www.lrc.ctu.edu.vn
1
Tạp chí Viện Nhân học Hoàng gia (N.S) 13, 147 – 165
Bản quyền: Viện Nhân học Hoàng gia 2007
CÁC NHÀ NHÂN HỌC CHỈ CẦN ỨNG DỤNG:
CÁC THÁCH THỨC CỦA NHÂN HỌC ỨNG DỤNG
Paul Sillitoe, Trường Đại học Durham
Người dịch: TS. Nguyễn Xuân Thơm, Đại học Quốc gia Hà Nội
Việc ứng dụng nhân học đang ngày càng thu hút sự chú ý khi một thời việc
này được coi là một việc đáng ngờ. Sự nổi lên của nhân học ứng dụng phản
ánh sự lan toả rộng rãi của ngành học này khi người ta tìm kiếm sự ứng
dụng trong một loạt các ứng dụng. Trong bài báo này tôi đưa ra ý kiến về
một số vấn đề đang được tranh cãi mà tôi đã gặp phải trong khi cố gắng đối
đầu với thách thức của ứng dụng nhân học trong bối cảnh “kiến thức của
người trong nghề” về các vấn đề phát triển, các vấn đề đòi hỏi phải quan
tâm chú ý để đẩy công việc lên phía trước. Một tổng luận ngắn gọn về lịch
sử cho thấy việc không đề cập các vấn đề này đã ngăn cản các nỗ lực nhằm
thiết lập ngành nhân học ứng dụng trước đây. Các vấn đề này bao gồm việc
định nghĩa chủ đề mà chúng ta cần ứng dụng, những ứng dụng mang tính
liên ngành cho các khoa học xã hội và vấn đề về chuyên môn sâu. Các xem
xét khác liên quan đến việc tạo cho các phương pháp nhân học một góc
cạnh ứng dụng bao gồm, ví dụ như, các đòi hỏi mang tính thách thúc của
các nghiên cứu đi kèm. Tôi lược giản ra đây năm phương pháp để quan sát
nhân học ứng dụng: Khai thác bí quyết công nghệ của những khoa học
khác; sử dụng kiến thức nội bộ môn để thúc đẩy sự phát triển; Chuyển giao
việc nghiên cứu và ứng dụng qua các nền văn hoá; Tìm cách đẩy mạnh việc
sử dụng tri thức cho mục đích thị trường; và cuối cùng tạo ra sự phê phán
mang tính cấp tiến về quá trình phát triển. Tất cả các vấn đề này đếu là
những thách thức đối với chúng ta. Và chúng chỉ ra thời đại thú vị cho nhân
học.
Những nỗ lực hiện nay để ứng dụng nhân học phản ánh sự phát triển rộng rãi
của ngành học với những nỗ lực ứng dụng trong một loạt các ứng dụng bao
gồm bán lẻ, ngân hàng, chính phủ, kinh doanh, giải trí. Những nỗ lực này
cho thấy rằng nhân học liên quan đến hầu như mọi thứ, đòi hỏi ngành học
này cần phải tồn tại. Đối với tôi công việc này tập trung vào cái gọi là “kiến
thức trong nghề” trong phát triển ngành học, ở đó tôi có thể thấy sự ứng
dụng của nhân học. Sự xuất hiện của các vấn đề này, theo dòng các biến đổi
trong sự phát triển vài thập kỷ qua (ngày càng được quan tâm), đã tạo ra một
khía cạnh mới cho câu hỏi “chúng ta áp dụng nhân học như thế
nào?”(Antweiler 1998; DeWalt 1994; Purcell 1998; Sillitoe 1998). Các cơ
hội để cho nhân học có điều kiện đóng góp chưa bao giờ tốt như bây giờ.
Nhưng, với thậm chí các phương pháp tiếp cận liên ngành thì cũng khó có
thể ứng dụng , cho nên ngành nhân học cũng khó có thể đẩy vấn đề ứng
dụng tiến lên. Khi tôi cố gắng đối mặt với các thách thức của việc ứng dụng
nhân học, thì tôi cũng phải thừa nhận rằng tôi lọt vào một đống các mắc mớ
tạo ra bởi những nghịch lý mà tôi quay về hướng nào cũng vấp phải. Và
chúng ta chắc chắn có thừa cớ để tranh luận các vấn đề mâu thuẫn nhau,
ngay cả khi đã tìm cách để giải quyết các vấn đề mâu thuẫn văn hoá một
cách ổn thoả, nhất là trong thời buổi cấu trúc luận và hậu cấu trúc luận.
www.lrc.ctu.edu.vn
3
Lịch sử của nhân học ứng dụng
Về xem xét lịch sử của nhân học cho thấy rằng nhân học luôn tìm cách
chứng tỏ sự phù hợp của nó từ thủa sơ khai, kể cả khi nó bao gồm cả một
loạt các mong muốn không dễ gì giải quyết từ những nỗ lực ban đầu nhằm
thiết lập ngành dân tộc học cho đến những nỗ lực ngày nay (Sillitoe 2006b).
