LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Một số giải pháp nhằm tăng
cường khả năng huy động vốn
và sử dụng vốn cho đầu tư
phát triển tại ngân hàng đầu
tư phát triển Hà Tây
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP NGUYỄN VIỆT CƯỜNG
BỘ MÔN KINH TẾ ĐẦU TƯ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC KTQD HN
1
LỜI NÓI ĐẦU Đất nước ta đang trong thời kì đổi mới, phát triển kinh tế, ổn định chính trị
và xã hội đang là nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn hiện nay. Từ một nền
kinh tế kém phát triển thu nhập bình quân đầu người thấp , cơ sở hạ tầng thấp
kém về mọi mặt do vậy để phát triển chúng ta cần phải có vốn. Đảng và nhà
nước ta đã xác định phát triển kinh tế
ổn định và vững chắc có trọng tâm trong
tư phát triển Hà Tây, được tiếp c
ận với các hoạt động của ngân hàng, em đã
chọn đề tài nghiên cứu với nội dung:
“Một số giải pháp nhằm tăng cường khả năng huy động vốn và sử
dụng vốn cho đầu tư phát triển tại ngân hàng đầu tư phát triển Hà Tây.
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP NGUYỄN VIỆT CƯỜNG
BỘ MÔN KINH TẾ ĐẦU TƯ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC KTQD HN
2
Bài viết được chia làm ba phần:
Phần I. Lý luận chung về đầu tư, nguồn vốn đầu tư và hoạt động sử dụng
vốn cho đầu tư phát triển của ngân hàng đầu tư phát triển.
Phần II. Thực trạng và đánh giá thực trạng về huy động vốn và sử dụng
vốn cho đầu tư phát triển tại ngân hàng đầu tư phát triển Hà Tây.
Phần III. Giải pháp và kiế
n nghị nhằm tăng cường khả năng huy động
vốn và sử dụng vốn cho đầu tư phát triển tại ngân hàng đầu tư phát triển Hà
Tây.
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng và vận
dụng phương pháp thống kê - tổng hợp, toán học và đồ thị trong phân tích số
liệu của ngân hàng nhằm làm rõ thực trạng hiệu quả hoạt động huy động và sử
d
ụng vốn cho đầu tư phát triển tại ngân hàng. Từ đó đưa ra biện pháp tích cực
và những kiến nghị đối với ngân hàng đầu tư phát triển Hà Tây và các cơ quan
ban ngành có liên quan nhằm tăng cường khả năng huy động vốn cho đầu tư
phát triển . Để hoàn thành bài viết này đặc biệt em xin chân thành cảm ơn Thạc
sỹ: Nguyễn Hồng Minh đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn, cùng các thầy cô giáo
và các cán bộ phòng Ngu
ồn vốn kinh doanh Ngân hàng đầu tư và phát triển Hà
Tây đã giúp đỡ trong quá trình thực hiện.
Hà Nội, ngày 26 tháng 4 năm 2001.
Còn trong hoạt động kinh doanh, đầu tư là sự bỏ vốn( tiền, nhân lực,
nguyên liệ
u, công nghệ vào các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ nhằm
mục đích thu lợi nhuận. Đây được xem như bản chất cơ bản của các hoạt động
đầu tư. Kinh doanh cần nghiên cứu đầy đủ các khía cạnh khác nhau của hoạt
động đầu tư như : bản chất, đặc điểm, phân loại, vai trò... để có những đối sách
thích hợp đối với các đối tác đầu t
ư khác nhau.
Mặt khác, có thể hiểu đầu tư là việc đưa ra một khối lượng lớn vốn nhất
định vào qúa trình hoạt động kinh tế nhằm thu được một khối lượng lớn hơn
sau một khoảng thời gian nhất định.
Khái niệm đầu tư còn được hiểu theo quan niệm tái sản xuất mở rộng,
đầu tư thực tế là quá trình chuyển hoá vốn thành các yếu tố cần thi
ết cho việc
tạo ra năng lực tái sản xuất, tạo ra những yếu tố cơ bản, tiên quyết cho quá trình
sản xuất. Đây là hoạt động mang tính chất thường xuyên của nền kinh tế ...
Với đầu tư phát triển thì đây là hình thức đầu tư quan trọng và chủ yếu.
Loại đầu tư này, người có tiền bỏ tiền ra để xây dựng , sửa chữa nhà cửa và kết
c
ấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng
nguồn nhân lực thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của
các tài sản này. Hoạt động đầu tư này nhằm nâng cao năng lực hiện có của các
cơ sở sản xuất hiện có cả về số lượng và chất lượng, tạo ra năng lực sản xu
ất
mới. Đây là hình thức tái sản xuất mở rộng. Hình thức đầu tư này tạo việc làm
mới, sản phẩm mới và thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Tóm lại, hoạt động đầu tư vốn là quá trình huy động và sử dụng mọi
nguồn vốn phục vụ sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra sản phẩm cung cấp dich
vụ đáp ứng nhu cầu cá nhân và xã hội.
