Giải pháp trong việc thu hút và quản lý nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài FPI tại Việt Nam - Pdf 91

LỜI MỞ ĐẦU
Trên thế giới, nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài ngày càng giữ vai trò quan trong đối
với sự phát triển của mỗi quốc gia. Nguồn vốn này bao gồm đầu tư trực tiếp (FDI) và
đầu tư gián tiếp (FPI). Trong khi nguồn vốn FDI có vai trò trực tiếp thúc đẩy sản xuất,
thì FPI lại có tác động kích thích thịt trường tài chính phát triển theo hướng nâng cao
hiệu quả hoạt động, mở rộng quy mô và tăng tính minh bạch, tạo điều kiện cho doanh
nghiệp trong nước dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn mới; nâng cao vai trò quản lý nhà
nước và chất lượng quản trị doanh nghiệp, có tác động thúc đẩy mạnh mẽ các mối quan
hệ kinh tế.
Việt Nam là một nước có được một sự ưu đãi đặc biệt từ phía các nhà đầu tư nước
ngoài. Những năm vừa qua, Việt Nam đã và đang từng bước cải thiện vị trí của mình
trên bản đồ kinh tế khu vực và quốc tế. Trong giai đoạn sắp tới, là giai đoạn nước rút để
Việt Nam hoàn thành kế hoạch, đến năm 2020 sẽ cơ bản trở thành nước công nghiệp,
Việt Nam cần một lượng vốn lớn dành cho phát triển, vừa để phục hồi kinh tế trong giai
đoạn khủng hoảng vừa qua, vừa để dành cho những mục tiêu sắp tới. Do đó, nguồn vốn
FPI đóng vai trò rất quan trọng trong tiến trình phát triển của Việt Nam. Tuy nhiên, vốn
FPI cũng tiềm ẩn những rủi ro khôn lường. Đề án này được đưa ra hằm đánh giá thực
trạng việc thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian qua, từ
đó đưa ra những giải pháp và gợi ý chính sách phù hợp, từ đó cải thiện tình hình thu hút
vốn đầu tư gián tiếp trong thời gian tới.
1
I. Cơ sở lý luận chung
1. Đầu tư nước ngoài
1.1. Khái niệm đầu tư nước ngoài
Đầu tư nước ngoài là việc các nhà đầu tư (pháp nhân hoặc cá nhân) đưa
vốn hoặc bất kỳ hình thức giá trị nào khác vào nước tiếp nhận đầu tư để thực
hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận hoặc đạt các hiệu
quả xã hội. --> sự di chuyển vốn qua khỏi biên giới một quốc gia
1.2 Phân loại đầu tư nước ngoài
1.2.1. Đầu tư tư nhân
• Đầu tư trực tiếp :

lao động và kinh nghiệm quản lý. Một cách đơn giản hơn, FPI là đầu tư tài chính thuần
tùy trên thị trường tài chính.
2.2. Đặc điểm của đầu tư gián tiếp nước ngoài
2.2.1. Tính thanh khoản cao
Do mục đích của FPI là tỷ suất lợi tức cao với một mức độ rủi ro nhất định (hoặc tỷ
suất lợi tức nhất định với mức rủi ro thấp nhất) chứ không quan tâm đến quá trình sán
xuất kinh doanh giống như trong phương thức FDI, cho nên NĐT nước ngoài sẵn sàng
bán lại những chứng khoán mà họ đang nắm giữ để đầu tư sang thị trường khác hoặc
chứng khoán khác với tỷ suất lợi tức dự tính cao hơn, an toàn hơn. Tính thanh khoản
cao của FPI khiến cho hình thức đầu tư này trở thành khoản mục đầu tư ngắn hạn mặc
dù cố phiếu được coi là chứng khoán dài hạn và nhiều loại trái phiếu giao dịch trên
TTCK có thời gian đáo hạn dài hơn 1 năm.
2.2.2. Tính bất ổn định
Mục tiêu của các nhà đầu tư khi thực hiện đầu tư gián tiếp là tỷ suất lợi tức cao mà
không quan tâm đến quá trình kinh doanh sản xuất. Vì vậy, các nhà đầu tư luôn có xu
hướng thay đổi các chứng khoán hoặc tài sản mình đang sở hữu, nhằm tìm kiếm mức lợi
tức cao nhất họ có thể đạt được với độ rủi ro thấp nhất. Việc này dẫn tới tính mất ổn
định của dòng vốn FPI. Sự bất ổn định, trong một giới hạn nào đó có thể có lợi do nó
làm cho thị trường tài chính nội địa hoạt động năng động và hiệu quả hơn, vốn đầu tư
không ngừng được phân bổ lại, dịch chuyển từ nơi có tỷ suất lợi nhuận thấp sang nơi có
tỷ suất lợi nhuận cao. Tuy nhiên, nếu điều đó xảy ra với tốc độ quá nhanh, những ảnh
hưởng xấu đến hệ thống tài chính và dễ xảy ra tình trạng mất ổn định trong nền kinh tế,
3
đặc biệt là đối với những nước có thị trường tài chính mới hình thành, còn non kém,
chưa sẵn sàng với những biến đổi đột ngột và bất ngờ như thị trường tài chính Việt
Nam.
2.2.3. Tính dễ đảo ngược
Tính dễ đảo ngược của dòng vốn FPI thực sự gây tác động xấu đến nền kinh tế và
là hệ quả tất yếu của tính bất ổn định. Chỉ trong một thời gian ngắn, luồng vốn FPI có
thể chuyển sang một thị trường khác để lại hậu quả khôn lường cho nền kinh tế. Kinh