Lúc đầu, ngành học khởi phát như là một nỗ lực đào tạo các quan chức cai
trị thuộc địa phục vụ ở các vùng lãnh thổ nước ngoài, sau đó để cung cấp
cho những người được đào tạo “khả năng tiếp cận quan điểm của người bản
www.lrc.ctu.edu.vn
4
nó bới vì những người không biết gì về những hạn chế của ngành học thì lại
mong muốn ngành học này có khá năng đảm đương những công việc mà nó
không có thế đảm nhiệm đầy đủ. Hoặc là ngành học này bị ngăn cản không
được đóng góp vào những công việc mà ở đó nó đóng vai trò quan trọng.Ví
như phát triển quốc tế, do có những sắp xếp thiên lệch chống lại ngành học.
Phản ứng là tránh từ ứng dụng đi với những liên tưởng không thú vị gì của
nó (Hội Nhân học Ứng dụng Mỹ là trường hợp ngoại lệ), và chỉ chấp nhận
các so sánh bằng nhân học “đơn thuần”. Một vài tổ chức mới ra đời với
những dòng chữ viết tắt (Grillo 1985: 2; Wright 2006), ví như ở Anh, tổ
chức GAPP (Group for Anthpology in Policy and Practice -Nhóm nhân học
chính sách và thực hành), và ở Mỹ, tổ chức NAPA (National Association for
the Practice of Anthropology - Hiệp hội Quốc gia về Thực hành Nhân học)
với các LPO (Local Practitional Organizations Tổ chức thực hành địa
phương) của nó. Kết quả còn tản mạn và tất cả các tổ chức ở Anh trở nên im
ắng; gần đây, Hiệp hội các nhà Nhân học Xã hội đã nhất trí là tổ chức chịu
trách nhiệm chung trong mạng lưới các nhà nhân học ứng dụng được thành
lập bởi một số người bên ngoài làng chuyên môn. Nó cho thấy những dấu
hiệu của việc thi đua phát triển các nỗ lực mở rộng của nhân học Mỹ bằng
cách tìm kiếm các khả năng ứng dụng ở nhiều lĩnh vực khác. Viện Nhân học
Hoàng gia không biểu lộ khuynh hướng là đại diện cho các nhà nhân học
ứng dụng mặc dù gần đây tổ chức này nhận Huân chương LUCYMAIR là
vinh dự của nó. Quan điểm này có thể thay đổi với những thách thức hiện tại
đối với ngành học nhằm chúng tỏ giá trị của nó.
Trong thời kỳ sau. Nhân học xã hội Anh ngày càng trở nên trùng lặp với xã
hội học trong công cuộc tìm kiếm sự phù hợp chuyên môn tới mức là hiện
nay khó có thể tách bạch giữa các công việc nhân học và xã hội học, trừ khi
xem xét trên nền tảng rằng những người thực hành nhân học có thể cảm tình
sinh viên; bước đi một cách khó khăn, để đến một kết cục buồn trong một
vài bài giảng gì đó. Chúng ta có thế dự đoán những rắc rối trong việc ứng
dụng một ngành học mà với nó, một tác giả gần đây đã thấy rằng đó là “một
chủ đề rất kỳ cục” bởi vì “thật khó để nói nó nghiên cứu cái gì”, và “chẳng
có chút nào rõ ràng chúng ta phải làm gì để nghiên cứu nó” (Ingold 2000:
14). Trong sự kiện này, chúng ta sẽ làm gì để thúc đẩy việc ứng dụng và
thuyết mục những người khác về những giá trị của nó?
