CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG CỦA VIỆT NAM
Chương 1: CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG XÉT TRÊN KHÍA CẠNH
KINH TẾ
Trong hai thập niên qua (1986 - 2006), kể từ khi áp dụng những chính sách cải
cách kinh tế toàn diện với nội dung cốt lõi là sự kết hợp của tự do hóa, ổn định hóa, thay
đổi thế chế, cải cách cơ cấu và mở cửa ra nền kinh tế thế giới, Việt Nam đã đạt được
những thành tựu kinh tế đáng ghi nhận.
I. KẾT QUẢ SẢN XUẤT VÀ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CỦA NỀN KINH TẾ
1. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Năm 1986 đánh dấu quá trình đổi mới kinh tế, từ chỗ hầu như không có tăng
trưởng trong giai đoạn 1976 – 1985, bước sang giai đoạn 1986 – 1990, nền kinh tế đã có
dấu hiệu phục hồi và phát triển, tuy tốc độ chưa cao. Từ năm 1990 đến nay, tốc độ tăng
trưởng GDP của Việt Nam tăng cao, trung bình hàng năm đạt 7%. Tính chung từ 1986 -
2005, tốc độ tăng GDP trung bình hàng năm là 6,98%, tăng gấp 3,6 lần so với đầu giai
đoạn. Chỉ số xếp hạng GDP của Việt Nam cũng được cải thiện rõ rệt, từ vị trí thứ 124
thế giới năm 2002 đã tăng lên thứ 36 vào năm 2006.
Biểu đồ 1: Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 1998 - 2005
Năm 1999, do ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á
tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam đã giảm xuống còn 4, 8%. Tăng trưởng giảm sút
thể hiện ở hầu hết các ngành kinh tế chủ chốt như công nghiệp, dịch vụ và xuất nhập
khẩu. Tuy nhiên, đến năm 2000, nền kinh tế đã có sự hồi phục nhanh chóng, tốc độ tăng
1
0
1
2
3
4
5
6
7
8
Theo tỷ giá
thị trường
Theo ngang
giá sức mua
Theo tỷ giá
thị trường
Theo ngang
giá sức mua
Việt Nam 480 2.490 1,0 1,0
Trung Quốc 1.100 4.990 2,3 2,0
Thái Lan 2.190 7.450 4,5 3,0
Malaysia 3.780 8.940 7,8 3,6
Hàn Quốc 12.020 17.930 25,0 7,2
Singapore 21.230 24.180 44,3 9,7
Nhật Bản 34.510 28.620 71,9 11,5
2
3. Cơ cấu kinh tế và cơ cấu ngành
3.1. Cơ cấu ngành kinh tế nhìn ở phía tổng cung
Sự tăng trưởng kinh tế nhanh đạt được trong thời gian qua là kết quả của những
thay đổi quan trọng trong cơ cấu của nền kinh tế. Cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo
hướng tăng dần tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ, giảm dần của khu vực nông,
lâm ngư nghiệp. Từ một nước có nền công nghiệp kém phát triển đến nay, Việt Nam
đang từng bước xây dựng một nền công nghiệp theo hướng hiện đại.
Biểu đồ 2: Cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam
Tỷ trọng công nghiệp liên tục tăng, từ 22,67% (năm 1990) lên 41,04% (năm
2005); tỷ trọng đóng góp của ngành nông nghiệp giảm, từ 38,74% (năm 1990) xuống
20,89% (năm 2005); tỷ trọng ngành dịch vụ tăng lên cao trong giai đoạn 1993 –1995, từ
38,59% (năm 1990) lên 44,06% (năm 1995), nhưng sau đó lại giảm dần và chỉ chiếm
38,07% (năm 2005). Tốc độ tăng trưởng của các ngành cũng liên tục tăng trong các
năm, tăng nhẹ trong ngành nông – lâm - thủy sản; tăng cao nhất trong ngành công
2002
2003
2004
2005
%
nong nghiep CN - XD Dich vu
Nếu xét theo giá trị tăng thêm, tỷ lệ giá trị gia tăng của khu vực nông nghiệp nước
ta theo giá thực tế đã giảm từ 38% năm 1986 xuống còn khoảng 20% năm 2005. Tỷ lệ
giá trị gia tăng khu vực công nghiệp đã tăng lên từ 28,8% năm 1986 lên trên 40% năm
2005. Giá trị gia tăng khu vực dịch vụ cũng tăng lên từ 33% năm 1986 lên 38,5% năm
2005. Tỷ lệ cơ cấu ngành của Việt Nam năm 2005 gần giống tỷ lệ cơ cấu ngành của
Malaysia các năm 1980 và của Thái Lan các năm 1970.
Tuy nhiên, khi so sánh với một số nước ở Đông Á ta nhận thấy, tỷ trọng các ngành
trong cơ cấu kinh tế của Việt Nam vẫn chưa thể đạt đến mức là một nước có nền kinh tế
phát triển. Ví dụ như Nhật Bản tỷ trọng nông nghiệp chỉ chiếm 2% GDP, ngành dịch vụ
chiếm tới 61%; Hàn Quốc tỷ trọng nông nghiệp chỉ chiếm 6% GDP, dịch vụ chiếm tới
51%. Ngành công nghiệp chế tác, một phân ngành quan trọng trong thời kỳ công nghiệp
hóa đóng một vai trò quan trọng đối với nền kinh tế các nước Đông Á. Tỷ trọng của
ngành này luôn chiếm đến 2/3 phần trăm trong tỷ lệ đóng góp của ngành công nghiệp
trong GDP. Tuy nhiên, ở Việt Nam, tỷ lệ này vẫn còn thấp, chiếm chưa đến 50%.