I. 1.2. Đặ
tăng trưởng. Nó thể hiện các mặt sau:
Trên giác độ nền kinh tế:
-Đầu tư vừa có tác động đến tổng cung, v
ừa tác động đến tổng cầu : Đầu
tư là yếu tố chiếm tỷ trong lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế. Đối với
tổng cầu tác động của đầu tư là ngắn hạn, tổng cung chưa kịp thay đổi, sự tăng
lên của đầu tư làm cho tổng cầu tăng. Khi thành quả của đầu tư phát huy tác
dụng, các năng lực mới đ
i vào hoạt động thì tổng cung dài hạn tăng lên.
-Đầu tư có tác động hai mặt đến sự ổn định và phát triển kinh tế : Sự tác
động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư đối với tổng cung và tổng
cầu của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư, dù là tăng hay giảm
đều cùng một lúc vừa là yếu duy trì sự ổn định vừa là y
ếu tố phá vỡ sự ổn định
của nền kinh tế của mỗi quốc gia. Chẳng hạn, khi đầu tư tăng, cần các yếu tố
của đầu tư tăng làm cho giá trị các hàng hoá liên quan tăng đến mức độ nào đó
dẫn đến tình trạng lạm phát. Đến lượt mình lạm phát làm cho sản xuất đình trệ,
đời sống người lao động khó khăn... Mặt khác, tăng đầu t
ư làm cho cầu các yếu
tố có liên quan tăng, sản xuất của các ngành này phát triển, thu hút thêm lao
động, giảm tệ nạn xã hội. Còn khi giảm đầu tư thì tác động ngược lại với hai
chiều hướng trên.
Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế. Kết quả
nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy muốn giữ tốc độ tăng trưởng trung
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP NGUYỄN VIỆT CƯỜNG
BỘ MÔN KINH TẾ ĐẦU TƯ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC KTQD HN
5
bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt được tù 15-25% so với GDP tuỳ thuộc vào ICOR
của mỗi nước.
ICOR = Vốn đầu tư / Mức tăng GDP.
thực hiện chi phí khác với sự hoạt động trong một chu kỳ của các cơ sở vật
chất, kỹ thuật vừa tạo ra. Các hoạt động này chính là hoạt động đầu tư đối với
các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ đang tồn tại : sau một thời gian hoạt
động, các cơ sở vật chất kỹ thuật của các cơ sở này hao mòn h
ư hỏng. Để duy
trì hoặc đổi mới cũng có nghĩa là đầu tư.
Như vậy, đầu tư có vai trò rất lớn không chỉ với nền kinh tế mà còn đối
với các cơ sở sản xuất kinh doanh và dịch vụ. Tuy nhiên, khi đầu tư ta thường
đặt câu hỏi : vốn đầu tư lấy từ đâu ra và sử dụng vốn như thế nào ? Có rất nhiều
cách và con đường để có vố
n và sử dụng vốn em xin đề cập ở phần sau.
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP NGUYỄN VIỆT CƯỜNG
BỘ MÔN KINH TẾ ĐẦU TƯ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC KTQD HN
6
I. 2.Vốn và nguồn vốn đầu tư:
I. 2.1.Nguồn vốn đầu tư:
Trong nền kinh tế mở nguồn vốn đầu tư được hình thành từ 2 nguồn đó là
nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài.
-Nguồn vốn trong nước: đó là nguồn vốn được hình thành và huy động
trong nước nó bao gồm 3 bộ phận: tiết kiệm của nhà nước (Sg), tiết kiệm của
các tổ chứ
c doanh nghiệp ( Sc), tiết kiệm của khu vực dân cư ( Sh).
+ Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước: Đó là phần còn lại của thu ngân
sách sau khi đã trừ đi các khoản chi thường xuyên củ nhà nước:
Sg= T - G.
Trong đó: Sg là tiết kiệm của nhà nước.
T là tổng thu ngân sách nhà nước.
G là các khoản chi thường xuyên của nhà nước.
+Nguồn vốn từ các tổ chức doanh nghiệp: Đó là nguồn vốn được tạo ra
từ các tổ chức doanh nghiệ
I.2.2. Vốn và vai trò của vốn đối với sự phát tri
ển kinh tế .
