EPS và những điều cần làm rõ
Tác giả: Trần Xuân Nam, Maastricht MBA
EPS là một trong những chỉ tiêu được sử dụng thường xuyên nhất đối với các nhà đầu tư,
và cũng ảnh hưởng lớn đối với giá cổ phiếu công ty. Tuy nhiên chuẩn mực kế toán Việt
Nam và các hướng dẫn về nó vẫn còn chưa đầy đủ cũng như việc triển khai thực hiện nó
còn có nhiều vấn đề, mà kết quả là các nhà đầu tư nhận được các báo cáo tài chính mà
EPS không chính xác và không đầy đủ. Tác giả Trần Xuân Nam đã giành cho ĐTCK bài
viết này nhằm phân tích những bất cập đó, giúp bạn đọc, các nhà làm chuẩn mực kế toán
Việt Nam có cái nhìn chính xác và đầy đủ hơn về EPS.
1. Tầm quan trọng của EPS:
EPS là một trong những chỉ tiêu được trích dẫn thường xuyên nhất trong phân tích tài
chính vì chỉ số Giá Trên Thu nhập (Price/Earning-P/E) được sử dụng rộng rãi như một
tiêu chuẩn so sánh cho các quyết định đầu tư. Do vậy việc tính toán và trình bày EPS có
thể có ảnh hưởng quan trọng đến giá cổ phiếu của công ty và do vậy thị trường cổ phiếu
rất nhạy cảm với EPS. Giá thị trường có thể giảm khi EPS có xu hướng giảm và ngược
lại. EPS còn được dùng như một công cụ để đánh giá việc thực hiện (performance) của
ban điều hành công ty. Tiền thưởng của HĐQT, ban điều hành có thể trên cơ sở sự tăng
trưởng EPS. Bởi vậy nó tạo một sức ép rất lớn đối với ban điều hành công ty trong việc
tăng trưởng EPS. Ban điều hành cũng có thể cố tình tạo nên một kết quả EPS có lợi hơn
cho mình và công ty. Khi nghiên cứu về EPS, chúng ta cần lưu ý mục tiêu chính của EPS
là để đánh giá kết quả thực hiện của một công ty và nó đặc biệt quan trọng để 1) so sánh
kết quả của một công ty qua các kỳ khác nhau và 2) so sánh việc thực hiện của vốn chủ
sở hữu của một công ty với nó của một công ty khác.
2. Cách tính EPS cơ bản:
2.1. Công thức tính EPS cơ bản: Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 30 và chuẩn
mực kế toán quốc tế IAS 33, EPS cơ bản được tính theo công thức sau:
b) Mẫu số: Số bình quân gia quyền của các cổ phiếu phổ thông lưu hành trong kỳ, lưu ý:
2.2. Trường hợp gộp, chia tách và thưởng cổ phiếu: Thông tư 21 hướng dẫn chuẩn mực
kế toán VAS 30 của Việt Nam đã đề cập khá rõ ràng là trong những trường hợp như vậy
không có bất cứ một sự tăng, giảm về dòng tiền, hay tài sản và nguồn vốn đối với công
ty. Bởi vậy trong những sự kiện đó thì cổ phiếu gộp, chia tách, thưởng mặc dù phát sinh
bất cứ thời điểm nào trong kỳ cũng phải được tính vào ngày đầu tiên của năm báo cáo.
Và cũng sẽ điều chỉnh tương ứng cho số cổ phiếu của những năm trước để có tính so sánh
giữa các năm. Mặc dù thông tư 21 không đề cập đến việc chia cổ tức bằng cổ phiếu
(stock dividend), nhưng bản chất của việc chia cổ tức bằng cổ phiếu cũng giống như
thưởng cổ phiếu (bonus issue), điều này được ghi rất rõ trong chuẩn mực kế toán quốc tế.
Đề nghị hướng dẫn kế toán Việt Nam nên bổ sung việc chia cổ tức bằng cổ phiếu để việc
thực hiện tại các công ty dễ dàng hơn.
Ví dụ: công ty A có 10 triệu cổ phiếu, ngày 30.6.08 công ty quyết định chia cổ tức bằng
cổ phiếu với tỷ lệ 20%, tức 100 cổ phiếu hiện hữu được chia 20 cổ phiếu mới.
Tính EPS năm 2008 và EPS tương ứng năm 2007 nếu tổng số lãi của A năm 2008 và
2007 tương ứng là 40 tỷ và 34 tỷ đồng. Kỳ kế toán là 1.1 đến 31.12 hàng năm.