- Nước tiếp nhận đầu tư không có khả năng, cơ hội tiếp thu công nghệ, kỹ thuật máy
móc thiết bị hiện đại và kinh nghiệm quản lý vì kênh thu hút đầu tư loại này chỉ tiếp
nhận vốn bằng tiền.
- Lý do đầu tư chứng khoán nước ngoài: Cơ cấu tương quan quốc tế: thu nhập đầu tư
chứng khoán giữa các quốc gia ít tương quan với nhau như trong một quốc gia và phân
tán rủi ro
Tóm lại: Thu nhập, lợi nhuận trong hoạt đồng FPI khá ổn định và thấp hơn FDI, tuy vậy
nhà đầu tư vẫn chọn nó do độ tương quan quốc tế giữa các chứng khoán là rất thấp và
chu kì kinh doanh giữa các quốc gia thường không đồng bộ. Đối với nước tiếp nhận đầu
tư hình thức này có các ưu điểm sau: giúp cho thị trường chứng khoán, một công cụ tài
chính hiện đại hiện nay trên thế giới, sôi động và phát triển hơn, ít sợ bị phụ thuộc vào
mặt kinh tế vì các nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ một tỉ lệ nhỏ CK, chủ đầu tư không
có quyền kiểm soát doanh nghiệp nên sẽ không sợ bị nhà ĐTNN cạnh tranh và giành
độc quyền với nền kinh tế trong nước. Nhược điểm là độ ổn định không cao do nhà đầu
tư dễ dàng bán chứng khoán khi không muốn đầu tư nữa.
2.3. Các tác động của FPI đến nền kinh tế
2.3.1. Tác động tích cực
• Làm tăng tổng vốn đầu tư gián tiếp -------> gián tiếp làm tăng tổng vốn
đầu tư trực tiếp của xã hội.
Dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài khi đổ vào Việt Nam sẽ trực tiếp làm tăng
lượng vốn đầu tư gián tiếp trên thị trường vốn trong nước như một phép cộng đương
nhiên vào tổng số dòng vốn này. Hơn nữa, khi vốn đầu tư gián tiếp nước gia tăng sẽ làm
phát sinh hệ quả tích cực gia tăng dây chuyền đến dòng vốn đầu tư gián tiếp trong nước.
Nói cách khác, các nhà đầu tư trong nước sẽ “nhìn gương” các nhà đầu tư gián tiếp
nước ngoài và tăng động lực bỏ vốn đầu tư gián tiếp của mình, kết quả tổng đầu tư gián
5
tiếp xã hội sẽ tăng lên. Hơn nữa, khi dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài gia tăng sẽ là
một bảo đảm và tạo động lực mới hấp dẫn hơn cho các nhà đầu tư khác mạnh dạn thông
qua các quyết định đầu tư trực tiếp mới của mình, kết quả là gián tiếp góp phần làm tăng
đầu tư trực tiếp xã hội từ phía các nhà đầu tư cả nước ngoài, cũng như trong nước.