Bảng 3: Cơ cấu kinh tế các nước Đông Á năm 1999
Đơn vi: %
Nước Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ
Trung Quốc 18 49 (CN chế tác chiếm 37%) 33
Hàn Quốc 6 43 (CN chế tác chiếm 26%) 51
Malaysia 12 48 (CN chế tác chiếm 34%) 40
Thái Lan 11 40 (CN chế tác chiếm 29%) 49
Việt Nam 25,5 34,5 (CN chế tác chiếm 17,7%) 40
Nhật Bản 2 37 (CN chế tác chiếm 24%) 61
Philipin 17 32 (CN chế tác chiếm 22%) 51
triển của các phân ngành dịch vụ khác lại gần như không có sự tăng trưởng. Trong 10
năm (1995 - 2005), tỷ trọng của các ngành dịch vụ cơ bản chỉ chiếm dao động khoảng
46%, phân ngành khách sạn, nhà hàng trong nhiều năm vẫn giữ ở mức 7,9%, trong khi
đó phân ngành thương nghiệp và sửa chữa vật phẩm tiêu dùng tăng nhanh và chiếm tỷ
trọng cao, 40,1%. Ngành vận tải và thông tin liên lạc là hai ngành tác động trực tiếp và
không thể thiếu đối với các ngành sản xuất cũng chỉ chiếm một tỷ lệ khiêm tốn là 9,2%
năm 1995 và tăng lên 9,6% trong năm 2004. Các dịch vụ cao cấp như ngân hàng, tài
chính, chuyển giao công nghệ đang trong giai đoạn hình thành nên năng lực cạnh tranh
vẫn còn thấp kém. Tỷ trọng ngành dịch vụ khoa học công nghệ mới chỉ chiếm 1,4 -
1,5%, ngành bảo hiểm cũng chỉ chiếm 2% GDP (năm 2005), dự báo năm 2006 cũng chỉ
tăng lên 2,5%.
3.2. Cơ cấu kinh tế nhìn từ góc độ tổng cầu
Nếu nhìn nhận từ phía tổng cầu, ta thấy, mức tăng trưởng cao mà nền kinh tế đạt
được trong thời gian qua là do tỷ lệ tiêu dùng đã giảm, tiết kiệm nội địa tăng dẫn đến
đầu tư trong nước tăng lên.
Biểu đồ 3: Tên biẻu đồ
5
0
20
40
60
80
100
120
1986 1988 1990 1992 1994 1996 1998 2000 2002 2004
%GDP
tieu dung tich luy TS trong nươc T iet kiem noi đia
Xu hướng biến động của tiêu dùng, tiết kiệm và tích lũy tài sản trong nước của
Việt Nam tuân theo quy luật phát triển chung của các nền kinh tế. Theo đó, tỷ lệ tiêu
dùng trong GDP giảm dần và thường giảm nhanh trong giai đoạn đầu của sự phát triển,
tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần nhập nhiều thiết bị, công nghệ máy móc
nhằm nâng cao trình độ kỹ thuật cho sản xuất trong nước. Song bên cạnh đó cơ cấu xuất
nhập, khẩu của Việt Nam vẫn còn nhiều tồn tại gây hạn chế khả năng đóng góp xuất,
nhập khẩu vào tăng trưởng.
6
- Thứ nhất, mặc dù xuất khẩu đã tăng trưởng rất nhanh trong thời kỳ sau đổi mới,
nhưng cơ cấu xuất khẩu lại hầu như không có nhiều thay đổi, chỉ thiên về xuất khẩu
nông sản chưa chế biến (lúa gạo, cà phê, thủy sản,…) và khoáng sản (chủ yếu là dầu
thô), những mặt hàng có hàm lượng công nghệ, chất lượng cao xuất khẩu còn ít. Tỷ
trọng hàng hóa công nghệ cao xuất khẩu trên tổng giá trị chế biến hàng xuất khẩu của
Việt Nam chỉ khoảng 8,2%, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực, so với
Malaixia là 67%; Trung Quốc 39%; Thái Lan 49%; Philippin; 33% và Inđônêxia 18%
(năm 1999).
- Thứ hai, nước ta hiện nay vẫn chưa xây dựng được mạng lưới các ngành công
nghiệp phụ trợ phục vụ trực tiếp cho các hoạt động sản xuất để xuất khẩu. Ngành sản
xuất xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là nhập khẩu nguyên liệu để gia công như ngành
da giày, may mặc,…
- Thứ ba, tỷ trọng hàng nhập khẩu phục vụ cho tiêu dùng và nguyên, vật liệu trong
cơ cấu hàng nhập khẩu tuy đã giảm nhưng vẫn chiếm tỷ trọng lớn; tỷ trọng nhập khẩu
máy móc, thiết bị, công nghệ còn khiêm tốn.
Như vậy, tuy đã có những sự thay đổi cơ bản trong cơ cấu kinh tế, nhưng nhìn một
cách tổng thế, cơ cấu kinh tế Việt Nam vẫn còn lạc hậu. Hiện tại cơ cấu kinh tế của Việt
Nam giống như cơ cấu kinh tế của một số quốc gia ASEAN đầu thập kỷ 80 thế kỷ XX.
4. Lạm phát
Lạm phát và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ hai chiều mật thiết với nhau. Một
nền kinh tế tăng trưởng cao thông thường sẽ kéo theo lạm phát cũng tăng. Một nền kinh
tế nếu lạm phát thấp, không có lạm phát hoặc thiểu phát (lạm phát âm) thì nền kinh tế đó
cũng rất trì trệ và tăng trưởng thấp. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đồng nghĩa đất nước
đó phải đối mặt với vấn đề lạm phát gia tăng, Việt Nam cũng không phải là một ngoại
lệ.
