Tài liệu Đề tài: “Xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên đất phục vụ công tác quản lý đất đai huyện Tam Nông - tỉnh Phú Thọ”. - Pdf 92

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
“Xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên đất
phục vụ công tác quản lý đất đai
huyện Tam Nông - tỉnh Phú Thọ”.
1
Mục lục
ĐẶT VẤN ĐỀ......................................................................................................3
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI....................................................................3
2. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI.................................5
PHẦN THỨ NHẤT
TỔNG QUAN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU...................................................6
1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI........................................................6
2. TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ DỮ LIỆU TÀI NGUYÊN ĐẤT..........................11
3. HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ (GEOGRAPHICAL INFORMATION
SYSTEM (GIS)...................................................................................................12
4. MÔ HÌNH CƠ SỞ DỮ LIỆU CỦA HỆ THỐNG THÔNG TIN TÀI
NGUYÊN ĐẤT..................................................................................................19
5. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH ỨNG DỤNG GIS TRONG XÂY DỰNG
CƠ SỞ DỮ LIỆU TÀI NGUYÊN ĐẤT.............................................................22
PHẦN THỨ HAI
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...........................................26
1. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU...........................................................................26
PHẦN THỨ BA
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.................................................................................28
1. KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI....................................28
2. thùc tr¹ng ph¸t triÓn kinh tÕ-x· héi ...............................................................32
2. HIỆN TRẠNG TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT CỦA HUYỆN
TAM NÔNG.......................................................................................................34
3. XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU TÀI NGUYÊN ĐẤT..................................39

nguyên đất đai. Theo BINNS “Hiểu biết đúng đắn các nguồn tài nguyên thiên
3
nhiên cùng với sự mô tả và ghi chép chính xác các tri thức đó là yếu tố cần thiết
trước tiên đối với việc sử dụng hợp lý và bảo tồn chúng một cách tốt nhất (Land
Information Management)”.
Nước ta, hiện nay đang trong công cuộc đổi mới chúng ta tiến hành công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, nền kinh tế chuyển sang nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần phát triển theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước
kéo theo nhu cầu đất đai của các ngành ngày càng tăng lên một cách nhanh
chóng, bên cạnh đó tình hình sử dụng đất của các địa phương trong cả nước
cũng ngày một đa dạng và phức tạp. Vậy nên ngành quản lý đất đai buộc phải
có những thông tin, dữ liệu về tài nguyên đất một cách chính xác đầy đủ cùng
với sự tổ chức sắp xếp và quản lý một cách khoa học chặt chẽ thì mới có thể sử
dụng chúng một cách hiệu quả cho nhiều mục đích khác nhau phục vụ việc khai
thác, quản lý và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất gắn liền với quan điểm
sinh thái bền vững và bảo vệ môi trường.
Huyện Tam Nông – tỉnh Phú Thọ cũng giống như các huyện khác nằm
trong tình hình chung của cả nước, hiện nay các số liệu điều tra cơ bản, các loại
bản đồ, sổ sách, … liên quan đến tài nguyên đất còn chưa được thống nhất, lưu
trữ kồng kềnh, tra cứu thông tin khó khăn, … làm cho công tác quản lý đất đai
của huyện gặp nhiều vướng mắc và ít có hiệu quả. Xây dựng cơ sở dữ liệu tài
nguyên đất trên cơ sở cập nhật và đồng bộ hoá các thông tin về hệ quy chiếu, hệ
toạ độ, độ cao, các thông tin về hệ thống bản đồ, thông tin về ranh giới, địa giới
hành chính, thông tin về mô hình độ cao, địa hình, thông tin về các loại đất theo
hiện trạng sử dụng, thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thông tin về
chủ sử dụng và các thông tin về những cơ sở dữ liệu liên quan đến tài nguyên
đất. Từ đó cho thông tin đầu ra phục vụ yêu cầu quản lý của chính quyền trung
ương, địa phương, của Ngành, và các ngành khác đồng thời phục vụ thông tin
đất đai cho nhu cầu sinh hoạt của người dân. Điều này nó có ý nghĩa rất lớn khi
mà hiện nay công tác quản lý về đất đai đang là vấn đề thời sự thu hút sự quan