cậy, đang và sẽ có triển vọng, phát triển tốt trong tương lai. Chính điều này sẽ cho phép
quá trình “chọn lọc nhân tạo”, “bỏ phiếu” cho sự hỗ trợ và phát triển các doanh nghiệp
này trở nên khách quan và phù hợp cơ chế thị trường hơn (còn những doanh nghiệp
khác mà chứng khoán của họ không hấp dẫn sẽ phải điều chỉnh lại định hướng và chất
lượng quản trị kinh doanh, sáp nhập hoặc giải thể). Hệ thống luật pháp, cũng như các cơ
quan, bộ phận và cá nhân tỏng hệ thống quản lý nhà nước liên quan đến thị trường tài
chính, nhất là đến đầu tư gián tiếp nước ngoài sẽ phải được hoàn thiện, kiện toàn và
nâng cao năng lực hoạt động hơn theo yêu cầu, đặc điểm của thị trường này, cũng như
theo các cam kết hội nhập quốc tế. Đồng thời, thông qua tác động vào thị trường tài
chính, nhà nước sẽ đa dạng hoá các công cụ và thực hiện hiệu quả việc quản lý của
mình theo các mục tiêu lựa chọn thích hợp. Trên cơ sở đó, năng lực và hiệu quả quản lý
nhà nước đối với nền kinh tế nói chung, thị trường tài chính nói riêng sẽ được cải thiện
hơn.
2.3.2. Tác động tiêu cực
Bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, việc gia tăng thu hút vốn đầu tư gián tiếp
nước ngoài vào Việt Nam có thể gây ra một số tác động tiêu cực sau:
• Làm tăng mức độ nhạy cảm và bất ổn về kinh tế có nhân tố nước ngoài
Khác với FDI là nguồn vốn đầu tư lâu dài chủ yếu dưới dạng vật chất (xây dựng
nhà máy, mua sắm thiết bị, máy móc, nguyên vật liệu dùng cho sản xuất), khó chuyển
đổi hoặc thanh khoản, vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài được thực hiện dưới dạng đầu tư
tài chính thuần tuý với các chứng khoán có thể chuyển đổi và mang tính thanh khoản
cao trên thị trường tài chính, nên các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài dễ dàng và nhanh
chóng mở rộng hoặc thu hẹp, thậm chí đột ngột rút vốn đầu tư của mình về nước, hay
chuyển sang đầu tư dưới dạng khác, ở địa phương khác tuỳ theo kế hoạch và mục tiêu
kinh doanh của mình. Trong tình huống như vậy, một sự đổ vỡ, một cuộc khủng hoảng
đầu tư – tài chính - tiền tẹ, thậm chí là khủng hoảng kinh tế hết sức tệ hại và bất khả
kháng là hoàn toàn có thể xảy ra đối với nước tiếp nhận đầu tư, nếu không có và triển
khai tốt các phương án phòng ngừa hiệu quả.
7
• Gia tăng nguy cơ bị mua lại, sát nhập, khống chế và lũng đoạn tài chính

Đối tượng ĐT Cổ phiếu (Equity/Share): là chứng chỉ
sở hữu (certificate of ownership)
Trái phiếu(Bond): là chứng chỉ nợ
(debt certificate)
Quan hệ giữa nhà
đầu tư và DN phát
hành
Quan hệ sở hữu (chủ sở hữu và đối
tượng sở hữu)
Chủ đầu tư là cổ đông (share-
owner)/chủ sở hữu của công ty
Quan hệ tín dụng (chủ nợ và con
nợ-creditor &borrower)
Chủ đầu tư là trái chủ (bond-
bearer)/chủ nợ của công ty
Thu nhập mà DN
phát hành trả cho nhà
ĐT
- Cổ tức (Divident): là lợi nhuận công
ty đợc chia tương ứng với phần vốn
góp.
=>Thu nhập không cố định*
-Trái tức (Interest): là lãi tương
ứng với phần vốn cho vay.
=>Thu nhập cố định
So sánh giữa chi phí
và thu nhập mà DN
trả cho nhà ĐT (đối
với 1 chứng khoán)
-Chi phí: giá thị trường (market price)

• Quỹ tương hỗ
Là quỹ được điều hành bởi công ty đầu tư nhằm huy động vốn cổ đông và đầu tư
vào chứng khoán, trái phiếu, hợp đồng option, hàng hoá hay các chứng khoán trên thị
9
trường tiền tệ, thường phát hành chứng khoán quỹ để huy động vốn. Đây là một loại
chứng khoán tạo cơ hội cho các nhà đầu tư nhỏ có khả năng tiếp cận với một danh mục
đầu tư đa dạng và có một sự quản lý chuyên môn. Mỗi cổ đông đều có cơ hội được
hưởng lãi từ hoạt động đầu tư của quỹ nhưng đồng thời cũng phải chịu lỗ nếu như đầu
tư không thành công.
• Quỹ trợ cấp và hưu bổng
Được thành lập để tạo nguồn thu nhập cho những người về hưu và không còn khả
năng làm việc. Các quỹ này nhận tiền đóng góp của công nhân, chủ doanh nghiệp và sử
dụng nguồn ngân quỹ có được đầu tư vào cá loại trái phiếu chính phủ, trái phiếu kho
bạc, trái phiếu đô thị, đầu vào cổ phiếu, trái phiếu của doanh nghiệp. Các loại quỹ này
thường có quy mô nhỏ do đó việc đầu tư bị hạn chế.
• Công ty bảo hiểm
Gồm bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ (bảo hiểm trách nhiệm và tài
sản). Các công ty bảo hiểm có ưu điểm nổi bật là có tiềm lực tài chính mạnh nên khả
năng đầu tư lớn nhưng lại có rủi ro cao, do đặc tính của ngành.
• Các tổ chức tài chính (Insurance Firm)
Các tổ chức hoặc các tập đoàn kinh tế lớn khi muốn đầu tư vào thị trường nước
ngoài thường thiết lập các quỹ đầu tư trên thị trường đó. Đầu tư dưới hình thức hỗ trợ
kỹ thuật, mua cổ phần hoặc huy động vốn. Các quỹ này không trực tiếp tham gia vào
việc điều hành và quản lý doanh nghiệp mà chỉ thông qua việc hỗ trợ và tư vấn kỹ thuật.
Việc cấp vốn được thực hiện thông qua các trung gian tài chính là ngân hàng. Loại quỹ
này có tiềm lực tài chính mạnh, quay vòng vốn nhanh nên khả năng đầu tư vào thị
trường cao. Tuy nhiên để tiếp cận được nguồn vốn này thì các doanh nghiệp phải đáp
ứng các nhu cầu khắt khe hơn từ phía nhà đầu tư.
• Quỹ đầu tư mạo hiểm (Financial Corporation)
Đầu tư mạo hiểm là việc các chuyên gia đầu tư tiến hành bỏ vốn vào các công ty