-Vốn đầu tư:
Vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh,
dịch vụ, là tiền tiết kiệm của dân và huy động từ các nguồn khác được đưa vào
sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo
tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội. Vốn đầu tư t
ạo điều kiện cho sự bắt đầu
hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật mới hoặc được đổi mới, nâng cấp
hiện đại hoá đồng thời tạo ra các tài sản lưu động lần đầu tiên gắn liền với các
tài sản cố định mới tạo ra hoặc được đổi mới.
-Vai trò của vốn đầu tư v
ới sự phát triển kinh tế:
Vốn là yếu tố quan trọng nhất trong qúa trình phát triển kinh tế của mỗi
quốc gia.ở Việt nam, để đảm bảo cho nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng và phát
triển đạt 7-8% trong gia đoạn tới, vốn đầu tư là một trong các yếu tố hết sức
quan trọng. Theo tính toán của các nhà kinh tế , nguồn vốn cho đầu tư phát
triển gia đoạ
n 2001-2005 phải đạt ít nhất 58-59 tỷ USD : trong đó nguồn vốn
trong nước chiếm tỷ trọng 60%, cơ cấu nguồn vốn cho đầu tư phát triển bao
gồm vốn đầu tư từ ngân sách, vốn đầu tư tín dụng, vốn đầu tư của doanh
nghiệp, vốn đầu tư dân cư và vốn đầu tư nước ngoài. Dự tính trong vòng 5 năm
tới vốn của các doanh nghiệp tự đầu t
ư chiếm tỷ trọng 14-15% tổng số vốn đầu
tư xã hội, chủ yếu đầu tư vào đổi mới công nghệ để nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh. Ngoài ra theo tính toán của các nhà kinh tế trong giai đoạn 2001-
2005, đòi hỏi tỷ lệ tiết kiệm nội địa phải đạt đến 25-26% GDP, trong đó tiết
kiệm từ khu vực ngân sách khoảng 6%, tiết kiệm từ khu vực dân cư và doanh
nghi
ệp là 19-20% GDP.Nguồn vốn huy động từ tiết kiệm trong nước để cho
ư).
I/K - Tỷ lệ vốn đầu tư trên GDP.
Như vậy, vốn đầu tư là một nhân tố quan trọng thiết yếu trong quá trình
phát triển kinh tế và nhiệm vụ đặt ra đối với các ngân hàng, các tổ chức tín
dụng là làm thế nào để có thể huy động và sử dụng có hiệu quả được các nguồn
vốn, phục vụ cho đầu tư phát triển kinh tế. Đối với Ngân hàng đầu tư nhiệm v
ụ
này càng quan trọng và khó khăn hơn vì hoạt động chính của Ngân hàng là huy
động và cho vay các nguồn trung, dài hạn là chủ yếu trong khi ngân hàng vẫn
phải đảm bảo giữa hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình và hoạt động đầu
tư phát triển.
I. 3.Vai trò hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn cho phát triển kinh tế.
I.3.1. Vai trò của hoạt động huy động vốn:
Như trên đã phân tích vốn đầu tư có ý nghĩa to lớ
n đối với nền kinh tế,
không những nó tạo ra của cải vật chất cho nền kinh tế, mà còn đưa đất nước
phát triển theo hướng ổn định, cân đối giữa các ngành nghề. Do vậyđể phát
triển kinh tế ta phải có vốn đầu tư, vậy vốn đầu tư lấy ở đâu và lấy bằng cách
nào ? Câu hỏi này đã được trả lời một phần ở trên ( bao gồm v
ốn đầu tư trong
nước và vốn đầu tư nước ngoài ). Muốn có nguồn vốn này, ta phải huy động.
Mặt khác mỗi doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khi thành lập, không phải lúc nào
cũng có đủ vốn để hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong những tình huống
thiếu vốn thì họ phải huy động để đáp ứng nhu cầu này. Tuy nhiên, để có thể
huy động được số vốn mong muốn thì các doanh nghiệp, t
ổ chức kinh tế phải
có các chiến lược huy động phù hợp với từng tình huống cụ thể, từng thời kỳ ...
Tóm lại hoạt động huy động vốn là rất quan trọng cho sự phát triển kinh
tế nói chung và đầu tư phát triển nói riêng, nó đẩy nhanh quá trình Công nghiệp
hoá -Hiện đại hoá đất nước, phát triển kinh tế hoà nhập với kinh tế thế giới.
đặc điểm này ngân hàng đầu tư ở Việt
Nam và các ngân hàng đầu tư ở các nước khác có một số nét khác biệt cơ bản
như: Trong hoạt động huy động vốn: Được nhận, vay từ các nguồn tài trợ của
chính phủ, các tổ chức nước ngoài, ngân hàng ĐTTW ... Hoạt động sử dụng
vốn cũng chủ yếu tập trung vào các dự án kinh tế, kỹ thuật có tầm chiến lược,
then ch
ốt của quốc gia, chủ yếu là các lĩnh vực mà tư nhân không đủ sức đầu tư
như: Giao thông, năng lượng, xây dựng thông tin...
