Ứùng dụng và phát triển Thương mại điện tử vào
các doanh nghiệp vừa và nhỏ
LỜI MỞ ĐẦU:
Trong thời đại ngày nay ,việc toàn cầu hóa nên kinh tế đang diễn ra nhanh
chóng. Thông tin là một công cụ chiến lược của mọi nhà kinh doanh khắp nơi trên
thế giới, nhà kinh doanh cần phải có các thông tin như: thông tin thị trường, thông
tin về giá cả các yếu tố sản xuất, về cước phí vận tải, các phương tiện bảo hiểm
hàng hóa, khả năng về vốn, những yêu cầu của hải quan, các loạ
i thuế suất...Để nhà
kinh doanh có quyết định đúng đắn. Tuy nhiên nhiều doanh nghiệp ở Việt nam, đặc
biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vẫn không có khả năng tiếp cận các thông tin
trên thế giới có liên quan đến lĩnh vực sản xuất kinh doanh của mình hoặc giới
thiệu sản phẩm cho các khách hàng tiềm năng ở nước ngoài bởi vì họ không có khả
năng đầu tư cho việc thu thập thông tin và quảng bá sả
n phẩm trên qui mô thị
trường quốc tế.
Thương mại điện tử (electronic-commerce) chính là một công cụ hiện đại sử
dụng mạng Internet giúp cho các doanh nghiệp có thể thâm nhập vào thị trường
thế giới, thu nhập các thông tin quản trị nhanh hơn, nhiều hơn, chính xác hơn. Với
Thương mại điện tử, các doanh nghiệp cũng có thể đưa ra các thông tin về sản
phẩm của mình đến các đối t
ượng khách hàng tiềm năng khác nhau ở mọi nơi trên
thế giới-những nơi mà có thể kết nối Internet. Khi đó với chi phí đầu tư thấp và
nhiều tiện ích khác, các doanh nghiệp có thu được nhiều lợi ích như:
• Thu thập được các thông tin phong phú về thị trường và đối tác;
• Đưa thông tin của mình trên phạm vi không gian ảo rộng lớn không bị
giới hạn bởi vị trí địa lý hay biên giới quốc gia và tất cả
những người , những
doanh nghiệp kết nối Internet có thể xem được thông tin này vào bất cứ lúc nào.
• Trao đổi thông tin với khách hàng, đối tác nhanh hơn, nhiều hơn với chi
• Nêu một số ứng dụng Internet , Thương mại điện tử , sơ lược các mô
hình ứng dụng Thương mại điện tử trên thế giới.
• Nghiên cứu và tổng quát hóa việc ứng dụng Thương mại điện tử cho
doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt nam.
• Đề xuất và cụ thể
hóa một quy trình ứng dụng Thương mại điện tử cho
doanh nghiệp có tính khả thi cao cho doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam .
• Phân tích, đánh giá hiệu quả kinh tế của việc ứng dụng Thương mại điện
tử cho doanh nghiệp để thấy được sự cấp thiết của việc đưa ứng dụng của Thương
mại điện tử vào sản xu
ất kinh doanh trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta
hiện nay thúc đẩy tiến trình hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới .
Phạm vi nghiên cứu và giới hạn của đề án.
Để thực hiện các mục tiêu đã đề ra, đề án sẽ trình bày và phân tích những vấn đề
cơ bản về việc sử dụng Internet , một số mô hình ứng dụng Thương mại điện tử cho
các doanh nghiệ
p trên thế giới và ứng dụng trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở
Việt Nam .
Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỔNG QUAN VỀ INTERNET VÀ THƯƠNG MẠI
Vietnam
81,000,000 1,903,160 2.35%
Indonesia
231,340,000 5,500,000 2.38%
Lao
5,921,000 15,000 0.25%
Cambodia
13,124,000 30,000 0.23%
Myanmar
51,000,000 12,000 0.02%
ASEAN 555,772,000 26,795,160 4.82%
Quốc Gia Khác
China
1,287,000,000 68,000,000 5.28%
Brazil
176,509,000 14,323,000 8.11%
France
60,180,000 18,000,000 29.91%
Australia
19,930,000 10,965,000 55.02%
UK
64,500,200 34,300,000 53.18%
Japan 127,300,000 57,564,000 45.22%
Netherlands
16,150,000 10,351,000 64.09%
South Korea
48,400,000 26,270,000 54.28%
Switzerland
7,785,000 4,265,000 54.78%
Sweden
được gửi đi và giải mã khi người ta nhận được nó. Mã hoá dùng để bảo vệ một
thông điệp không bị xem và thay đổi trái phép.
Chữ ký số hoá: là một dạng của chữ ký điện tử, sử dụng kĩ thuật mật mã để
kiểm tra người gửi thông điệp có đúng là người g
ửi thật không và có nội dung chưa
bị thay đổi từ khi bức thông điệp được gửi đi. Hoa Kỳ là nước đầu tiên công nhận
chữ ký điện tử.