Trong một tác phẩm gần đây về ứng dụng nhân học, Pink cũng nói rằng, ứng
dụng hay học thuật, là “khó để định nghĩa” và “mơ hồ và nghi hoặc”, và ghi
chú rằng các tác giả của các bài giới thiệu thường vòng vo quanh vấn đề này
bằng cách mô tả các nhà nhân học làm gì”, nhưng bà cũng tìm kiếm để tạo
ra tính hấp dẫn của vấn đề này bằng biện luận rằng “chúng ta không nên cốt
lõi hoá nhân học, có nhiều cách khác nhau một người có thể là/hoặc được
gọi là một nhà nhân học” (2006:10). Nhưng bà vẫn mong muốn định nghĩa,
như sự đối lập với “cốt lõi hoá”, nhân học như “một hình thức tiếp cận, một
hệ biến hoá hay một tập hợp các ý tưởng tạo thành sự hiểu biết của chúng
ta”, bao gồm một “cách xây dựng và phân tích một vấn đề, tạo ra và xem xét
một cách có phê phán “bằng chứng” và phản ánh trong ngữ cảnh văn hoá xã
hội rộng lớn”. Trong cố gắng chỉ ra nhân học khác các ngành khoa học khác
như thế nào trong việc giải quyết các vấn đề, bà trích Nolan, người biện luận
rằng các nhà nhân học “hiểu rằng văn hoá là chìa khoá giải quyết nhiều
www.lrc.ctu.edu.vn
6
khuôn mẫu mà chúng ta thấy và nhiếu vấn đề mà chúng ta cố gắng giải
quyết” (2003:119-20); Tiếp cận các vấn đề theo cách quy nạp; “là tổng thể
trong các phương pháp tiếp cận và triển vọng”; Nhận biết các mối quan hệ là
quan trọng, và “là tương tác”. Một nhà nhân học cũng tự minh chứng ‘học
để nói tiếng nói của tổ chức này (ông/bà ta làm việc cho), hiểu được các tầng
bậc quyền lực, và hệ thống văn hoá & xã hội” (Pink 2006:11), cho dù sự
www.lrc.ctu.edu.vn
7
Tôi đã nói chuyện với một nghiên cứu sinh tiến sỹ ở Cambridge vào một
ngày và cô ấy đưa cho tôi một danh sách các lụân án đang viết….. rất ít
trong số đó được đặt một cách rõ ràng trong bối cảnh của nhân học. Thay
vào đó, nó nói về sở thích trong văn hoá của những người đồng tính ở Berlin
– tôi nhớ ý nghĩ của mình lúc đó rằng nhân học thậm chí đã để mất chủ đề
của nó (2006:184 – 5).
Bước vào nghề, người ta bảo với tôi rằng tôi là một người cổ lỗ khi tham gia
vào nghiên cứu vùng cao nguyên New Ginea liên quan đến việc trao đổi lợn
và vỏ trai khi những người nghiên cứu cùng thời đang chú trọng nghiên cứu
vùng nông thôn nước Anh hoặc các cộng đồng di cư vùng thành phố. Một số
người khác tập trung nghiên cứu vào hành vi của những ngưòi ham mê bóng
đá, nhân học mua bán, hội hè theo lứa tuổi, v..v. Thời gian trôi qua, tôi tự
cảm thấy là mình càng bế tắc, cho tới gần đây tôi mới bắt đầu lờ mờ cảm
nhận là tôi đã xoay quanh một vấn đề “về căn bản” cho biết nhân học là gì.
Nó xác định vùng giáp ranh của một vùng văn hoá xã hội trước một thế giới
hoàn toàn khác với chính bản thân nó mang theo đặc tính tương đối về văn
hoá chưa được đánh giá. Nó liên quan đến việc tìm hiểu một ngôn ngữ hoàn
toàn khác với những cuộc tìm hiểu khó khăn về những tác động ngoại lai.
