TIỂU LUẬN
"Tính tất yếu khách quan và
con đường hình thành công ty
mẹ-công ty con ở Việt Nam "
1
LỜI MỞ ĐẦU
Ngay từ những năm 60 của thế kỷ 19 các Tập đoàn kinh tế đã nối tiếp
nhau ra đời ở các nước tư bản. Đó là một tổ chức tiên tiến đại diện cho trình độ
hiểu và nghiên cứu về vấn đề này trong đề án Kinh tế chính trị "Tính tất yếu
khách quan và con đường hình thành công ty mẹ-công ty con ở Việt Nam "
Do còn nhiều hạn chế nên đề án không tránh khỏi nhiều thiếu sót. Chúng
em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ hướng dẫn tận tình của Tiến sĩ Lê Thục.
Chúng em cũng rất mong nhận được sự góp ý của thầy để hoàn thiện hơn nữa đề
án .
Thay mặt nhóm sinh viên th
ực hiện
Sinh viên
Ngô Thuý Phượng
3
PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH
MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ-CÔNG TY CON
Ở VIỆT NAM
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON.
1.1.1. Khái niệm.
Công ty mẹ là công ty có ít nhất một công ty con trở lên; có thể là Doanh
nghiệp nhà nước, hoặc Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần...
Công ty con là công ty có 100% vốn của công ty mẹ hoặc đa sở hữu trong
đó có trên 50% vốn của công ty mẹ. Như vậy công ty con phải chịu sự kiểm soát
( chi phối ) của công ty mẹ
Mô hình công ty mẹ - công ty con tồn tại chủ yếu dưới hai dạng sau:
Một là, Công ty quản lý vốn : mục tiêu chủ yếu của công ty này là đầu tư
vào các công ty khác. Cơ cấu tổ chức của nó bao gồm các bộ phận điều phối, lập
ước cấp vốn ban đầu dưới dạng đầu tư trực tiếp hoặc góp vốn cổ
phần lớn nhất.
- Tạo cơ chế để công ty tự tích luỹ vốn như cho phép để lại tất cả hoặc
một phần lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh, không
đánh thuế thu nhập.
- Cho vay tín dụng ưu đãi, cho phép huy động vố
n thông qua phát hành
trái phiếu, cổ phiếu...
- Sát nhập, hợp nhất các công ty lớn cùng ngành nghề hoặc nằm trong
cùng một quy trình công nghệ có liên quan đến sản phẩm cuối cùng trên
cùng một địa bàn.
Cách thứ hai, tạo dựng vốn theo con đường hướng ngoại là thu hút nguồn
đầu tư thông qua các dự án đầu tư nước ngoài, liên doanh, liên kết, phát hành trái
phiếu, cổ phiếu và vốn vay nước ngoài.
5
Với số vốn lớn, công ty mẹ - công ty con có khả năng chi phối và cạnh
tranh mạnh trên thị trường , mở rộng nhanh chóng quy mô sản xuất , đổi mới
công nghệ, nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm và vì vậy
đạt doanh thu lớn
Một vấn đề nữa là về lực lượng lao động trong công ty mẹ - công ty con.
Lực lượng lao động trong công ty mẹ - công ty con không chỉ lớn về số l
ượng,
mà còn mạnh mẽ về chất lượng, được tuyến chọn và đào tạo rất nghiêm ngặt.
Phạm vi hoạt động của công ty mẹ - công ty con rất rộng, không chỉ ở phạm
vi lãnh thổ một quốc gia, mà ở nhiều nước hoặc phạm vi toàn cầu.
Với quy mô vốn lớn , nhiều lao động, áp dụng sự tiến bộ khoa học kĩ thuật
hiện đại về thông tin liên lạ
c, phương tiện giao thông vận tải... các công ty mẹ -
công ty con đã thực hiện phân công lao động trong nội bộ công ty mẹ - công ty
hình công ty mẹ - công ty con là việc các công ty con mất quyền độc lập về tính
thương mại và sản xuất, các chủ s
ở hữu trở thành các cổ đông của "công ty mẹ".
Công ty mẹ - công ty con là một tổ hợp các công ty, bao gồm "công ty mẹ"
và các "công ty con, cháu" phần lớn mang họ của công ty mẹ. Công ty mẹ sở hữu
số lượng lớn vốn cổ phần trong các công ty con, nó chi phối các công ty con về
mặt tài chính và chiến lược phát triển. Do vậy trong mô hình công ty mẹ - công
ty con rất đa dạng về sở hữu.