Hơn mười năm qua, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt
Nam liên tục tăng, năm sau cao hơn năm trước, với mức tăng bình quân hàng năm 7,5%.
Từ một nước có nền công nghiệp kém phát triển, Việt Nam ngày nay từng bước xây
dựng một nền công nghiệp theo hướng hiện đại. Tuy vậy, vấn đề nổi lên hiện nay đó là
vấn đề chất lượng tăng trưởng liên quan đến tỷ trọng đóng góp của TFP còn thấp. Sự
tăng trưởng đạt được chủ yếu do tăng vốn đầu tư và số lượng lao động chứ không phải
là do nâng cao chất lượng, hiệu quả đầu tư, trình độ công nghệ và chất lượng lao động.
Điều này đe doạ tính bền vững trong hiện thời và tương lai, tạo ra mâu thuẫn giữa tốc
độ tăng trưởng (số lượng) và chất lượng, hiệu quả tăng trưởng.
Hiện nay, ở nước ta, tăng trưởng kinh tế do yếu tố vốn và lao động còn chiếm chủ
yếu, vai trò của TFP có tăng, nhưng còn rất thấp nếu so với ngay các nước đang phát
triển ở châu Á.
Bảng 5: Tỷ trọng đóng góp của các nhân tố đầu vào
đối với tăng trưởng GDP (%)
Các yếu tố 1993 - 1997 1998 - 2002 2003 đến nay
Vốn 69,3 57,5 52,7
Lao động 15,9 20 19,1
8
TFP 14,8 22,5 28,2
Tổng hợp nguồn: Kinh tế Việt Nam 2003-2004 và Thời báo Kinh tế Việt Nam.
Từ 1993 đến nay, đóng góp của TFP vào GDP có tăng lên nhưng tăng còn dè dặt
và chiếm tỷ trọng không lớn (14,8% lên 28,2%); tỷ trọng đóng góp của lao động tăng
lên trong giai đoạn 1998 – 2002 nhưng lại có xu hướng giảm dần giai đoạn sau đó; đóng
góp từ vốn có giảm xuống (từ 69,3% xuống còn 52,7%), tuy nhiên yếu tố vốn vẫn chiếm
chủ yếu trong đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. So sánh với các nước trong khu vực, tỷ
trọng TFP trong tăng trưởng của nước ta thấp hơn rất nhiều (thời kỳ 1980 – 2000 ở Hàn
Quốc là 39,96%, Ấn Độ là 40,78%). Các chỉ số này phản ánh tính chất của tăng trưởng
nước ta còn nghiêng về chiều rộng hơn là chiều sâu. Xu hướng phát triển chủ yếu dựa
vào yếu tố vốn đầu tư, trong khi đó, vốn tự có thấp, chủ yếu phải đi vay từ nước ngoài,
vay trong dân cư,… sẽ khiến cho tăng trưởng thiếu tính bền vững, ổn định, dễ bị tác
trước đây, do vậy kết quả đầu tư tương đối có hiệu quả, hệ số ICOR thấp. Sau cuộc
khủng hoảng kinh tế châu Á, cùng với chính sách kích cầu, đầu tư vào kết cấu hạ tầng ở
nông thôn tăng nhanh, hệ số ICOR đã tăng nhanh. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình
trạng đầu tư kém hiệu quả, hệ số ICOR cao, đó là:
- Thứ nhất, hệ số ICOR tăng một phần là vì nước ta đang trong thời kỳ đầu của
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần phải đầu tư nhiều vào các công
trình xây dựng cơ bản, xây dựng cơ sở hạ tầng, là những dự án đòi hỏi số vốn
đầu tư cao nhưng lại chậm thu hồi vốn, nhất là các công trình lớn và nhiều năm
nữa mới đi vào hoạt động.
- Thứ hai, sự bất hợp lý trong cơ cấu vốn đầu tư, cụ thể chúng ta quá chú trọng
vào những ngành công nghiệp được xếp vào nhóm có sức cạnh tranh thấp, thu
hồi vốn chậm (mía, đường, sắt, thép, phân bón, giấy…); đầu tư vào các dự án
cần nhiều vốn nhưng sử dụng ít lao động; đầu tư dàn trải.
- Thứ ba, hiệu quả vốn đầu tư của khu vực Nhà nước còn rất thấp. Mặc dù vốn
đầu tư của khu vực Nhà nước chiếm hơn 56%, nhưng hiệu quả đầu tư ở khu
vực này rất thấp. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, hệ số ICOR trong khu
vực Nhà nước là 7,2 trong khi đó ở khu vực tư nhân là 3,8.
- Thứ tư, công tác giám sát đầu tư còn hạn chế. Hầu hết các khâu từ quy hoạch,
thiết kế, dự toán, đấu thầu, thi công đến giám sát thi công đều chưa tốt dẫn đến
không bảo đảm chất lượng công trình. Đồng thời, làm gia tăng thất thoát, lãng
phí trong đầu tư xây dựng cơ bản, nhất là vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và
nguồn vốn ODA. Vấn đề tham nhũng cũng là một trong những vấn đề gay gắt
hiện nay làm giảm hiệu quả đầu tư của nền kinh tế.