Vấn đề đặt ra là ngân hàng đầu tư có nên thụ động dựa vào các nguồn tài
trợ từ ngân sách và các tổ chức quốc tế hay chủ động mở rộng hoạt động tìm
cách tạo nguồn vốn cho mình. Ngoài ra, trong hoạt động sủ dụng vốn ngân
hàng đầu tư cầ
n phải chủ động nâng cao nghiệp vụ, sức cạnh tranh và uy tín để
thực hiện chiến lược phục vụ cho đầu tư phát triển nền kinh tế ngày càng hiệu
quả hơn.
II.1.2. Định hướng của ngân hàng đầu tư:
- Đối với việc huy động vốn cho đầu tư phát triển:
Ngân hàng đầu tư và phát triển chủ trương coi khâu tạo vốn là khâu mở
đường, tạo ra một nguồn v
ốn vững chắc cả VNĐ và ngoại tệ, Đa dạng các hình
thức, biện pháp, các kênh huy động từ mọi nguồn và xác định “ nguồn vốn
trong nước là quyết định, nguồn vốn nước ngoài là quan trọng ”. Với định
hướng không ngừng tăng tỷ trọng nguồn vốn trung và dài hạn để phục vụ đầu
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP NGUYỄN VIỆT CƯỜNG
BỘ MÔN KINH TẾ ĐẦU TƯ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC KTQD HN
10
tư phát triển. Thông qua huy động dưới các hình thức phát hành trái phiếu, kỳ
phiếu và tiền tiết kiệm có thời hạn dài. Mặt khác, tiếp tục tăng trưởng nguồn
tiền gửi có kỳ hạn của các tổ chức kinh tế, khai thác triệt để nguồn vốn nước
ngoài thông qua chức năng ngân hàng đại lý, Ngân hàng phục vụ để tiếp nhận
để có vốn cho vay các dự án đầu tư đòi hỏi Ngân hàng phải huy động được
vốn. Phần vốn tự có c
ủa Ngân hàng chỉ đảm bảo năng lực pháp lý và năng lực
thị trường cho hoạt động huy động vốn của Ngân hàng. Pháp lệnh ngân hàng
quy định một ngân hàng được phép huy động một lượng vốn tối đa bằng 20 lần
vốn tự có của mình.
II.2.2. Các nguồn vốn ở Ngân hàng đầu tư & phát triển cho đầu tư phát
triển :
Nguồn vốn huy động của NH bao gồm : Ngắn hạn, trung hạn và dài hạ
n.
Ngân hàng để có thể đóng góp vào hoạt động đầu tư phát triển thì lượng vốn
huy động đòi hỏi phải là vốn trung và dài hạn (hay có thời hạn trên 1 năm).
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP NGUYỄN VIỆT CƯỜNG
BỘ MÔN KINH TẾ ĐẦU TƯ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC KTQD HN
11
Nguồn vốn ngắn hạn chỉ có vai trò là vốn lưu động đảm bảo các khoản cho vay
ngắn hạn, và chỉ được dùng một phần nhỏ để cho vay dài hạn khi lượng vốn
ngắn hạn đủ lớn và ổn định.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế thì các nguồn vốn sau đây ở
Ngân hàng mới có đóng góp chính vào đầu tư phát triển.
+Các khoản tiền tiết kiệm và tiền gử
i có thời hạn đến 1 năm.
+Các kỳ phiếu, trái phiếu có thời hạn dài, phát hành trên thị trường trong
nước và quốc tế.
+Các khoản đi vay trung hạn và dài hạn của các tổ chức tín dụng trong
nước và nước ngoài.
+Các khoản thu nợ của các dự án cũ.
+ Một phần huy động ngắn hạn có thể cho vay trung và dài hạn.
+ Các khoản thu nhập dành cho cho vay đầu tư phát triển khác(lợi
nhuận,tiền thu bảo lãnh...)
12
càng cao gây khó khăn cho người vay tiền và có thể gây ứ đọng vốn cho Ngân
hàng, khi đó ngân hàng cần phải trả lãi cho người gửi tiền trong khi khoản vốn
ứ đọng không sinh lãi.
Vì vậy ngoài việc tăng giảm lãi suất để có lợi cho người gửi tiền và
người vay tiền có thể giảm chi phí khác như : Chi phí in ấn phát hành, chi phí
quảng cáo, tiếp thị, trả lương cán bộ huy động, thuê địa điểm huy động ...