Giải: Năm 2008 Năm 2007
1. Lãi thuần sau thuế (triệu đ) 40.000 34.000
2. Số cổ phiếu đầu kỳ (ngày 1.1), (triệu) 10 10
3. Cổ phiếu thưởng phát hành (triệu) 2* 2 **
4. Tổng số cổ phiếu lưu hành bq (triệu) 12 12
5. EPS cơ bản (=(1)/(4)) 3.333 đ/CP 2.833 đ/CP
* Mặc dù thưởng hay chia cổ tức bằng cổ phiếu được thực hiện ngày 30.6.2008 nhưng
khi lập báo cáo tài chính năm 2008, công ty sẽ phải tính số cổ phiếu tăng thêm ngay từ
ngày đầu năm 1.1.2008. Nếu lập cho báo cáo quý 2 năm 2008, tính EPS của 4 quý gần
nhất cho đến ngày 30.6.2008 thì số cổ phiếu tăng thêm này được tính từ ngày 1.7.2007
giữa giá thị trường ngày cuối cùng trước khi phát hành (55.000đ/CP) và giá lý thuyết
quyền mua (45.000đ/CP)
- Số cổ phiếu bình quân của cả năm được tính theo 2 giai đoạn là:
Giai đoạn trước khi phát hành cổ phiếu giá thấp. Vì nó có yếu tố thưởng do vậy giống
như việc tính EPS điều chỉnh cho việc thưởng cổ phiếu nêu ở trên, chúng ta phải nhân số
cổ phiếu với hệ số thưởng này. Hệ số thưởng bằng:
Giá thị trường ngày cuối trước khi chốt sổ phát hành/Giá quyền mua lý thuyết = 55/45
Như vậy số cổ phiếu bình quân của cả năm sẽ được tính như sau:
+ Giai đoạn 1: từ 1/1-15/6/2006, tức 5,5 tháng:
3.850.250 cp x 5,5 tháng/12 tháng x 55/45 = 2.156.853 cp
+ Giai đoạn 2: từ 15/6-31/12/2006 tức 6,5 tháng:
(3.850.250 + 1.925.125) x 6,5 tháng/12 tháng = 3.128.328 cp
Tổng số cổ phiếu lưu hành bình quân trong năm = 5.285.181 cp
- EPS năm 2006 = 16 tỷ/ 5.285.181 cp = 3.027 đ/cp
Lưu ý: Nếu tính theo quy đinh hiện hành, số cổ phiếu giai đoạn 1 không điều chỉnh nhân
với hệ số thưởng 55/45 do vậy số cổ phiếu chỉ là 3.850.250 cp x 5,5 tháng/12tháng =
1.764.698 CP nên tổng số cổ phiếu bình quân năm 2006 sẽ là 4.893.026 cp
(=1.764.698+3.128.328). Do vậy EPS 2006 tính theo cách không điều chỉnh hệ số thưởng
sẽ là: 6 tỷ/4.893.026 = 3.270 đ/CP
3. Tính EPS điều chỉnh cho năm 2005 và năm 2004 (Khi lập báo cáo năm 2006 để so
sánh với năm 2005, 2004):
- EPS điều chỉnh = EPS gốc x [Giá quyền mua lý thuyết/Giá thị trường ngày cuối trước
khi phát hành mới]
Lưu ý: Hệ số điều chỉnh này là đảo ngược của hệ số điều chỉnh số cổ phiếu ở phần 2.
- EPS gốc năm 2005 = 14,58 tỷ đ/ 3.850.250 cp = 3.787 đ/cp
- EPS điều chỉnh năm 2005 = 3.787đ/cp x 45/55 = 3.098 đ/cp
- EPS điều chỉnh năm 2004 = 4.492 đ/cp x 45/55 = 3.675 đ/cp
Ví dụ: Ngân hàng ABC năm 2007 có lãi thuần sau thuế là 1.680 tỷ đồng và có khối lượng
cổ phiếu lưu hành bình quân là 198,8 triệu CP, EPS cơ bản năm 2007 là 8.451 đ/CP.
ACB đã phát hành hai đợt trái phiếu chuyển đổi với tổng số tiền là 1.900 tỷ đồng, lãi suất
10%/năm và sẽ chuyển đổi thành 190 triệu cổ phiếu phổ thông trong vòng 2-5 năm tới.
Tỷ lệ thuế TNDN là 28%. Tính EPS pha loãng của ACB.
Giải:
1. Tính số cổ phiếu phổ thông: 198,8 triệu + 190 triệu = 388,8 triệu CP.
2. Tính số lãi thuần :
Số lãi hiện tại 1.680 tỷ
Cộng lãi suất tiền vay tiết kiệm (1.900 tỷ x 10%) = + 190 tỷ
Trừ thuế TNDN trên phần lãi vay (190 tỷ x 28%) = - 53,2 tỷ
Lãi thuần sau điều chỉnh 1.816,8 tỷ
3. EPS pha loãng = 1.816,8 tỷ/ 388,8 triệu CP = 4.673 đ/cp
Như vậy EPS pha loãng thấp hơn so với EPS cơ bản là 3.778 đ/CP (=8.451 – 4.673)
4. Trình bày EPS: Ở chuẩn mực kế toán Việt Nam chỉ mới đề cập đến tên gọi EPS pha
loãng chứ chưa có hướng dẫn về cách tính và trình bày. Các công ty vì vậy chưa báo cáo
EPS pha loãng. Điều này làm cho các nhà đầu tư phải đọc các báo cáo tài chính không
đầy đủ và do vậy có thể ảnh hưởng lớn đến các quyết định đầu tư của họ.
- Để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các nhà đầu tư, chúng tôi đề nghị Bộ Tài Chính,
UBCK NN, Sở GDCK TP HCM và TT GDCK Hà Nội cần có hướng dẫn rõ ràng cách
tính EPS cho phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 33 yêu
cầu bắt buộc báo cáo lãi lỗ của các công ty phải trình bày cả hai chỉ tiêu EPS cơ bản và
EPS pha loãng trên bề mặt của Báo Cáo Kết Quả Kinh Doanh với mức độ nổi bật như
nhau.
- Báo cáo tài chính hàng quý cũng cần phải được trình bày tương tự như đã nói ở trên.