10
Hệ số ICOR tăng nhanh là một vấn đề đáng báo động đối với tình hình chất lượng
đầu tư ở nước ta. Các nhà kinh tế cho rằng, hệ số ICOR của nước ta hiện nay đã vượt
qua ngưỡng an toàn. Trong khi chỉ số ICOR của các nước trong khu vực Đông Nam Á
như Xingapo, Malaixia, Thái Lan… chỉ dao động trong khoảng 2,5 đến 3,5. Theo Báo
cáo của Ngân hàng Thế giới, nếu so sánh với các nước ở giai đoạn tương đồng thì chỉ số
ICOR của Việt Nam so với Trung Quốc cao hơn khoảng 1,5 lần, với Thái Lan là 1,35
công bố đầu năm 2004, cả nước có 93% số lao động nông thôn chưa qua đào tạo, 0,8%
có trình độ cao đẳng, 0,7% ở trình độ đại học và tương đương. Ngoài ra, chỉ có 2,3% lao
động được đào tạo tay nghề theo trình độ sơ cấp hoặc công nhân kỹ thuật, 2,4% có trình
11
độ trung cấp kỹ thuật. Trong những năm gần đây, trình độ học vấn của lao động cả nước
nói chung và nông thôn nói riêng mặc dù không ngừng được nâng cao nhưng vẫn có sự
cách biệt khá lớn giữa khu vực thành thị và nông thôn, giữa nam và nữ, giữa các vùng
lãnh thổ kinh tế về trình độ giáo dục. Nhiều công trình nghiên cứu đã đưa ra kết luận ở
nông thôn, dân trí thấp hơn 2 lần, nhân tài thấp hơn 8,6 lần và nhân lực, trong đó có đào
tạo nghề thấp hơn 10 lần so với khu vực thành thị. Hay theo số liệu thống kê được công
bố ở khu vực đô thị, cứ 100 người tham gia lực lượng lao động thì có 67 người tốt
nghiệp trung học cơ sở trở lên, cao hơn 1,5 lần so với chỉ số này ở khu vực nông thôn;
trong khi đó tỷ lệ chưa biết chữ ở khu vực nông thôn cao gấp 4 lần so với thành thị.
Trong toàn nền kinh tế, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đến nay mới đạt 25%, còn tới 75%
chưa qua đào tạo. Trên thực tế, chưa có con số thống kê chính xác về bao nhiêu phần
trăm lao động đáp ứng được yêu cầu sử dụng. Thêm vào đó, cơ cấu đào tạo còn nhiều
bất hợp lý, tồn tại tình trạng “thừa thầy thiếu thợ”.
Thứ ba, năng suất lao động xã hội thấp còn là do trình độ công nghệ của nước ta
còn thấp, hiệu quả quản lý kém, dẫn đến lãng phí các nguồn lực lao động, không phát
huy được tiềm năng.
Theo chấm điểm và xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, về sức cạnh tranh
của lao động theo thang điểm 100 thì Việt Nam mới đạt 45 điểm về khung pháp lý, 20
điểm về năng suất lao động, 40 điểm về thái độ lao động, 16 điểm về kỹ năng lao động
và 32 điểm về chất lượng lao động. Các nhà kinh tế thế giới cũng cảnh báo rằng các nền
kinh tế có chất lượng nguồn nhân lực dưới 35 điểm đều có nguy cơ mất sức cạnh tranh
trên thị trường toàn cầu. Như đã phân tích ở trên, các nguyên nhân liên quan đến cơ cấu
lao động và chất lượng lao động đã dẫn đến năng suất lao động xã hội thấp, sử dụng vốn
con người không hiệu quả, dẫn đến tỷ trọng thấp của TFP trong tăng trưởng kinh tế.
* Tiến bộ khoa học công nghệ: Yếu tố cơ bản trong năng suất nhân tố tổng hợp
là tiến bộ khoa học công nghệ. Tiến bộ khoa học công nghệ có tác động tăng năng suất
quả phân tích trên 41.000 doanh nghiệp ở 30 tỉnh, thành phố của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cuối
năm 2005).
III. NĂNG LỰC CẠNH TRANH QUỐC GIA
Tăng trưởng về chất phải là quá trình tăng trưởng theo chiều sâu, đảm bảo nâng
cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và của ngành, của doanh
nghiệp nói riêng. Tăng trưởng kinh tế đi liền với việc nâng cao năng lực cạnh tranh là
tăng trưởng có chất lượng cao.
Hiện nay, mặc dù đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh, nhưng nhìn chung, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta
vẫn còn kém. Xếp hạng năng lực cạnh tranh của nước ta rất thấp và liên tục tụt bậc
trong bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu của WEF trong những năm gần đây.
Bảng 6: Xếp hạng năng lực cạnh tranh tăng trưởng của Việt Nam
Năm 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Xếp hạng 48/33 49/59 64/75 60/80 60/102 77/104 81/117
Nguồn: WEF – Global Competitiveness Report.
Xếp hạng của nước ta tụt giảm là do các chỉ số năng lực cạnh tranh thành phần
thấp (gồm có: chỉ số công nghệ - TI: Technology Index; chỉ số thế chế công – PII:
13
Public Institution Index; chỉ số môi trường vĩ mô – MEI: Macroeconomic Environment
Index) và có sự tụt giảm trong bảng xếp hạng:
Bảng 7: Xếp hạng các chỉ số năng lực cạnh tranh của Việt Nam
Năm
GCI TI PII MEI
Hạng Điểm Hạng Điểm Hạng Điểm Hạng Điểm
2004 77 3,47 92 2,92 82 3,66 58 3,82
2005 81 3,37 92 2,72 97 3,43 60 3,96
Nguồn: WEF - Global Competitiveness Report.
Nguyên nhân dẫn đến xếp hạng chỉ số công nghệ của nước ta thấp do trình độ
công nghệ của nước ta còn yếu kém. Mặc dù đã có nhiều tiến bộ đáng kể trong việc
hoàn thiện hệ thống pháp luật (với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư và
Bảng 7: Giảm diện tích đất canh tác trên đầu người ở Việt Nam
Năm 1940 1960 1970 1992 2000
Bình quân đầu người (ha/người) 0,2 0,16 0,13 0,11 0,10
Nguồn: Hội Khoa học Đất Việt Nam.
