽ liên tục thì kỳ tính giá thành là hàng
tháng. Nếu doanh nghiệp sản xuất đơn chiếc, chu kỳ sản xuất dài thì kỳ tính giá
thành là vào thời điểm kết thúc chu kỳ sản xuất sản phẩm. Còn nếu doanh nghiệp
sản xuất hàng loạt theo đơn đặt hàng thì kỳ tính giá thành là khi đơn đặt hàng sản
phẩm đã hoàn thành.
Việc xác định kỳ tính giá thành thích hợp sẽ giúp cho việc tổ chức công tác tính
giá thành sản phẩm khoa học và hợp lý, bảo đảm cung cấp số liệu thông tin về giá
thành thực tế sản phẩm, dịch vụ kịp thời, chính xác phát huy vai trò kiểm tra và tình
hình thực hiện kế hoạch giá thành.
6.2. Phơng pháp tính giá thành sản phẩm

-
Giá trị SPDD
cuối kỳ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status