trong đó có các tổ chức cung cấp dịch vụ tư vẫn và dịch vụ định mức hệ số tín
nhiệm của doanh nghiệp và chứng khoán do doanh nghiệp phát hành.
Dòng FPI tỷ lệ thuận theo cấp số nhân cũng với sự gia tăng quá trình cổ phần hóa
các doanh nghiệp, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
đang hoạt động hiệu quả ở trong nước, cùng với việc mở rộng tỷ lệ nắm giữ cổ phần của
các nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp.
11
2.6. So sánh FPI và FDI
Theo Luật đầu tư 2005, “đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là việc nhà đầu tư nước
ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bằng bất kỳ tài sản nào để tiến hành các
hoạt động đầu tư theo quy định”.
Từ đó, ta có thể rút ra những điểm giống và khác nhau của FPI và FDI như sau:
2.6.1. Giống nhau
Cả FPI và FDI đều đơn thuần là hoạt động đầu tư vốn ra nước ngoài, luồng vốn
được luân chuyển từ nước của người đầu tư sang nước sử dụng vốn đầu tư, và làm tăng
lượng vốn và dự trữ ngoại tệ cho nước chủ nhà. FDI và FPI xuất hiện do nhu cầu hội
nhập kinh tế quốc tế.
Bên cạnh đó, cả hai hình thức này đều nhằm mục đích tạo lợi nhuận cho nhà đầu
tư. Để tạo ra lợi ích tốt nhất cho mình, nhà đầu tư có thể chọn cho mình cách thức đầu
tư phù hợp nhất, hoặc kết hợp cả hai hình thức trên. Lợi nhuận của nhà đầu tư phụ thuộc
vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và tỷ lệ thuận với số vốn đầu tư. Do đó, tình
hình hoạt động của doanh nghiệp là mối quan tâm chung của cả hai hoạt động đầu tư
này.
Do đều là hoạt động đầu tư quốc tế nên FDI và FPI chịu sự điều chỉnh của nhiều
luật lệ khác nhau. Mặc dù các hoạt động này chịu ảnh hưởng lớn từ luật pháp nước tiếp
nhận đầu tư, nhưng trên thực tế vẫn bị điều chỉnh bởi các điều ước, thông lệ quốc tế và
luật của bên tham gia đầu tư. Do đó, để tạo một môi trường đầu tư lành mạnh, tránh
những xung đột và tranh chấp không đáng có, trong quá trình hội nhập và phát triển, các
nước nên có sự điều chỉnh luật lệ của mình gần và phù hợp với các điều ước, luật lệ
quốc tế.

tế. Trong khi đó, FPI chỉ đơn thuần là luân chuyển vốn từ nước đầu tư sang nước tiếp
nhận đầu tư.
Cuối cùng, để thực hiện được FPI, cần có một hệ thống tài chính hoạt động hiệu
quả. Trong khi đó, các nước kém phát triển lại có hệ thống tài chính yếu, nên FPI có xu
hướng luân chuyển giữa các nước phát triển với nhau, hoặc giữa nước đang phát triển
sang nước phát triển, hơn là luân chuyển sang các nước đang phát triển. Trái lại, FDI có
xu hướng chuyển từ nước phát triển sang các nước đang phát triển nhằm tìm kiếm thị
trường, nguồn nhân công rẻ và lợi nhuận cao.
II. Thực trạng đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status