Tìm Hiểu Về Bệnh Tự Kỷ (Autism)
By John Nguyễn Đình Chương
Trẻ em mắc bệnh Tự Kỷ là một trong những đối tượng của Đạo Luật (Individuals with
Disabilities Education Act - I.D.E.A.), được hưởng quyền lợi về học vấn thích hợp và
miễn phí (Free and Appropriate Public Educational - FAPE). Sự hiểu biết về chứng bệnh
này sẽ giúp cho phụ huynh lo liệu cho các em được hưởng những quyền lợi giáo dục
thích đáng theo những đạo luật liên quan hiện hành. Sau đây là tóm tắt về
những khám
phá về căn bệnh này và đã được công bố trên các đặc san chuyên môn. Theo báo USA Today
(1)
, số ra tháng 10, 2004, “Bệnh Tự Kỷ từng được xem là một bệnh
hiếm, nhưng hiện nay đang lan tràn, cứ 150 thì có 1 trẻ em bị chứng bệnh này. Sự lan
tràn của bệnh này … được xem như là một cơn dịch.” Mặc dầu nguyên nhân chính của
bệnh Tự Kỷ vẫn trong vòng bí ẩn, tuy nhiên một số dữ kiện chắc chắn về bệnh Tự Kỷ đã
được khám phá và những nghiên cứu mớ
i đang được thực hiện về bệnh Tự Kỷ. Sự nhận
thức về nỗi hiểm nguy của tật bệnh luôn luôn là bước đầu cho việc chẩn đoán và chửa trị,
điều đó càng quan trọng hơn đối với bệnh Tự Kỷ, căn bệnh mà “đến 25% số bệnh nhân
có thể ngăn ngừa nếu được phát hiện sớm và được điều trị bằng Hành Xử Liệu Pháp
Quyết Liệt (early intensive behavioral treatment)” theo như bản báo cáo của Education
Week
(2)
vào ngày 26 tháng 11 năm 2003. Đầu tiên chúng ta sẽ nêu ra những kiến thức
căn bản về bệnh Tự Kỷ, rồi chúng ta phân loại những học thuyết về bệnh này, và cuối
cùng chúng ta sẻ tìm hiểu những phương pháp chửa trị hiện nay và trong tương lai dựa
theo kết quả của những cuộc nghiên cứu.
- Học thuyết này dựa trên và dẫn đến sự tranh cãi về nồng độ Thủy Ngân
(Mercury) trong thuốc chủng ngừa trong quá khứ có thể là nguyên nhân dẫn đến
bệnh Tự Kỷ
(4)
. Xin nói thêm về chất Thủy Ngân, một khi vào trong cơ thể con
người sẽ tồn tại và chỉ tích lũy thêm, không sao đào thải ra ngoài được. Chất
Thủy Ngân đã được chứng minh làm xáo trộn sự vận hành của não bộ
(neuraltransimitter process). Một giả thuyết khác cho rằng sự căng thẳng (stress)
lúc trẻ thơ gây thay đổi lượng hoá chất CRH làm chậm sự phát triễn của não bộ.
(5)
Một giả thuyết củng khá thịnh hành cho rằng một loại vi khuẩn (Helicobacter
pylori) trong ruột (gut) ảnh hưỡng đến sự sản sinh ra hóa chất dùng trong não
bộ.
(6)2. Học thuyết thứ hai cho rằng bệnh Tự Kỷ do bởi hình dáng của não bộ. Học
thuyết này được ủng hộ bởi những giả thuyết như báo cáo tìm thấy nhiễm sắc thể
6 DNA làm thay đổi gene AHI1 tạo nên nếp gấp trong não bộ và là nguyên nhân
của bệnh Jubert Syndrome.
(7)
Một báo cáo khác của Science News, ngày 31 tháng
7 năm 2004, tuyên bố rằng những ảnh chụp não bộ của các bé trai mắc bệnh Tự
Kỷ từ 7 đến 12 tuổi cho thấy các em có hạch Hạnh (amygdala) lớn hơn của những
em trai bình thường. Củng theo học thuyết này hiện nay đang có nhiều cố gắng
nghiên cứu về di truyền học mong khám phá ra sự đột biến di truyền là nguyên
nhân gây ra bệnh Tự Kỷ.
Trong lãnh vực chữa trị, có một số phương pháp hoặc thuốc men đang được dùng cho
(4) Maryann Napoli. “Mercury in Vaccines: New Report.” Health Facts. New York:
Aug. 2004. Vol.29, Iss. 8; pg. 3, 2 pgs.
(5) CRH PLC, “Autism; Early life stress can inhibit development of brain-cell
communication zones.” Science Letter. Atlanta: Nov. 9, 2004, pg. 87.
(6) Dr. Richard Sandler, “Antibiotics yield ‘dramatic’ autism benefits”, BBC News,
July 18, 2000.
(7) Joseph Gleeson, MD. “Jubert Syndrome; Gene for Joubert syndrome with
excessive brain folds discovered.” Genomics & Genetics Weekly. Atlanta: Nov.
12, 2004, pg. 119.