1.1.3. Cơ chế hoạt động.
Các công ty mẹ - công ty con là nhữ
ng doanh nghiệp độc lập , có tư cách
pháp nhân, hợp tác theo nguyên tắc mọi thành viên đều bình đẳng trước pháp
luật, không có quan hệ cấp trên, cấp dưới theo kiểu trật tự hành chính như các
doanh nghiệp trong tổng công ty hiện nay, mà thông qua liên kết bằng vốn đầu tư
hoặc các liên kết khác theo quy định của hợp đồng và điều lệ công ty.
Ta có thể mô hình hoá cơ cấu tổ chức của một công ty mẹ - công ty con như
sau:
7
Mô
hình cơ
cấu tổ
chức
của
công ty
mẹ -
công ty
8
công ty mẹ sở hữu 100% vốn hoặc ít nhất 51% cổ phần , có quyền bỏ phiếu
trong các công ty con, hoặc công ty mẹ có khả năng kiểm soát, khống chế mặc
dù không nắm đa phần sở hữu, các công ty con có thể ở trong nước hay ở nước
ngoài.
Trong cơ cấu tổ chức của công ty mẹ - công ty con còn có chi nhánh và các
công ty liên kết.
Giữa các công ty con có những mối quan hệ ràng buộc, phụ thuộc chặt chẽ
với nhau và cùng ph
ụ thuộc vào công ty mẹ. Mỗi công ty con được phân công
hoạt động sản xuất kinh doanh theo từng phân đoạn, theo chuyên ngành, theo sản
phẩm hàng hoá bán ra hoặc theo khu vực hoạt động, không trùng lắp, cạnh tranh
nội bộ. Các công ty con có thể phối hợp các hoạt động của mình theo kiểu liên
kết dọc hoặc liên kết ngang hoặc chỉ giới hạn trong một chuyên ngành nào đó.
Liên kết dọc là sự liên kết giữa các công ty con trong cùng một dây chuyền công
nghệ sả
n xuất, trong đó mỗi doanh nghiệp đảm nhận từng công đoạn nhất định.
Liên kết ngang là sự liên kế giữa các công ty con hoạt động trong cùng một
ngành nghề, có quan hệ chặt chẽ với nhau về kinh tế - kỹ thuật, thị trường tiêu
thụ, xuất nhập khẩu. Trong công ty mẹ - công ty con cũng thường có sự liên kết
hỗn hợp, nghĩa là có cả hai hình thức liên kết ngang và liên kết dọc.
Việc thiế
t lập công ty con, chi nhánh hay công ty liên kết thương tuân thủ
một số nguyên tắc phân bổ theo sản phẩm, theo vùng lãnh thổ, hoặc kết hợp cả
hai.
Theo mô hình tổ chức của công ty mẹ - công ty con ở trên thì mỗi công ty
con khu vực là một khối, mỗi công ty chỉ sản xuất một loại sản phẩm ở một nước
nhất định là một đơn vị kinh doanh của khối. Mỗi đơn vị kinh doanh của khối có
các phòng chức năng như phòng tài chính, tiếp thị, phân phối, sản xuất, nhưng
Thứ ba là, mô hình công ty mẹ - công ty con có tác dụng r
ất to lớn trong
việc cung cấp và trao đổi thông tin va nhưng kinh nghiệm quan trọng trong tổ
chức nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất
10
Thứ tư là, việc hình thành các công ty mẹ - công ty con sẽ làm thay đổi bộ
mặt xã hội của từng địa phương hay một quốc gia, nó giải quyết được việc làm
cho một phần dân cư tại khu vực, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyên môn
hoá các ngành nghề, thúc đẩy phát triển các đặc khu kinh tế, các khu công
nghiệp và làm tăng khả năng lớn mạnh của nền kinh tế.
Thứ năm là, mô hình công ty mẹ - công ty con giữ
vai trò quan trọng đối
với các nước đi sau trong việc tiến kịp các quốc gia phát triển về kinh tế.