So sánh với các nước trong khu vực, số lao động trên 1 đơn vị diện tích của ta
thuộc hàng cao nhất. Theo số liệu năm 2000 của FAO cho thấy nếu ở Việt Nam có 3,2
lao động/ha thì ở Trung Quốc con số này là 0,9 LĐ/ha, Myanmar là 1,6 LĐ/ha,
Inđônêxia là 3,1 LĐ/ha, điều này có nghĩa diện tích đất nông nghiệp trên một lao động ở
nước ta vào loại thấp nhất trong khu vực.
- Mất đất do đô thị hoá
Đô thị ngày càng mở rộng đồng nghĩa với việc diện tích đất nông nghiệp ngày
càng bị thu hẹp lại, đặc biệt phần diện tích đất tốt, đất thuộc vùng đồng bằng châu thổ
trù phú. Điều này gây ảnh hưởng trực tiếp đe dọa đến nguy cơ thiếu đất canh tác trong
tương lai gần, chưa kể đến các tác động tiêu cực về mặt xã hội (lao động nông thôn
không có việc làm, tệ nạn xã hội tăng lên,…) của quá trình này. Trong vòng 10 năm từ
năm 1990 đến năm 2000, vùng đồng bằng sông Hồng, nơi tốc độ đô thị hoá diễn ra sôi
động nhất cả nước, phần đất dành cho cơ sở hạ tầng và nhà ở tăng thêm 63.780 ha
chiếm 4,31% diện tích đất tự nhiên, nghĩa là mỗi năm mất khoảng 0,43% đất tự nhiên.
- Quá trình hoang mạc hóa làm diện tích đất canh tác bị thu hẹp
Nước ta hiện có khoảng 7.055.000 ha đang chịu tác động mạnh bởi hoang mạc
hóa, bao gồm đất trống bị thoái hóa mạnh, đất bị đá ong hóa (khoảng 7 ngàn ha); đất bị
xói mòn tại Tây Bắc, Tây Nguyên và một số nơi khác là 120 ngàn ha; đất bị nhiễm mặn,
nhiễm phèn ở đồng bằng sông Cửu Long là 30 ngàn ha; và đất khô hạn theo mùa hoặc
vĩnh viễn tập trung ở Nam Trung bộ là 300 ngàn ha.
- Quy mô dân số lớn và ngày càng lớn hơn
Quy mô dân số Việt Nam lớn, đứng thứ ba ở Đông Nam Á, thứ 14 trên thế giới và
là một trong những nước có mật độ dân số cao trên thế giới. Trong hơn một thập kỷ
trước đây, nước ta khống chế đựoc tốc độ gia tăng dân số quá nhanh. Ty nhiên, từ sau
năm 2000 đến nay, tốc độ này lại có chiều hướng gia tăng. Nguy cơ tái bùng nổ dân số
- Ô nhiễm do thuốc bảo vệ thực vật: Thuốc bảo vệ thực vật gây chết tất cả những
sinh vật có hại và có lợi, và tồn dư lâu dài trong môi trường đất – nước. Từ năm 2000,
trung bình mỗi năm tiêu thụ trên 30 ngàn tấn thuốc bảo vệ thực vật thành phẩm. Tổng
lượng thuốc sử dụng hàng năm tăng từ 1,2 - 1,5 lần so với năm 1990. Mặc dù khối
lượng thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng ở Việt Nam còn ít so với các nước khác
(trung bình từ 0,5 - 1kg/ha/năm), nhưng ở nhiều nơi đã phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ
thực vật trong đất
16
Vùng bị ô nhiễm chủ yếu xảy ra ở ven một số thành phố lớn; khu công nghiệp và
những nơi gia công kim loại không có công nghệ xử lý chất thải độc hại; những nơi
chuyên canh, thâm canh sử dụng phân bón và hoá chất bảo vệ thực vật không hợp lý,
không có sự quản lý chặt chẽ. Như đất phù sa của sông Hồng qua quá trình thâm canh,
sử dụng đất không hợp lý đã làm cho nhiều vùng đất bị thoái hoá tới mức không còn
những đặc tính điển hình của đất phù sa như: Tỷ lệ sét giảm xuống còn dưới 13%, hàm
lượng hữu cơ khoảng 1%, đạm tổng số 0,08%, lân tổng số 0,07%, canxi và magiê 2 - 4
mili đương lượng, pH khoảng 4,5. Thâm canh tăng vụ không hợp lý, đất được gieo
trồng liên tục không nghỉ làm đất bị khai thác quá mức, nhưng lại không được bổ sung
cân đối dẫn đến thiếu hụt nhiều nguyên tố dinh dưỡng dẫn đến thoái hoá đất và tình
trạng đất đai ngày càng bị “nghèo đi”.
- Ô nhiễm chất thải vào môi trường đất do hoạt động công nghiệp: Trong những
năm gần đây, hàm lượng kim loại nặng trong đất gần các khu công nghiệp đã tăng lên
đáng kể, như tại cụm công nghiệp Phước Long, hàm lượng Cr cao gấp 15 lần, Cd từ 1,5
đến 5 lần, As gấp 1,3 lần so với tiêu chuẩn.