Nó cuối cùng cho thấy sự tin tưởng của một nhóm người mà chúng tôi cộng
tác chặt chẽ trong những chi tiết nghiên cứu công phu, sử dụng một phương
pháp khó thực hiện và mâu thuẫn về những quan sát phụ trợ, và bao quát
việc nghiên cứu cộng đồng ở tầm quy mô tổng thể. Trong khi tiêu điểm của
nhân học có thể mang tính dịa phương, chúng ta phải thừa nhận rằng ta phải
đặt nhân học trong một tầm bao quát rộng và tính đến tương tác phức hợp
giữa các lực lượng ở tầm vi mô và vĩ mô, bao gồm những vấn đề toàn cầu
(Knob: 1999 – 5 -7), Kết quả là dân tộc học, một từ khoá khác thường được
nhắc đến trong định nghĩa nhân học. Các ghi nhận về dân tộc học bao gồm
rằng nhân học đưa chúng ta tiến lên trong nghiên cứu chuyên ngành hiện
nay, trong đóng góp về một trật tụ chi tiết mới khi các ranh giới của môn học
trở nên mờ ảo với các nghiên cứu tổng thê (Ưâl Stain 2003.). Việc quá day
dứt về biên giới môn học có thể mang tính phản tác dụng do một số ngành
học quan tâm đến cùng một vấn đề. Tương tác lẫn nhau có thể đưa đến kết
quả cùng tìm ra các tác động chung, ví như trong sinh thái học chính trị nơi
các biên giới chuyên ngành không ăn nhập gì với quan tâm của các nhà môi
trường, các nhà nhân học, các nhà địa lý học khi cùng nghiên cứu, hay như
các nghiên cứu về các hệ thống tri thức hiện nay, các nhà triết học, các nhà
nhân học, xã hội học tạo nguồn kích thích cho nhau. Như việc phân định lại
các ngành học và sắp xếp lại tri thức, nếu làm đươc, có vẻ tỏ ra là có hại, vì
điều này có hàm ý rằng, như Grill đã quan sát, nhân học, ngành học mà biên
giới của nó rất mỏng manh và khó phân định, sẽ phải vật lộn để tồn tại trong
một vũ trụ trí thức chuyên ngành (2006, Tr. 19). Tôi nghĩ rằng nhân học sẽ
có nhiều cống hiến hơn và cống hiến đó không phải chỉ do chúng ta công bố,
mà là do các khoa học xã hội khác cũng đã nói đến rồi.
Dù có điều gì xảy ra nữa, chúng ta vẫn phải lập laị trật tự hoặc khoanh vùng
chuyên môn sự hiểu biết của chúng ta theo một cách nào đó. Tính mở của
nhân học trước các ngành chuyên môn đan chéo nhau sẽ cho phép người học
vận hành như điểm nối dòng giữa các luồng ý tưởng của các ngành học khác
nhau, bất kể chúng được định nghĩa như thế nào, người ta đã có những nhận
định rằng “các chuyên gia ở những chuyên ngành khác nhau phải nói chuyện
www.lrc.ctu.edu.vn
9
được nhau. Để vượt qua chủ nghĩa chuyên môn hẹp hòi, phải trợ giúp
nghiên cứu chuyên sâu trong một số lĩnh vực trong khi bỏ qua tâm lý vẽ bức
tranh tổng thể rộng lớn hơn. Đâu là một trong những lý do một số người đưa
ra để kích thích sự quan tâm của công chúng và làm thuyên giảm lòng tin
vào các chuyên gia – như ví dụ trong sự can thiệp nội ngành trong sinh sản
cơ sở rõ ràng để ứng dụng bất kỳ cái gì ngoài một quan điểm về con người
và một số tri thức về một số mặt hoạt động của các xã hội và các nền văn
hoá khác, và liệu những tri thức này có thể được ứng dụng (hoặc được sử
www.lrc.ctu.edu.vn
10
dụng như khởi xướng) nếu không được bổ trợ bởi một số tri thức kỹ thuật và
kỹ năng khác (1980: 6).
Đào tạo nghề và giáo dục nhân học có thể gây cho một số người cảm giác vớ
vẩn, nhưng các nhà nhân học và các chuyên gia với quan điểm cao siêu xa
vời thậm chí còn vớ vẩn xa lạ hơn. Để hoạt động được với tư cách là một
ngành học liên ngành, thì cần phải “nói tiếng nói thật, đi bước chân thật” của
các ngành học khác trong chừng mực nào đó, nhằm mục đích để người ta sẽ
xem xét chúng ta một cách nghiêm túc (Irvin, 2000: 26). Chúng ta có thể
mường tượng điều này như là việc thực hành quan sát vào các lĩnh vực
chuyên ngành khác, có nghĩa là tương tác với các nghề nghiệp khác trong
khi vẫn duy trì một mức độ riêng biệt. Ai đó được đào tạo về nhân học với
một kiến thức nền về y, luật, kiến trúc, lâm học, kinh tế học hoặc ở bất kỳ
một lĩnh vực nào đều có một vị thế vững chắc để áp dụng kiến thức nhân
học, được hiểu như là một kiến thức tổng thể bao gồm sự thúc đẩy trên một
bối cảnh chung theo nghĩa tương tác liên quan giữa các bối cảnh văn hoá, xã
hội và cộng tác liên ngành. Ngày càng có nhiều các nhà nhân học đồng ý và
dám chấp nhận sự thách thức của tính liên ngành đặc biệt trong các bối cảnh
ứng dụng nơi nhiều người đã có tiếng nói trong lĩnh vực chuyên ngành mình
được đào tạo. Đây là thời điểm để tận dụng các thành quả của thế hệ hiện
nay của các nhà nhân học liên ngành để so sánh những gì đạt được và thấy
đâu là điểm chung trong công hiến của họ, để nhận ra nhân học nói về cái gì
và người ta cẩm thấy nhân học là hữu ích và ứng dụng nhân học như thế nào.