Chỉ tiêu 3 : Khả n
ăng đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh doanh của Ngân
hàng.
Chỉ tiêu này được đánh giá qua việc so sánh nguồn vốn huy động và nhu
cầu vay vốn vốn đầu tư phát triển ( chủ yếu là vốn trung dài hạn ) và các nhu
cầu khác. Từ đó xác định nguồn vốn có thể huy động được là bao nhiêu và
nguồn vốn cần phải huy động thêm là bao nhiêu để đáp ứng nhu cầu đó.
Để đạt đựơc mục tiêu này, Ngân hàng phả
i đặt ra cơ cấu huy động vốn
trung và dài hạn một cách hợp lý ( kỳ phiếu bao nhiêu ? trái phiếu lấy bao
nhiêu?... ).
Để đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn đồng thời cũng đảm bảo cho ngân hàng
huy động được nguồn vốn này với chi phí thấp nhất có thể.
* Chỉ tiêu khác : Ngoài các chỉ tiêu trên hiệu quả công tác huy động vốn
cho đầu tư phát triển ở NH đầu tư còn được phản ánh qua các chỉ tiêu sau:
-Thời gian, mệnh giá huy động vốn cho đầu tư hợp lý.
-Mức độ thuận tiện cho khách hàng : Đánh giá qua các thủ tục nhận tiền
và làm các dịch vụ kèm theo.
-Thời gian hoàn thành số lượng vốn so với quy định.
-Số vốn bị rút trước hạn, hệ số sử dụng vốn.
Tóm lại, khi đánh giá hiệu quả công tác huy động vốn nói chung và huy
động vốn cho đầu tư phát triển nói riêng thì một chỉ tiêu không thể
phản ánh
- Chính sách quảng cáo: Không thể phủ nhận vai trò to lớn của ngành quảng
cáo hiện nay. Ngân hàng nếu làm tốt công tác nay thì có khả năng huy động
được nhiều vốn hơn.
II.2.4.2. Nhân tố khách quan:
- Nhân tố tiết kiệm của nền kinh tế: Nguồn vốn huy động của ngân hàng chủ
yếu là nguồn vốn của dân cư, tổ chức kinh tế, ... do vậy nếu các đơn vị này
có tỷ lệ tiế
t kiệm cao thì nguồn vốn huy động được xẽ cao.
- Nhân tố thu nhập của dân cư: Nếu thu nhập của dân cư càng cao thì khả
năng có thể tiết kiệm càng cao và khi đó họ có tiền gửi vào các tổ chức tài
chính và mua các giấy tờ có giá sẽ càng cao và ngược lại.
- Nhân tố tâm lí tiêu dùng: Tiết kiệm và tiêu dùng là hai nhân tố đối lập nhau
nên tiêu dùng tăng thì tiết kiêm giảm và ngược lại . Do vậy nếu tâm lí thích
tiêu dùng của dân cư t
ăng thì tiền gửi vào ngân hàng xẽ giảm.
- Môi trường pháp lí: Nếu môi trường pháp lí ổn định cụ thể là cơ sở pháp lí
cho hoạt động của ngân hàng dược đảm bảo thì người dân xẽ an tâm gửi tiền
vào ngân hàng...
II.3.Hoạt động sử dụng vốn cho đầu tư phát triển của Ngân hàng đầu tư
phát triển.
II.3.1.Vai trò của hoạt động sử dụng vốn cho đầu tư phát triển của Ngân
hàng
đầu tư phát triển.
Trong điều kiện nền kinh tế đang gặp phải nhiều vấn đề khó khăn như về
vốn cho đầu tư của các dự án và các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh
doanh cũng như nâng cao chất lượng của sử dụng vốn đối với các dự án và sử
dụng vốn đầu tư của các doanh ngiệp đang đòi hỏi cấp bách. Để cung cấ
p vốn
cho các dự án này và các doanh nghiệp thì ngân hàng đầu tư có một vai trò
quan trọng trong việc cung cấp vốn cho các đơn vị này nhằm đáp ứng nhu cầu
-Cho vay trung hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn trên 1 năm và dưới
5 năm. Loại cho vay này thường được dùng để mua sắm tài sản cố định, mở
rộng hoặc xây dựng công trình nhỏ.
-Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm được sử dụng
để cấp vốn xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sả
n xuất có quy mô lớn.
Đối với đầu tư phát triển thì hoạt động cho vay trung hạn và dài hạn mới
có tác dụng chủ yếu. Do vậy để tăng cường khả năng sử dụng vốn cho đầu tư
phát triển chủ yếu quan tâm đến 2 nguồn này.
II. 3.2.2 Đặc điểm khác biệt của hoạt động cho vay vốn đầu tư phát triển
so với cho vay ngắn hạn.