Suy thoái đất chủ yếu ở nước ta là xói mòn, rửa trôi; suy thoái hóa học. mất chất
dinh dưỡng; đất bị chua; hoang mạc hóa... Xói mòn là quá trình tiềm năng dẫn đến thoái
hóa đất mạnh nhất ở nước ta. Lượng đất bị xói mòn thường phụ thuộc vào chế độ canh
tác. Chế độ du canh ở vùng đồi núi nước ta đã để lại hậu quả là từ đất rừng, sau khi khai
phá trồng cây ngắn ngày, chu kỳ đất bỏ hóa để phục hồi độ phì nhiêu bị rút ngắn nên
hiện có khoảng 17,7 triệu ha đất dốc bị suy thoái ở các mức độ khác nhau.
Sự suy thoái và ô nhiễm đất làm giảm năng suất cây trồng vật nuôi, làm nghèo
gần. Quá trình phát triển kinh tế - xã hội, kéo theo những tác động đến môi trường môi
trường nói chung, môi trường nước nói riêng tiềm ẩn những nguy cơ, thách thức trong
tương lai gần.
Ô nhiễm môi trường nước tác động trực tiếp đến sức khỏe con người, là nguyên
nhân gây các bệnh suy dinh dưỡng, làm thiếu máu, gây kém phát triển, tử vong, nhất là
ở trẻ em. Có đến 88% trường hợp bệnh tiêu chảy là do thiếu nước sạch, vệ sinh môi
trường kém. Có nhiều nguyên nhân làm ô nhiễm môi trường nước, trong đó chủ yếu là
những nguyên nhân sau.
2.1. Khai thác và sử dụng quá mức tài nguyên nước
Sự gia tăng dân số, quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa mạnh mẽ tạo nên nhu
cầu sử dụng nước lớn trong khi nguồn tài nguyên nước không thay đổi, dẫn đến suy
giảm nghiêm trọng cả về chất và về lượng đối với tài nguyên nước.
Hiện nay có khoảng 60% đô thị có hệ thống cấp nước tập trung. Tuy nhiên, dịch
vụ cấp nước đô thị còn nhiều hạn chế. Hệ thống cấp nước đô thị xây dựng chắp vá,
không hoàn chỉnh và đồng bộ. Năm 2004, lượng nước cấp đô thị bị thất thoát khoảng 35
- 50% (mặc dù đã giảm khoảng 8 - 10% so với năm 2003). Mức bảo đảm nước trung
bình cho một người trong 1 năm từ 12.800 m
3
/người vào năm 1990, giảm còn 10.900
m
3
/người vào năm 2000 và có khả năng chỉ còn khoảng 8500 m
3
/người vào khoảng năm
2020. Tỷ lệ hộ được tiếp cận với nước sạch ở khu vực thành thị là 78%. Trong khi đó tỷ
lệ dân vùng nông thôn được cấp nước sạch và nước an toàn với tiêu chuẩn 50
lit/người/ngày là từ 40 - 60%, phụ thuộc vào từng vùng. Nhiều vùng nông thôn, đặc biệt
là khu vực miền núi và đồng bằng sông Cửu Long còn gặp nhiều khó khăn về tiếp cận
nguồn nước sạch. So sánh với năm 2000 tổng lượng nước sử dụng trong năm 2010 được
dự báo sẽ tăng 14%; năm 2020, 25% và năm 2030, 38%. Với đà gia tăng được dự báo
tiêu chuẩn cho phép 5 - 10 lần. Việc khai thác nước quá mức và không có quy hoạch đã
làm cho mực nước dưới đất bị hạ thấp. Hiện tượng này thấy nhiều ở các khu vực đồng
bằng Bắc Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Nước dưới đất đã xuất hiện dấu hiệu ô
nhiễm phốt phát và asen. Khai thác nước dưới đất quá mức cũng đã dẫn đến hiện tượng
xâm nhập mặn ở các vùng ven biển ở nhiều nơi. Nước dưới đất còn bị ô nhiễm do việc
chôn lấp gia cầm bị dịch không đúng quy cách.
2.3. Vấn đề xử lý nước thải
a. Nước thải đô thị và công nghiệp
Hầu hết nước thải đô thị đều chưa được xử lý trước khi xả thải ra môi trường (chỉ
khoảng 4,26% lượng nước thải công nghiệp được xử lý đảm bảo tiêu chuẩn). Ngoài ra,
hiện nay cả nước chỉ có một số bãi chôn lấp rác có hệ thống xử lý nước rác hoạt động
thường xuyên và đảm bảo tiêu chuẩn môi trường. Do đó, nước thải công nghiệp, nước
thải sinh hoạt, nước rò rỉ từ các bãi chôn lấp rác thải và cả nước thải bệnh viện (nguồn
nước chứ nhiều thành phần nguy hiểm gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường) ngấm
xuống đất và xâm nhập gây ô nhiễm các tầng chứa nước dưới đất.
19
b. Nước thải từ hoạt động nông nghiệp và nước thải từ các nguồn khác tại khu vực
nông thôn
Dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật và phân khoáng trong hoạt động sản xuất nông
nghiệp, hoạt động của các làng nghề trong nước tạo ra một lượng chất thải xả vào môi
trường một cách bừa bãi và không được xử lý gây ra phú ưỡng hoặc nhiềm độc nước,
dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước trầm trọng.
Chất lượng nước không đảm bảo, nhất là nước sinh hoạt kéo theo đó là hàng loạt
các vấn đề sức khoẻ cộng đồng bị ảnh hưởng, chất lượng đời sống sẽ xấu đi. Điều này
khẳng định tăng trưởng của Việt Nam chưa thực sự bền vững về mặt môi trường và xã
hội, tăng trưởng tuy có đạt được tốc độ cao nhưng chất lượng cuộc sống của người dân
lại đi xuống, nhiều nguy cơ tiềm ẩn đe dọa đến người dân trong tương lai.