Chứng chỉ số hoá: là một dạng bảo đảm bằng điện tử xác nhận một thông điệp
là xác thực. Điều này cũng như khái niệm về các chứng chỉ bằng giấy như gi
ấy
khai sinh, hộ chiếu và bằng lái xe. Giấy chứng chỉ (như bằng lái xe) được một bên
thứ ba đáng tin cậy (như nhà nước) chỉ ra bằng những thông tin trong thông điệp
(tên, địa chỉ, ...) là đáng tin cậy.
Hiện nay các doanh nghiệp cũng lo lắng về việc Chính Phủ có thể đánh thuế
quá mức trên Internet và có thể có những qui định quá mức hoặc kiểm duyệt
Internet, hạn chế nội dung hoặc làm phứ
c tạp quá trình. Ví dụ như quyết định số
27/2002/QĐ-BVHTT ngày 10 tháng 10 năm 2002 của Bộ Văn Hoá Thông Tin có
thể làm cản trở sự phát triển của Internet và thương mại điện tử. Một số doanh
nghiệp khác còn lo ngại khả năng hoạt động và độ tin cậy của Internet. Các doanh
nghiệp đã từng sử dụng các giao dịch EDI trên các mạng riêng giá trị gia tăng đã
biết rằng các thông tin quan trọng sẽ đượ
c chuyển tới đích của nó theo lịch, không
bị xâm phạm trái phép mà nhà cung cấp dịch vụ mạng phải chịu trách nhiệm về
việc này. Nhưng Internet thì không có sự bảo đảm đó bởi Internet là một mạng
công cộng của các mạng và các nhà cung cấp kết nối với nhau, không có một chủ
thể nào đảm bảo cho việc một thông điệp được chuyển từ một điểm này tới một
điểm khác mà không bị xâm phạm trái phép. Nhiều cá nhân, doanh nghiệp đã từng
bị lộ các thông tin về thẻ tín dụng, bị kẻ xấ
u mua hàng hoá, dịch vụ trên mạng
về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hoá hay hành khách
bằng đường bi
ển, đường không, đường sắt hay đường bộ.”
Theo tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Thương mại điện tử bao gồm việc
sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh
toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản
phẩm được giao nhận cũng như những thông tin được số hoá thông qua mạng
Internet.
Do vậy thương mại trong thương mại điện tử không chỉ buôn bán hàng hoá và
dịch vụ theo cách hiểu thông thường, mà bao quát một phạm vi rộng hơn nhiều, và
do đó việc áp dụng thương mại điện tử sẽ làm thay đổi hình thái hoạt động của hầu
hết các hoạt động kinh tế. Theo ước tính, đến nay có tới trên 1300 lĩnh vực ứng
dụng thương mại điện t
ử, trong đó, buôn bán hàng hoá và dịch vụ chỉ là một lĩnh
vực;
Thương mại điện tử mở ra các hoạt động hiệu quả cho kết quả trong những
khoảng thời gian ngắn hơn, cải thiện sự phản hồi với khách hàng và làm giảm chi
phí điều hành. Hầu hết các công ty đang đầu tư vào thương mại điện tử ngày nay
mong muốn có một hệ thống qu
ản lý được các giao dịch thương mại nội bộ và qua
các kênh phân phối. Một kênh phân phối có thể bao gồm các tổ chức bán hàng và
marketing, các nhà sản xuất, các nhà thầu phụ, các nhà cung cấp nguyên vật liệu,
những người bán lẻ, các nhà sản xuất thiết bị đầu tiên và những người tiêu dùng.
Trong kênh phân phối còn có các cơ quan Chính Phủ để kiểm soát thuế quan và
các nhu cầu an ninh, các công ty bảo hiểm để bảo vệ hàng tồn kho, các công ty
phân phối và hậu cần để
vận chuyển hàng hoá và cuối cùng là các ngân hàng để
cho quá trình thanh toán.
¾ Các hình thức hoạt động của thương mại điện tử .
- Thư điện tử (Electronic mail hay E-mail)
5. Tự động hoá trong các giao dịch người – máy,
6. Quá trình thanh toán thực hiện bằng điện tử thông qua các ứng dụng
của thương mại điện tử,
7. Quá trình giao hàng thực hiện bằng điện tử với các mặt hàng số hoá,
Để thấy rõ hơn đặc điểm của thươ
ng mại điện tử, ta có thể xem xét một quá
trình mua hàng cho một doanh nghiệp trong hai điều kiện có thể ứng dụng thương
mại điện tử và truyền thống (xem bảng 2). Ta có thể thấy nhiều bước trong hai hình
thức này giống nhau, nhưng phương pháp nhận và truyền thông tin trong cả hai chu
trình lại rất khác nhau. Rất nhiều phương tiện truyền tin được sử dụng trong hình
thức thương mại truyền thố
ng làm cho sự phối hợp trở nên khó khăn hơn và làm
tăng thời gian cần thiết cho cả quá trình. Nhưng khi ứng dụng thương mại điện tử,
các bước đều sử dụng đến kĩ thuật số, chỉ có các ứng dụng khác nhau để chuyển và
xử lý dữ liệu trong suốt quá trình. Hiệu quả trong quá trình tăng hơn hẳn do ta có
thể có toàn bộ các thông tin ngay lập tức và cũng có thể mua hàng ngay với ch
ỉ một
loại phương tiện truyền tin.