PHẦN THỨ NHẤT
TỔNG QUAN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Thuật ngữ “Quản lý” có nhiều nghĩa khác nhau nó là đối tượng nghiên cứu
của nhiều ngành khoa học tự nhiên và xã hội vì vậy mỗi ngành khoa học đều có định
nghĩa riêng về thuật ngữ “Quản lý”, nhưng xét về quan niệm chung nhất thì: “Quản
lý chính là sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hoá
và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định”.
Quản lý nhà nước về đất đai là tổng thể các hoạt động có tổ chức bằng quyền
lực nhà nước thông qua các phương pháp và công cụ thích hợp để tác động đến
quá trình khai thác sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả nhằm phục
vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước qua các thời kỳ. Quản lý đất
đai bằng quyền lực của nhà nước được thực hiện thông qua các phương pháp và
công cụ quản lý: Phương pháp hành chính; phương pháp kinh tế; thông qua quy
hoạch, kế hoạch trên cơ sở luật pháp.
1.1. Sơ lược về quản lý nhà nước về đất đai của nước ta qua các thời kỳ
1.1.1. Thời kỳ phong kiến và thực dân phong kiến
1.1.1.1. Thời kỳ phong kiến dân tộc (từ năm 938 đến năm 1858)
Từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ XV là thời kỳ hình thành và phát triển cực
thịnh của nhà nước phong kiến Việt Nam, ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước
chiếm đại bộ phận bao gồm ruộng làng, xã, ruộng quốc khố và ruộng phong
cấp. Chính vì thế dân ta có câu: “Đất vua, chùa làng”.
Ở nước ta, công tác đạc điền và quản lý điền địa có lịch sử lâu đời, để lắm
vững và quản lý đất đai nhà nước phong kiến đã lập ra hồ sơ quản lý đất đai
như: Sổ địa bạ thời Gia Long, sổ địa bộ thời Minh Mạng.
6
1.1.1.2. Thời kỳ thực dân phong kiến
Do chính sách cai trị của thực dân pháp, trên lãnh thổ Việt Nam tồn tại nhiều
chế độ quản lý điền địa khác nhau:
- Chế độ quản lý thủ điền thổ tại Nam kỳ

- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các chế độ thể lệ về quản lý sử dụng
đất
- Giải quyết các tranh chấp về đất
- Quy định các chế độ, thể lệ quản lý việc sử dụng đất và tổ chức việc
thực hiện các chế độ, thể lệ ấy.
1.1.2.2. Từ năm 1988 đến nay
- Luật đất đai năm 1988: Nội dung của Luật gồm 6 chương 57 điều, được
Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 22 tháng 12 năm 1987 và
được chủ tịch HĐBT công bố ngày 08 tháng 01 năm 1988. Đây là bộ luật đầu
tiên của Nhà nước ta quy định quyền sở hữu đất đai của Nhà nước và quyền lợi,
nghĩa vụ của người sử dụng đất. Luật quy định Nhà nước giao đất cho các tổ
chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng ổn định lâu dài có thời hạn và tạm thời người
sử dụng đất hợp pháp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quy
định: Chế độ quản lý sử dụng các loại đất (5 loại đất: đất nông nghiệp, đất lâm
nghiệp, đất khu dân cư, đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng) lập bản đồ địa
chính, lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất.
- Luật đất đai 1993: Nội dung của gồm Luật 7 chương 89 điều, được quốc
hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 14 tháng 07 năm 1993. Trong
quá trình thi hành Luật đất đai 1998 đã bộc lộ nhiều điều không phù hợp, Luật
đất đai 1993 ra đời thay thế luật đất đai 1988. Luật đất đai 1993 khẳng định lại
8
quyền sở hữu đất đai đồng thời quy định rõ nội dung quản lý nhà nước về đất
đai (7 nội dung). Phân định rõ đất đai thành 6 loại (đất nông nghiệp, đất lâm
nghiệp, đất đô thị, đất khu dân cư nông thôn, đất chuyên dùng và đất chưa sử
dụng). Luật quy định quyền của UBND các cấp trong việc giao đất, cho thuê
đất, thu hồi đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền của Chính
phủ trong việc giao đất theo hạng mức đất và loại đất.
- Luật đất đai 2003: Nội dung của luật gồm 7 chương 146 điều được nước
CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003, có hiệu lực từ ngày

đ) Quản lý việc giao, đất cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử
dụng đất;
e) Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất;
f) Thống kê, kiểm kê đất đai;
g) Quản lý tài chính về đất đai;
h) Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường
bất động sản;
i) Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng
đất;
j) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất
đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai;
k) Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi
phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai;
l) Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai.
3. Nhà nước có chính sách đầu tư cho việc thực hiện các nhiệm vụ
quản lý nhà nước về đất đai, xây dựng hệ thống quản lý đất đai hiện đại, đủ
năng lực, đảm bảo quản lý đất đai có hiệu lực và hiệu quả.
10
2. TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ DỮ LIỆU TÀI NGUYÊN ĐẤT
Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia là một trong các thành phần nền tảng của
kết cấu hạ tầng về thông tin nó bao gồm các cơ sở dữ liệu (CSDL) chuyên ngành
để tạo thành một hệ thống cơ sở thống nhất bao gồm các thành phần: cơ sở dữ
liệu về chính trị (chính sách, pháp luật, tổ chức cán bộ); cơ sở dữ liệu về kinh tế
(nguồn lực - tài nguyên thiên nhiên, đất đai, lao động, vốn, quy hoạch, kế hoạch
phát triển kinh tế, kết quả hoạt động của các ngành kinh tế - nông nghiệp, công
nghiệp, dịch vụ); cơ sở dữ liệu xã hội (dân số, lao động văn hoá, giáo dục, y tế,
thể thao); cơ sở dữ liệu về tài nguyên đất (CSDLTNĐ) là một thành phần không
thể thiếu được của cơ sở dữ liệu quốc gia.
Cơ sở dữ liệu tài nguyên đất bao gồm toàn bộ thông tin về tài nguyên đất đai