3. Ô nhiễm không khí
Ô nhiễm môi trường không khí đang là một vấn đề bức xúc đối với môi trường đô
thị, công nghiệp và các làng nghề ở nước ta hiện nay. Ô nhiễm môi trường không khí có
Tàu, Long An có nồng độ khí SO
2
lớn nhất, nhưng vẫn thấp hơn trị số tiêu chuẩn cho
phép tới 2 lần, ở các thành phố khác còn lại, như Hà Nội, Hải Phòng, Hạ Long, Thanh
Hoá, Vinh, Huế, Cần Thơ, Cà Mau, Mỹ Tho,... nồng độ khí SO
2
trung bình ngày đều
dưới 0,1 mg/m
3
, tức là thấp hơn trị số tiêu chuẩn cho phép tới 3 lần.
20
Ô nhiễm chì (Pb) trong không khí đô thị: Thực hiện chỉ thị 24/2000/CT-TTg của
Thủ tướng Chính phủ, ở nước ta đã sử dụng xăng không pha chì từ ngày 1/7/2001. Số
liệu quan trắc ô nhiễm giao thông cho thấy nồng độ chì trong không khí Hà Nội trung
bình năm 2002 giảm đi khoảng 40 - 45% so với cùng thời kỳ năm trước; tương tự, ở
thành phố Hồ Chí Minh nồng độ chì giảm đi khoảng 50%.
Nồng độ khí độc hại (SO
2
, NO
2
, CO) ở phần lớn các đô thị và khu công nghiệp
đều nhỏ hơn tiêu chuẩn cho phép, tức là chưa có tình trạng ô nhiễm bởi các loại khí này.
Song ở một số nhà máy và ở một số nút giao thông lớn trong đô thị, nồng độ các loại khí
độc hại trên vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần. Trong khi mức độ ô nhiễm môi trường
không khí ở các khu vực rộng lớn chưa đáng kể, thì ô nhiễm môi trường không khí
trong nội bộ các cơ sở sản xuất (ô nhiễm môi trường lao động) lại là vấn đề đáng lo
ngại.
3.2. Nguyên nhân ô nhiễm không khí
Từ hoạt động công nghiệp:
Các hoạt động sản xuất công nghiệp vẫn là một trong những nguồn chính gây ra ô
trưởng không có chất lượng và không bền vững.
Từ hoạt động giao thông vận tải: Cùng với quá trình công nghiệp hoá và đô thị
hoá, số lượng các phương tiện giao thông vận tải tăng nhanh. Nguồn thải từ giao thông
vận tải đã trở thành một nguồn gây ô nhiễm chính đối với môi trường không khí ở đô
thị, nhất là ở các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng.
Theo đánh giá của chuyên gia môi trường, ô nhiễm không khí ở đô thị do giao thông vận
tải gây ra chiếm tỷ lệ khoảng 70%. Do số lượng xe máy tăng lên rất nhanh, không
những làm tăng nhanh nguồn thải gây ô nhiễm không khí, mà còn gây ra tắc nghẽn giao
thông ở nhiều đô thị lớn.
Từ hoạt động xây dựng: Ở nước ta hiện nay hoạt động xây dựng nhà cửa, đường
sá, cầu cống,... diễn ra rất mạnh và ở khắp nơi, đặc biệt ở các đô thị. Các hoạt động xây
dựng như đào lấp đất, đập phá công trình cũ, vật liệu xây dựng bị rơi vãi trong quá trình
vận chuyển, thường gây ô nhiễm bụi rất trầm trọng đối với môi trường không khí xung
quanh, đặc biệt là ô nhiễm bụi, nồng độ bụi trong không khí ở các nơi có hoạt động xây
dựng vượt trị số tiêu chuẩn cho phép tới 10 - 20 lần.
Từ sinh hoạt của nhân dân: Nhân dân ở nông thôn nước ta thường đun nấu bằng
củi, rơm, cỏ, lá cây và một tỷ lệ nhỏ đun nấu bằng than. Nhân dân ở thành phố thường
đun nấu bằng than, dầu hoả, củi, điện và khí tự nhiên (gas). Đun nấu bằng than và dầu
hoả sẽ thải ra một lượng chất thải ô nhiễm đáng kể, đặc biệt nó là nguồn gây ô nhiễm
chính đối với môi trường không khí trong nhà, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của
người dân. Trong những năm gần đây nhiều gia đình trong đô thị đã sử dụng bếp gas
thay cho bếp đun bằng than hay dầu hoả.
Ngoài ra các nguyên nhân trên thì còn có một số nguyên nhân cũng làm ô nhiễm
môi trường như cháy rừng hay các nguồn ô nhiễm từ các quốc gia lân cận
II. ĐÁNH GIÁ VỀ BẢO TỔN ĐA DẠNG SINH HỌC
Nước ta được quốc tế xếp thứ 10 về đa dạng sinh học, nhưng tốc độ suy giảm
được xếp vào loại nhanh. Hiện nay, trên cả nước nhiều hệ sinh thái tự nhiên, khu bảo
tồn đang bị xâm phạm và phá hoại nghiêm trọng.
1. Bảo vệ và phát triển rừng
Theo báo cáo của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO),
Những con số thống kê về tăng diện tích rừng tự nhiên trong Bảng 10 đã phần nào
nói lên điều đó. Diện tích rừng tự nhiên nước ta giảm dần từ 14,3 triệu ha năm 1945 đến
8,2525 triệu ha năm 1995, bỗng nhiên tăng lên 9,470737 triệu ha năm 1999 và đến năm
2002 là 9,865020 triệu ha, như vậy là trong 7 năm mỗi năm trung bình tăng hơn 230.000
ha. Diện tích rừng tự nhiên tăng chủ yếu do sự phát triển của rừng tái sinh và rừng tre
nứa. Mặc dù diện tích rừng tăng nhưng chất lượng rừng bị suy giảm.