CÁC NHÀ NHÂN HỌC KHÁC NHAU NHƯ THẾ NÀO: AI LÀ
CHUYÊN GIA, AI KHÔNG PHẢI LÀ CHUYÊN GIA:
nhà nhân học được hưởng lợi từ các phân tích phê phán sau khi sự kiện đã
kết thúc hơn là từ việc đưa ra các gợi ý để giải quyết các vấn đề hiện tại một
kiểu tiếp cận các vấn đề này một cách thô cứng là đặt câu hỏi một tổ chức sẽ
được cái gì nếu tổ chức đó thuê một nhà nhân học. Như Keen đã nói “tại sao
một cộng đồng lại không tập trung vào một công nghệ, kinh tế, kế toán, luật,
một cách cai trị địa phương phù hợp hay bất kỳ một vấn đề nào khác chứ
không phải là nhà nhân học (1999: 51). Những người khác cũng đưa ra cùng
một vấn đề “cái gì làm cho nhân học trở nên độc đáo? Nhân học làm thế nào
để đưa ra một cách hiểu mà các ngành học khác không thể và đâu là lời thề
của ngành học này đối với khách hàng?’ (Pink 2006: 10).
Chúng ta đều biết chúng ta mong muốn gì từ một bác sĩ phẫu thuật chỉnh
hình, một kiến trúc sư, một luật sư hay một kế toán. Điều gì một nhà nhân
học đem đến cho một công ty, một nhà chức trách địa phương, một tổ chức
phát triển, hay cơ quan y tế mà một cử nhân về xã hội học, lịch sử, địa lý,
nghiên cứu văn hoá hay một ngành cùng nguồn gốc khác không mang đến
được (có nghĩa là những chủ đề có những vấn đề tương tự với nhân học,
không đào tạo chuyên môn mà là một sự giáo dục nghệ thuật tự do)? Bằng
cách đặt ra những câu hỏi như vậy mà chúng ta có thể nhận biết được những
ứng dụng của nhân học, điều mà chúng ta có thể xúc tiến một cách rộng rãi
hơn. Chúng ta không thể giả bộ là những chuyên gia trong tất cả các lĩnh
vực, bởi vì như Ervin quan sát, trong khi các nhà nhân học phải biết hết cả
mọi việc trong các kỹ năng thực hiện và nghiên cứu của họ, họ không thể
làm tất cả mọi việc” (2000: 219). Điều mong muốn trong sự phát triển là họ
phải có cái gì đó có giá trị và duy nhất để đóng góp vào những cố gắng giảm
đói nghèo cùng với các chuyên gia các ngành khác khác như các nhà kinh tế
học, nông học, y tế hay kỹ sư. Nó liên quan đến sự hình thành nhận thức
www.lrc.ctu.edu.vn
12
nghế nghiệp nợ lâu đối với nhân học, mở rộng vượt qua biên giới của giới
đề về y tế địa phương và sự lành mạnh sức khoẻ, bạo lực chính trị, các
phong trào cơ sở, công lý xã hội và các vấn đề nhân quyền.
Nhưng để phấn đấu đạt được một sự hiện diện chuyên môn rõ ràng hơn đối
với nhân học chúng ta lại phải vượt qua một mắc mớ ứng dụng khác. Luận
điểm cho rằng chúng ta có thể ứng dụng nhân học có hàm ý rằng chúng ta có
một số kiến thức và kỹ năng chuyên môn khác với, và phụ trợ cho các tri
thức và kỹ năng các chuyên ngành khác. Liệu ta có muốn trở thành chuyên