1.2. TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH, PHÁT
TRIỂN MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ-CÔNG TY CON Ở VIỆT NAM
1.2.1.Tính tất yếu khách quan
Mô hình công ti mẹ-công ti con đã ra đời , tồn tại và phát triển từ lâu trong
lịch sử phát triển của kinh tế thế giới . Dưới dạng các thoả ước , hợp đồng liên
minh liên kết , các tập đoàn từng bướ
c nắm lấy các ngành , các lĩnh vực hoạt
động chủ chốt có lợi nhuận cao hình thành một hệ thống các tập đoàn lớn bao
gồm hàng trăm hàng ngàn các công ti vừa và nhỏ phụ thuộc lẫn nhau và phụ
thuộc vào công ti mẹ về tài chính , chiến lược kinh doanh , công nghệ kĩ thuật .
Sở dĩ mô hình công ti mẹ-công ti con được hình thành , có sức sống mãnh liệt và
có sự phát triển không ngừng như vậy bởi vì nó phù hợp với các qui luật khách
quan và những xu thế phát triển của thời đại.
Thứ nhất: Qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất
Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất dưới tác động của tiến bộ
được nâng lên
-Nếu cạnh tranh qua nhiều năm mà không phân thắng bại thì trong số các
doanh nghiệp đó sẽ có sự liên k
ết nhằm tăng khả năng cạnh tranh hơn nữa .Quá
trình liên kết giữa các doanh nghiệp có thể diễn ra theo các hình thức liên kết
ngang , liên kết dọc hay liên kết hỗn hợp . Liên kết ngang là liên kết diễn ra giữa
các công ti hoạt động trong cùng một ngành . Liên két dọc là sự liên kết giữa các
công ti trong cùng một dây chuyền công nghệ sản xuất mà trong đó một công ti
12
đảm nhận một bộ phận hoặc một số công đoạn nào đó .Trong thực tế ngày càng
xuất hiện nhiều quan hệ liên kết ngang và dọc kết hợp gồm rất nhiều các công ti
hoạt động trong lĩnh vực khác nhau .Đó là sự liên kết đa ngành đa lĩnh vực . Như
vậy công ti mẹ –con ra đời phát triển là sản phẩm tất yếu của quá trình cạnh
tranh liên kết để tố
i đa hoá lợi nhuận
Thư tư là:Tiến bộ khoa học –công nghệ
Yếu tố quyết định cho các doanh nghiệp thắng lợi trong cạnh tranh và đạt
lợi nhuận cao là việc nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật công
nghệ.Để có sản phẩm tiến bộ khoa học công nghệ hay nói cách khác để đổi mới
công nghệ cần phải có nhiều vốn tiến hành trong thời gian nhiề
u năm trang khi
đó độ rủi ro lại cao cần có lực lượng cán bộ khoa học kĩ thuật đủ mạnh . Một
doanh nghiệp nhỏ manh mún biệt lập không đủ sức làm được việc trên . Điều đó
đòi hỏi phải có doanh nghiệp lớn mà mô hình công ti mẹ-con là một loại hình
tiêu biểu .
1.2.2.Những nhân tố khách quan ảnh hưởng đến sự hình thành và phát
triển của mô hình công ti mẹ-công ti con
1.1.2.1. Những điều kiệ
n kinh tế –xã hội
theo trình độ này có đặc trưng là các nước khác nhau về quá trình công nghệ sản
xuất sẽ tiến hành chuyên môn hoá sản xuất đối với các khâu của trình tự công
nghệ gia công . Sự phân công theo mức độ chuyên môn hoá sản xuất các linh
ki
ện phụ tùng của sản phẩm cũng ngày một rõ rệt . kĩ thuật sản xuất truyền thông
của các nước đang phát triển so với kĩ thuật hiện đại có sự khác biệt lớn . Kết
quả là một nước một đơn vị kinh tế muốn có ưu thế về sản xuất tất cả các phụ
tùng linh kiện đều không thể thực hiện được và không kinh tế . Do v
ậy việc
chuyên môn hoá và hợp tác hoá kinh doanh được đặt ra hàng đầu tại các nước .