Sự khác biệt củ
a hoạt động cho vay đầu tư với cho vay ngắn hạn được
thể hiện qua các đặc điểm sau:
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP NGUYỄN VIỆT CƯỜNG
BỘ MÔN KINH TẾ ĐẦU TƯ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC KTQD HN
15
-Về thời hạn cho vay : Cho vay ngắn hạn có thời hạn dưới 1 năm, cho
vay đầu tư thường có thời hạn dài hơn ít nhất là trên 1 năm.
-Về độ rủi ro : Với thời hạn cho vay dài hạn nên hoạt động cho vay đầu
tư có độ rủi ro cao hơn cho vay ngắn hạn.
-Về lãi suất: Do thời gian vay dài độ rủi ro của hoạt dộng cho vay đầu tư
có độ rủi ro cao hơn nên lãi suất c
ủa hoạt động cho vay đầu tư cao hơn lãi suất
cho vay ngắn hạn.
-Về mục đích: Hoạt động cho vay đầu tư dùng để đầu tư mở rộng sản
suất mua sắm trang thiết bị, xây dựng cơ sở hạ tầng... nói khác hơn là để đầu tư
vào những dự án chưa thể sinh lời trong thời gian ngắn. Còn mục đích của vay
ngắn hạn là để ph
ục vụ chỉ tiêu, mua nguyên vật liệu, trả lương...tức là đáp ứng
Có thể khái quát công tác thẩm định dự án vay vốn đầu tư phát triển của
ngân hàng đầu tư và phát triển tập trung vào các vấn đề như sau:
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP NGUYỄN VIỆT CƯỜNG
BỘ MÔN KINH TẾ ĐẦU TƯ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC KTQD HN
16
* Ngân hàng thẩm định tư cách pháp lí của đơn vị vay vốn.
- Người vay có đủ năng lực pháp lí theo quy định trong quan hệ vay
vốn của ngân hàng hay không.
- Người vay có thuộc đối tượng vay vốn theo quy định hiện hành của
các chế độ, thể lệ cho vay không.
- Tư cách của người đứng ra vay vốn: Khả năng quản lí, trình độ học
vấn...
- Uy tín của đơn vị vay vố
n : Chất lượng, giá cả hàng hoá, khả năng
chiếm lĩnh thị trường của sản phẩm trên thị trường, các quan hệ kinh tế tài
chính, vay vốn, trả nợ với khách hàng, bạn hàng và các ngân hàng.
* Tình hình tài chính của doanh nghiệp vay vốn:
Đánh giá chính xác về tình hình tài chính doanh nghiệp của đơn vị vay
vốn nhằm xác định sức mạnh tài chính. Khả năng độc lập, tự chủ tài chính
trong kinh doanh, khả năng thanh toán và khả năng trả nợ củ
a người vay. Trong
phân tích tài chính doanh người ta thường áp dụng phương pháp tỷ lệ bởi ưu
điểm của nó là.
+ Việc tính toán các chỉ tiêu là tương đối dễ dàng, có thể lập trình cho
máy tính để tính một loạt các chỉ tiêu một cách nhanh chóng qua đó rút ngắn
thời gian thẩm định tình hình tài chính doanh nghiệp.
+ Các chỉ tiêu có thể được tính theo từng năm hoặc từng giai đoạn. Do đó
nó có thể so sánh đối chiếu với nhau để thấy được s
ự thay đổi theo chiều hướng
tích cực hay tiêu cực cũng như su hướng trong tương lai.
Tổng số nợ
Hệ số nợ =
Tổng tài sản
Đây là tỷ lệ mà ngân hàng rất quan tâm vì tỷ lệ nợ cao thì khả năng thanh
toán của doanh nghiệp sẽ gảm sút . Thông thường tỷ lệ nợ này không quá 50%.
+ Tổng tài sản nợ trên tổng vốn sở hữu: Xác định khả năng trả nợ của
doanh nghiệp b
ằng vốn chủ sở hữu.
- Tỷ lệ khả năng hoạt động: Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của các đơn vị vay
vốn.
+ Hiệu xuất sử dụng tài sản cố định: Cho biết một đồng tài sản cố định
đem lại bao nhiêu đồng doanh thu( Tài sản cố định tính theo giá còn lại tại thời
điểm báo cáo)
Tổng doanh thu củ
a doanh nghiệp
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định =
Giá trị tài sản cố định
+ Hiệu suất sử dụng tổng tài sản: Cho biết một đồng tài sản đem lại bao
nhiêu đồng doanh thu:
Doanh thu tiêu thụ
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm =
Tổng tài sản
- Tỷ lệ khả năng sinh lãi: Phản ánh hiệu quả quản lí xản suấ
t kinh
doanh và khả năng tiêu thụ sản xuất kinh doanh và hiệu năng quản lý của doanh
nghiệp.