Cũng cần chú ý là công tác thống kê rừng của chúng ta tới nay còn nhiều hạn chế,
các số liệu về diện tích rừng được công bố rất khác nhau, tuỳ nguồn tài liệu, và tuỳ thời
gian do thiếu thống nhất về phương pháp và các tiêu chí định lượng về rừng.
2. Hệ sinh thái của Việt Nam
Các hệ sinh thái của Việt Nam rất đa dạng và phong phú, tạo nên môi trường sống
cho khoảng 10% số loài chim và thú trên toàn cầu. Việt Nam có nhiều loài động thực
23
vật rất độc đáo mà nhiều quốc gia trên thế giới không có được, đã làm cho Việt Nam trở
thành nơi tốt nhất (trong một số trường hợp là nơi duy nhất) để bảo tồn đa dạng sinh
học.
Việt nam có khoảng 126 khu bảo tồn thiên nhiên, với tổng diện tích trên 2,5 triệu
ha, bao gồm các khu rừng bảo vệ cảnh quan, vườn quốc gia, khu bảo tồn loài và nơi cư
trú, khu dự trữ thiên nhiên... tăng 28% diện tích so với trước khi nước ta tham gia Công
ước quốc tế về đa dạng sinh học năm 1994. Diện tích rừng được bảo tồn ở nước ta chỉ ở
mức trung bình nếu so với các nước trong khu vực. Xu hướng quần thể của rất nhiều
loại động thực vật tại Việt Nam đang suy giảm, ngày càng có nhiều loài phải đối mặt
với nguy co tuyệt chủng. Theo kết quả điều tra của các nhà sinh học, từ năm 1996 đến
nay, ở nước ta có 152 loài động vật và thực vật quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng.
Trong đó, đáng chú ý các loài tê giác 2 sừng, heo vòi, cầy rái cá, hươu sao, cá chép gốc,
cá sấu hoa cà... hầu như không tồn tại trong tự nhiên mà chỉ còn một số cá thể.
Để bảo vệ và duy trì hệ sinh thái này, trong những năm qua, Việt Nam đã tăng
cường đầu tư cho các chương trình, dự án bảo tồn sinh học. Theo báo cáo môi trường
Việt Nam 2005, tổng kinh phí đầu tư cho bảo tồn đa dạng sinh học năm 2005 đạt xấp xỉ
nhiệm vụ hết sức khó khăn và nặng nề, đỏi hỏi phải có sự quyết tâm cao của lãnh đạo
các bộ, ban và ngành, đoàn thể ở Trung ương và đặc biệt là chính quyền các địa phương.
Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tiếp tục tăng cường vai trò chủ trì, phối hợp chỉ đạo xử
lý các vấn đề môi trường có tính liên ngành, liên vùng. Mới đây ngày 27/9/2005, Hội
đồng Phát triển bền vững Quốc gia chính thức được thành lập để giúp Thủ tướng Chính
phủ chỉ đạo thống nhất việc thực hiện trong phạm vi cả nước Định hướng chiến lược
phát triển bền vững ở Việt Nam. Đây được coi như một bước tiến có ý nghĩa quan trọng
trong việc hoàn thiện về mặt quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương trong việc
triển khai thực hiện cụ thể Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam.
Chương 3: HIỆU LỰC QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC
I. CÁC CHÍNH SÁCH VĨ MÔ
Thực tiễn kinh nghiệm phát triển của các nước tiên tiến trên thế giới đều thừa nhận
tầm quan trọng của vai trò quản lý nhà nước trong việc xây dựng môi trường kinh tế vĩ
mô ổn định và hợp lý để khuyến khích tích luỹ và đầu tư. Những kinh nghiệm thành
công nhất về phát triển ở Đông Á có được gần đây là nhờ các yếu tố như mức độ thâm
hụt ngân sách thấp; tốc độ tăng trưởng tiền tệ và tín dụng hợp lý; tỷ lệ lạm phát tương
đối thấp; các khoản nợ của khu vực công cộng tăng ở mức độ hạn chế; lãi xuất thực
được duy trì ở mức độ dương để khuyến khích tích luỹ trong nước; tỷ giá hối đoái được
quản lý để tránh tình trạng giá trị đồng tiền quá cao, khuyến khích xuất khẩu và góp
phần duy trì cán cân thanh toán và sự ổn định về tài chính… Nhờ có tính ổn định và khả
năng dự đoán tương đối của môi trường kinh tế vĩ mô, người dân yên tâm đầu tư tiết
kiệm dài hạn vào thị trường tài chính và các nhà doanh nghiệp yên tâm khi đầu tư cho
các dự án, kể cả các dự án có thời gian thu hồi vốn dài. Chính vì vậy, tỷ lệ tích luỹ (tiết
kiệm nội địa) và đầu tư tăng mạnh, đẩy nhanh tốc độ tích luỹ các nguồn vốn, cả vật chất
và con người, tạo tiềm lực cho tăng trưởng kinh tế cao, nâng cao sự phồn thịnh bền
vững về kinh tế và nhanh chóng thực hiện công cuộc xoá đói giảm nghèo. Chính vì vậy,
trong nội dung nghiên cứu về hiệu quả các chính sách vĩ mô của Nhà nước, chuyên đề
sẽ tập trung đi sâu vào nghiên cứu vào các chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, chính
sách tỷ giá - những công cụ chính để nhà nước điều tiết vĩ mô toàn nền kinh tế.
1. Chính sách tài khóa