- Trình độ phát triển của khoa học –công nghệ
sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ trong những năm gần đây
là nhân tố quan trọng thúc đẩy kinh tế phát triển .Những thành quả của công
nghệ máy vi tính , công nghệ sinh học , vật liệu mới , quang điện , nguồn năng
14
lượng mới ..được áp dụng rộng rãi vào sản xuất và nâng cao sức sản xuất lên rất
nhiều . Lực thúc đẩy công nghiệp hiện đại là do khoa học công nghệ hiện đại ,
sức cạnh tranh của các xí nghiệp hiện đại 5
th
ì bắt nguồn từ sự đổi mới công nghệ
và sự chuyển hoá thành quả khoa học thành hàng hoá . Bất kể nước đang phát
triển hay phát triển thì phát triển kinh tế đều phải dựa vào cách mạng khoa học
công nghệ và nguồn lực thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học công nghệ không
ngừng được tăng cường . Do đó hàm lượng khoa học công nghệ trang công
nghiệp thế giới ngày càng cao , suwca cạnh tranh của kĩ
thuật công nghiệp ngày
càng mạnh . mặt khác khoa học công nghệ vá sản xuất , thị trường nối tiếp nhau
ngày càng chặt chẽ . Việc nhấn mạnh hiệu ích kinh tế và khả năng thâm nhập thị
trường đã là mục tiêu hàng đầu của các xí nghiệp . Những yếu tố nói trên là môi
Mối liên hệ chặt chẽ ngày càng tăng giữa các nước trong cùng một khu vực cũng
thấy lí do phải tạo ra một mạng lưới khu vực nhằm ngăn chặn và chống lại
khủng hoảng kinh tế . Vì mối liên kế
t thương mại và tài chính ngày càng tăng
giữa các nước trong khu vực nên nếu một nền kinh tế hoạt động kém sẽ có thể
ảnh hưởng sâu sắc đến các nền kinh tế láng giềng . Thực tế này đòi hỏi phải có
sự giám sát chặt chẽ và hỗ trợ của các nước láng giềng . Các công ti mẹ-công ti
con là công cụ vật chất để nhà nước điều tiết nền kinh tế .Trình độ quản lí vi mô ,
vĩ mô c
ũng là yếu tố thúc đẩy hình thành và bảo đảm phát triển vững chắc các
công ti mẹ-con .
- Trình độ khu vực hoá và toàn cầu hoá kinh tế
Hiện nay xu hướng toàn cầu hoá , khu vực hoá đang phát triển mạnh mẽ.Xu
thế chuyển động của cuộc cạnh tranh thế giới giữa các doanh nghiệp của các nền
kinh tế chủ yếu trên hành tinh đòi hỏi ngày càng khẩn thiết các nhà lãnh đạo phải
vượt qua giai đoạn hội nhậ
p chính trị quốc tế trên bề mặt , nói cách khác là đòi
hỏi các nhà lãnh đạo không được bằng lòng với việc giảm bớt những trở lực
ngăn cản các hình thức hoạt động buôn bán trao đổi , ngăn chặn hoạt động quốc
tế ở các đường biên giới mà phải cam kết đi sâu hơn nữa vào một sự xâm nhập
chính trị bằng cách điều hoà chính sách đối nội . Những khác biệt trong các
chính sách quốc gia chi phối cạnh tranh, những qui chế tài chính những tiêu
16
chuẩn của sản phẩm của môi trường , những điều kiện về việc làm những thị
trường công, những trợ cấp của nhà nước cho khoa học và công nghệ… là những
nhân tố ảnh hưởng quan trọng đến khả năng của doanh nghiệp phải đương đàu
với sự cạnh tranh trên các thị trường khác nhau . Những tình hình trên đây dẫn
đến sự liên kết các doanh nghiệp thành những công ti mẹ
-công ti con lớn để đối