Đây chính là lợi ích mà thương mại điện tử sẽ mang lại. Tuy hàng hoá thông
thường thì không thể chuyển qua Internet, nhưng ngày càng có nhiều hàng hoá và
dịch vụ (như: phần mềm chương trình máy tính, trò chơi, thông tin ...) cho phép ta
truyển tải bằng điện tử làm cho thương mại điện tử thực sự trở nên mạnh mẽ và cần
thiết hơn bao giờ hế
t.
Bảng 2. So sánh thương mại điện tử và thương mại truyền thống Các bước
Thương mại truyền
thống (sử dụng nhiều
cung cấp và giá cả
Điện thoại, FAX Thư điện tử Cho kết quả
nhanh hơn
Lập đơn đặt hàng Mẫu in sẵn Thư điện tử, Web Không phải in
ấn
Giử đơn hàng (mua)
Nhận đơn hàng (bán
Fax, bưu điện Thư điện tử, EDI Nhanh, chính
xác
Kiểm tra kho hàng Mẫu in sẵn, Điện
Thoại, Fax
Cơ sở dữ liệu trực tuyến Số liệu chính
xác do luôn cập
nhật
Lập lịch giao hàng Mẫu in sẵn Thư điện tử, Cơ sở dữ
liệu trực tuyến
Có khả năng tự
động hoá
Viết hoá đơn Mẫu in sẵn Cơ sở dữ liệu trực tuyến Tự động
Chuyển hàng Người chuyển hàng
Người chuyển hàng
Internet
Gần như tức
thời đối với SP số
hoá
Giấy báo đã nhận
hàng
Mẫu in sẵn Thư điện tử Nhanh
Gửi hoá đơn (bán)
đầy đủ vào thương mại điện tử
Sự lớn mạnh nhanh chóng của thương mại điện tử giữa các doanh nghiệp thực
hiện được là nhờ:
- Chi phí mua hàng thấ
p hơn
- Giảm chi phí tồn kho
- Chi phí bán hàng và chi phí tiếp thị thấp hơn
- Tận dụng được các cơ hội kinh doanh
- Vận tải hậu cần có hiệu quả hơn
- Dịch vụ khách hàng phong phú hơn
- Chu kỳ kinh doanh ngắn hơn Chương 2.
THỰC TRẠNG VỀ ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở
CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM
Con đường tiếp cận thương mại điện tử của mỗi quốc gia thường gồm 3 giai
đoạn: chuẩn bị – chấp nhận – ứng dụng và các giai đoạn này cũng thường đan xen
vào nhau.
Giai đoạn chuẩn bị gồm các hoạt động từ tuyên truyền, nâng cao nhận thức,
kiến thức, xác định mức độ sẵn sàng đối với thương mại đi
ện tử để biết những yếu
tố cần thay đổi hoặc hiệu chỉnh, nhằm đảm bảo thích ứng trên mọi bình diện. Nước
ta đang tiến hành những bước đầu tiên của giai đoạn thứ nhất, nhưng cũng đã xuất
• Công ty NetNam – viện công ngh
ệ thông tin IOIT,
()
• Công ty điện tử Viễn thông quân đội Vietel
• Công ty Việt Khang
Ngoài ra, còn có 7 công ty đã được cấp phép từ đầu năm 2003 là công ty Viễn
thông Điện lực (ETC), công ty cổ phần công nghệ mạng (QTNet), công ty Hà nội
Telecom, công ty Điện tử hoá chất Quân đội (Elinco), công ty One Connection,
Công ty điện tử thông tin Sài Gòn (SEI) và công ty đầu tư phát triển công nghệ
(TDI) vẫn chưa khai triển dịch vụ.
Hiện nay thị phần cung cấp d
ịch vụ Internet ở Việt Nam vẫn thuộc về hai nhà cung
cấp chính là VDC và FPT, trong đó VDC chiếm khoảng 59.39% và FPT khoảng
29.34%. Phần còn lại thuộc về Netnam là 5.56% à SaiGonnet là 5.68%.
Cước truy cập Internet của Việt Nam (chưa bao gồm VAT)
59.39%
5.68%
29.34%
5.56%
VDC
Saigonnet
FPT
Netnam