+ Khả năng sinh lời của tài sản.
+ Doanh lợi thu từ sản phẩm = Lợi nhuận sau thuế / Doanh thu tiêu thụ.
+ Tỷ suất sinh lợi vốn đầu tư = Lợi nhuận trước thuế và lãi( hoặc lợi
nhuận sau thuế) / Tổng tài sản.
ns có NPV max trong trường hợp dự án có tuổi thọ và đời dự án là như
nhau.
Hạn chế: Chỉ tiêu này không thấ
y được lợi ích từ một đồng vốn bỏ ra
và nó phụ thuộc rất lớn vào tỷ suất triết khấu.
- Chỉ tiêu thời gian thu hồi vốn(T): Thời gian thu hồi vốn là thời gian
mà dự án cần hoạt động để thu hồi đủ vốn bỏ ra. Thường ưu tiên cho
những dự án có thời gian thu hồi vốn ngắn nếu các yếu tố khác như
nhau. Chỉ tiêu này được xem xét trên hai góc độ
:
+ Thời gian thu hồi vốn đầu tư từ lợi nhuân thuần:
Theo phương pháp cộng dồn: ∑
=
+
−
=
n
i
i
r
CiBi
NPV
1
)1(
0
0
v
Tỷ số này lớn hơn 1 chứng tỏ khả năng trả nợ càng cao.
-
Trên đây là 4 vấn đề quan trọng cần xem xét để quyết định cho vay vốn
hay không. Ngoài ra ngân hàng cần phải xem xét một số yếu tố khách quan
khác có tác động đến đơn vị vay vốn và dự án như:
- Những rủi ro tiềm ẩn của dự án có thể sảy ra trong t
ương lai.
- Môi trường kinh tế xã hội, môi trường pháp lý.
- Tài sản thế chấp...
Khi cho vay và sau khi cho vay ngân hàng cần phải xem xét đơn vị vay
vốn sử dụng khoản vốn đó như thế nào, có đúng mục đích hay không, có hiệu
quả không, trong quá trình sử dụng vốn doanh doanh nghiệp có gặp gì bất trắc
hay không bản thân doanh nghiệp có ý đồ lừa đảo hay không... Và cuối cùng
việc khánh hàng hoàn trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng ra sao, có đúng thời hạ
n
không. Để làm được điều này đòi hỏi ngân hàng phải có các biện pháp hữu hiệu
và sự hợp tác của khách hàng.
Tóm lại: thẩm định là khâu đầu tiên và quan trọng nhất để đem lại hiệu
quả của các công cuộc tài trợ vốn cho đầu tư và phát triển của ngân hàng đòi
Lợi nhuận hàng năm của dự án
Doanh thu hàng năm của dự án.
Tổng vốn vay
Tỷ lệ vốn vay
trong tổng vốn
+
x
Tổng tích luỹ từ dự án ( Lợi nhuận + KHCB)
Các khoản nợ dài hạn phải trả hàng năm.
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP NGUYỄN VIỆT CƯỜNG
BỘ MÔN KINH TẾ ĐẦU TƯ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC KTQD HN
vốn cho đầu tư phát triển của ngân hàng. ở đây phải được xem xét tổng hoà trên
ba khía cạnh tính chính xác, tính kịp thời và tính đầy đủ của thông tin.
Thật vậy: để tiến hành công tác thẩm định dự án vay vốn, việc đầu tiên là
phải thu thập các thông tin liên quan cần thiết nói về tư cách pháp lí c
ủa khách
hàng, thông tin về năng lực tài chính, thông tin về hiệu quả dự án vay vốn. Sau
khi cho vay để xem xét quản lí món vay, cũng cần phải có thông tin, phải thu
thập thông tin về việc sử dụng vốn vốn vay của đơn vị vay vốn có đúng mục
đích hay không, hiệu quả không. Thông tin về những thuận lợi và khó khăn mà
đơn vị vay vốn đang gặp phải, thông tin về tính chung thực của khách hàng, về
thu nợ, thu nợ như
thế nào... như vậy thông tin có chất lượng cao xẽ là đầu vào
hoàn hảo cho mọi quá trình tiếp theo.Tuy nhiên, cũng chưa thể khẳng định rằng
cứ có chất lượng thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời là có được những quyết
định đúng đắn vì nó còn phụ thuộc vào những yếu tố khác như việc sử lí thông
tin có hiệu quả hay không. Nhưng chúng ta phải thừa nhận thông tin chính là
một công cụ hiệu quả để
đảm bảo cho hoạt động sử dụng vốn cho đầu tư phát
triển của ngân hàng hiệu quả.