khi được tư nhân hoá một số công ti đã phát triển trở thành các tập đoàn lớn
- Đức
Các doanh nghiệp lớn có tên concern hoạt
đọng với nhiều chi nhánh dưới
sự kiểm soát tài chính của một cá nhân hoặc một công ti . Cơ cấu tổ chức của
concern ở Đức theo kiểu phối hợp chiều dọc .Cartels có cơ cấu theo kiểu phối
hợp chức năng marketing .Các hợp đồng cartel thường ngắn hạn và được thoả
thuận lại liên tục . Cartels chủ yếu là các hợp đồng tư nhân dựa trên quyền tự do
của các hi
ệp hội. Bản thân trong các thoả thuận hợp tác này vẫn có cạnh tranh
khá mạnh .Người Đức coi cartels là một công cụ phòng tránh sự tập trung của cải
quá mức . Cartel giảm mức độ tập trung của cải và cho phép các hãng nhỏ hơn
có thể trụ lại
- Hàn Quốc
Chiến lược phát triển của hàn Quốc là định hướng xuất khẩu . Chính phủ
hàn Quốc và giới kinh doanh đã có mối quan hệ rất chặt chẽ
trong việc thực hiện
chiến lược định hướng xuất khẩu này. Tổng thống Pax Chung Hê nghĩ rằng các
doanh nghiệp lớn là không thể thiếu được cho tăng trưởng kinh tế khi khu vực
doanh nghiệp lớn được định hướng thông qua các mục tiêu quốc gia . Vào những
năm 1950 viện trọ nước ngoài , những khoản hỗ trợ đặc biệt của chính phủ được
phân bổ trên cơ sở ưu tiên cho nhữ
ng công ti đặc biệt có quan hệ gần gũi với
chính phủ .Vì các cơ quan thuế không nắm được luồng vốn chu chu chuyển giữa
các công ti chi nhành của công ti lớn gọi là chaebol , một số công ti lớn đã lợi
dụng được nhiều khoản ưu đãi đặc biệt hơn thông qua việc mua cổ phần của các
18
công ti khác và phát triển thành các chaebol.Năm 1976 ,10 chaebol lớn nhất
chiếm 19,8%GNP nhưng đến năm 1984 tỉ trọng này đã lên tới 67,4%Một khi tổ
19
1.2.3.Nhu cầu và điều kiện thành lập mô hình công ti mẹ-công ti con ở Việt
Nam
1.2.3.1.Nhu cầu cần thiết thành lập Tổng công ti theo mô hình công ti mẹ-
công ti con ở nước ta
Trước hết, quá trình xây dựng và phát triển ở nước ta hơn 30 năm qua tuy
gặp nhiều khó khăn nhưng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng :cơ sở vật
chất kĩ thuật ban đầu đã được tạo lập. Đặc biệ
t từ khi thực hiện công cuộc đổi
mới nền kinh tế quốc dân đã có nhưng chuyển biến tích cực rõ rệt và đặc biệt
trong cơ cấu kinh tế một số ngành đã đạt được trình độ tích tụ tập trung hoá sản
xuất khá cao như điện lực , bưu chính viễn thông , dầu khí , cao su …Điều đáng
chú ý là những ngành này đều chiếm vị trí trọng yếu trong cơ cấu kinh t
ế có triển
vọng phát triển thuận lợi và được ưu tiên phát triển. Tuy nhiên các Tổng công ty
trong các ngành nói trên lại đang ở tình trạng thiếu vốn nghiêm trọng . Để thực
hiện chiến lược phát triển đến năm 2000-2010 tổng công ty bưu chính cần
khoảng 28695 tỉ đồng., tổng công ty hang không ân dụng có nhu cầu đầu tư
trong 10 năm là 5690 triệu đô la .Trong điều kiện ấy nếu để từng doanh nghiệp
độc l
ập sẽ không thể thực hiện được yêu cầu tăng trưởng và phát triển , sẽ làm lỡ
những cơ hội kinh doanh và khả năng hội nhập vào nền kinh tế khu vực , thế giới
. Tổng công ti theo mô hình công ti mẹ-con sẽ là giải pháp hữu hiệu.
Thư hai qui mô mỗi doanh nghiệp độc lập phân tán manh mún , nhỏ bé ,
trình độ trang bị công nghệ thấp kém, khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa
và quố
c tế rất hạn chế.Trên 2/3tổng số doanh nghiệp nhà nước có số lao động
dưới 200 người , chỉ có khoảng 4% có số lao động trên 1000 người . Gần 1/2 số
doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ. Với trình độ trang bị kĩ thuật lạc hậu không đồng
bộ và đang xuống cấp nghiêm trọng trong khi đó các doanh nghiệp đều ở tình
việc của quá trình này
Thứ tư thành lập tổng công ti theo mô hình công ti mẹ-công ti con ở nước ta
còn là một trong những yếu tố quan trọng bảo đảm hiệu quả trong việc hợp tác
kinh tế với nước ngoài . Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hoá , hiện đại hoá ở nước ta gắn liền với quá tình xây dựng n
ền kinh tế
21
mở hội nhập bình đẳng và có hiệu quả vào các quan hệ kinh tế quốc tế trong khu
vực và trên thế giới . Việc thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài nhằm mục
đích tăng thêm vốn tranh thủ công nghệ tiên tiến thâm nhập vào thi trường quốc
tế . Từng doanh nghiệp của ta với nguồn lực hạn chế sẽ gặp những khó khăn và
thua thiệt trong hợp tác kinh doanh vơí nước ngoài . Thông thườ
ng tỉ lệ góp vốn
của Việt nam chỉ khoảng 25-30%. Việc mở rộng các quan hệ liên kết kinh tế
giữa các doanh nghiệp trong nước , đưa chúng vào một tổ chức kinh doanh thích
hợp chính là giải pháp tăng góp vốn của bên việt nam. Mặt khác việc đưa doanh
nghiệp vào tổng công ti theo mô hình công ti mẹ –công ti con còn góp phần tăng
khả năng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước . Thực tế là nhiều doanh
nghiệp biệt lập với qui mô nh
ỏ bé trình độ trang bị kĩ thuật thấp kém không đủ
sức cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài ngay trên thị trường Việt Nam
Tóm lại từ những vấn đè cụ thể của nền kinh tế nước ta và từ xu hướng phát
triển của nhiều nước trên thế giới có thể khẳng định rằng việc thành lập các tổng
công ti theo mô hình công ti mẹ-công ti con ở nước ta trong giai đoạn hiện nay là
có nhu cầu th
ực sự và là cần thiết khách quan
1.2.3.2.Một số điều kiện cơ bản để thành lập Tổng công ti theo mô hình công
ti mẹ-công ti con ở Việt Nam
Tổng công ti theo mô hình công ti mẹ –công ti con là một loại hình tổ chức
quốc dân chúng ta có đủ cơ sở để cho rằng các loại hình tổ chức trên là điều
kiện tiền đề về mặt tổ ch
ức để tiến tới thành lập mô hình tổng công ti theo mô
hình công ti mẹ-công ti con . Sự phát triển của các quan hệ liên kết kinh tế với
các tổ chức khác nhau dung nạp nó tạo nên điều kiện tiền đề thành lập tổng công
ti theo mô hình công ti mẹ-công ti con . Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu các
doanh nghiệp nhà nước có quyền sử dụng các biện pháp hành-chính tổ chức
thích hợp để cho ra đời loại hình tổ chức này .
Mặt khác sự
phát triển của thị trường và các quan hệ kinh tế trên thị trường
, sự phát triển của các quan hệ cạnh tranh và liên kết kinh tế giữa các chủ thể , sự
23
khẳng định các quan hệ sở hữu tồn tại hợp pháp , sự phát triển các quan hệ phân
công . hợp tác cũng là tiền đề thuận lợi cho việc hình thành mô hình công ti mẹ –
công ti con . Quá trình xây dựng và thực hiện cơ chế thị trường có sự quản lí của
nhà nước theo định hướng XHCN đã và đang được thực hiện bằng một loạt việc
làm cụ thể trong điều chỉnh cơ cấu kinh t
ế và đổi mới cơ chế quản lí . Xác định
rõ vai trò của nhà nước về kinh tế , mở rộng quyền tự chủ kinh doanh của doanh
nghiệp , nâng cao tính tự chịu trách nhiệm . Nền kinh tế quốc dân có sự tăng
trưởng với nhịp độ cao , liên tục trong nhiều ngành kinh tế . Những ngành , lĩnh
vực hoạt động và vùng lãnh thổ trọng điểm xác định ngày càng rõ ràng hơn và
được ưu tiên phát triển mạnh , tạ
o sức mạnh lôi kéo các ngành , lĩnh vực và vùng
lãnh thổ khác phát triển . Các quan hệ quốc tế ngày càng được mở rộng và bước
đầu đã mang lại những kết quả khả quan .Đó là kết quả của việc xây dựng nền
kinh tế mở , đa dạng hoá , đa phương hoá quan hệ kinh tế quốc tế .
Cuối cùng chũng ta xem xét đến trình độ tích tụ và tập trung hoá sản xuất
kinh doanh. Mô hình công ti mẹ-công ti con ra đời và phát triển trên c
c hoạt động loại hình này ở nước ta là tất yếu khách
quan.