d. Nguồn vốn huy động:
Đầu tư vốn tín dụng là nhu cầu khách quan của nền kinh tế. Nguồn vốn
để cho vay đầu tư của mỗi ngân hàng có thể từ các nguồn khác nhau nhưng có
thể nói nguồn vốn huy động là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất. Để
tiến hành hoạt
động cho vay thì điều trước tiên là phải có nguồn vốn , do vậy
hoạt động cho vay vốn cho đầu tư phát triển phụ thuộc vào nguồn vốn huy
động. Nếu trong cơ cấu có nguồn vốn có thời gian dài cao thì trong cơ cấu sẽ
cho vay xẽ có nguồn vốn cho vay có thời gian dài cho đầu tư phát triển xẽ ổn
định. Ngân hàng xẽ có thể chủ động hơn về kì hạn cho vay, việc thực hiện rót
vốn theo l
lý của người vay và năng lực của người vay.
* Ngoài ra hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng còn chịu tác động của
các y
ếu tố sau đây: Chính sách kinh tế vĩ mô, những biến động về thị trường,
điều kiện tự nhiên...
Để có thể đề ra được các giải pháp cho huy động vốn và sử dụng vốn cho
đầu tư phát triển của ngân hàng ta đi xem xét và phân tích cụ thể tình hình huy
động vốn và sử dụng vốn cho đầu tư và phát triển của ngân hàng Đầu tư & Phát
triển Hà Tây .
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP NGUYỄN VIỆT CƯỜNG
BỘ MÔN KINH TẾ ĐẦU TƯ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC KTQD HN
23
PHẦN II
THỰC TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH HUY
ĐỘNG VỐN VÀ SỬ DỤNG VỐN CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TẠI
NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ & PHÁT TRIỂN HÀ TÂY:
I. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ & PHÁT TRIỂN HÀ TÂY:
Ngân hàng Đầu tư & phát triển Hà Tây là một trong những chi nhánh của
ngân hàng Đầu tư & phát triển Việt Nam. Tiền thân của nó là phòng đầu tư và
phát triển Hà Sơn Bình được thành lập ngày 1-6-1990. Cũng giống như các chi
nhánh khác trực thuộc ngân hàng Đầu tư & phát triển Việt Nam, toàn bộ hệ
thống ngân hàng Đầu tư & phát triển bên cạnh việc kinh doanh tổng hợp như
những ngân hàng thương mại khác còn tham gia vào cho vay đầu tư phát triển
theo kế hoạch Nhà nước
đề ra. Chính vì vậy, để đánh giá kết quả hoạt động
kinh doanh của ngân hàng đầu tư và phát triển không chỉ căn cứ vào lợi nhuận
24
I.2. Những thuận lợi và khó khăn hiện nay đối với ngân hàng Đầu tư &
phát triển Hà Tây:
I.2.1. Thuận lợi:
- Trung tâm giao dịch thanh toán của ngân hàng Đầu tư & phát triển Hà
Tây nằm ở thị xã Hà Đông gần sát thủ đô Hà Nội - một trung tâm kinh tế, chính
trị, văn hoá của cả nước. Đây là môi trường rất thuận lợi cho ngân hàng hoà
nhập với nhịp điệu và cơ chế
mới trong hoạt động kinh doanh của cả nước đồng
thời dễ dàng trang bị cho mình những thiết bị công nghệ mới, học hỏi được
nhiều kinh nghiệm quản lý kinh doanh cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho các
đơn vị bạn đến giao dịch tại hội sở. Cũng do gần trung ương nên ngân hàng
luôn nhận được sự chỉ đạo sát sao và chặt chẽ của cấ
p chủ quản.
- Ngân hàng Đầu tư & phát triển Hà Tây là đơn vị thành viên của một
ngân hàng thương mại quốc doanh lớn và có truyền thống lâu đời, ngân hàng
có thể học hỏi, tiếp nhận những kinh nghiệm trong hoạt động ngân hàng, đặc
biệt là trong lĩnh vực đầu tư phát triển.
- Đội ngũ cán bộ công nhân viên của ngân hàng Đầu tư & phát triển
Hà Tây có trình độ tương đối cao, phẩm chất đạo đức t
ốt, nhiệt tình với công
việc... Tính đến thời điểm 31-12-2000 trong số 85 cán bộ công nhân viên của
ngân hàng thì trên 60% là có trình độ đại học.
kế
toán
tài
chính
Phòng
kiểm
soát
nội bộ
Phòng
huy
động
(các
bàn
giao
dịch)
Phòng
tổ
chức
hành
chính
Khu
vực
Sơn
Tây (
phòng
chức
năng)