chức dữ liệu), chuẩn hoá hệ quy chiếu, toạ độ, địa giới, địa danh); chuẩn hóa hệ
thống bản đồ, …
3. HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ (GEOGRAPHICAL
INFORMATION SYSTEM (GIS)
Ở bất kỳ một ngành khoa học kỹ thuật hay kinh tế chúng ta đều có thể bắt
gặp các Hệ thống thông tin và các phương pháp xử lý thông tin khác nhau tuỳ
theo từng lĩnh vực (hệ thống thông tin ngân hàng, hệ thống thông tin nhân sự…)
cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, các thông tin hiện nay đã đáp
ứng và giải quyết được những bài toán rất lớn mà thực tế đặt ra.
Trong lĩnh vực hoạt động của xã hội, thông tin là mạch máu chính của các công
cụ quản lý: Quản lý xã hội nói chung và quản lý đất đai nói riêng, dù sử dụng
công cụ nào thô sơ hay hiện đại đều là thu thập và xử lý thông tin. Thông tin đất
12
là tất cả các thông tin liên quan đến đất đai, thông tin đất đai thường được thể
hiện bằng Hệ thống thông tin Địa lý, Hệ thống thông tin đất. Hai vấn đề này là
cơ sở chính của hệ thống thông tin định hướng theo từng ô thửa và các hoạt
động của nó.
3.1. Khái niệm về Hệ thống thông tin địa lý
Có nhiều cách định nghĩa về Hệ thống thông tin địa lý:
Định nghĩa theo chức năng: GIS là một hệ thống bao gồm 4 hệ con: Dữ
liệu vào, quản trị dữ liệu, phân tích dữ liệu và dữ liệu ra.
Định nghĩa theo khối công cụ: GIS là tập hợp phức tạp của các thuật toán.
Định nghĩa theo mô hình dữ liệu: GIS gồm các cấu trúc dữ liệu được sử
dụng trong các hệ thống khác nhau (cấu trúc dạng Raster và Vecter).
Định nghĩa về mặt công nghệ: GIS là công nghệ thông tin để lưu trữ, phân
tích và trình bày các thông tin không gian và thông tin phi không gian, công
nghệ GIS có thể nói là tập hợp hoàn chỉnh các phương pháp và các phương tiện
nhằm sử dụng và lưu trữ các đối tượng.
Định nghĩa theo sự trợ giúp và ra quyết định: GIS có thể coi là một hệ
thống trợ giúp việc ra quyết định, tích hợp các số liệu không gian trong một cơ

trong việc điều khiển hệ thống và phát triển các ứng dụng.
- Phương pháp: phương pháp phụ thuộc vào ý tưởng của các xây dựng hệ thống,
sự thành công của một hệ GIS phụ thuộc vào phương pháp được sử dụng để
thiết kế hệ thống.
3.3. Giới thiệu một số phần mềm GIS
3.3.1. Phần mềm Microstation GeoGraphics
Microstation GeoGraphic là một phần mềm hệ thống thông tin địa lý, với
đầy đủ tính năng thu nhận dữ liệu, quản lý, phân tích, tìm kiếm và hiển thị, …các dữ liệu
không gian và các dữ liệu thuộc tính có liên quan trong một dự án GIS. Hơn nữa
14
Microstation GeoGraphics còn cung cấp bộ công cụ quản lý các thông tin địa lý ở những
dạng dữ liệu khác nhau như Raster, Vector, hay dạng bảng. MicroStation Geographics bao
gồm các chức năng chính sau đây:
15
- Thiết kế các đối tượng cơ sở (Feature-base Design)
- Xây dựng các đối tượng hình học (Geometry Clean up and Validation)
- Tạo lập Topology và phân tích dữ liệu không gian (Topology and Spatial
Analysis)
- Cung cấp công cụ quản lý cơ sở dữ liệu (Database Tools)
- Thành lập bản đồ chuyên đề và các chú giải (Thematic Mapping and
Annotation)
- Quản lý bản đồ (Mapnagement)
- Tương thích với hệ Module GIS Environment (MGE compatibility)
Với ngôn ngữ phát triển MDL (MicroStation Development Language),
Microstation Geographics còn cung cấp cho những nhà phát triển phần mềm
và người sử dụng các công cụ mềm dẻo trong việc mở rộng các chức năng của
GIS.
MicroStation Geographics Projects
MicroStation Geographics tổ chức cơ sở dữ liệu bản đồ trong các dự án
(Projects). Dự án là sự lựa chọn các đối tượng đặc trưng (Features), nhóm loại

như trong các ngành khác để xây dựng hệ quản trị cơ sở dữ liệu bản đồ, thành
lập loại bản đồ chuyên đề, quy hoạch tối ưu các bài toán phục vụ nhiều mục
đích khác nhau. ArcInfor là phần mềm GIS đầu tiên được hãng RSRI xây dựng
trên hệ điều hành UNIX cho các máy lớn (Workstation), khả năng xử lý đồ hoạ
của ArcInfor mang tính chất tự động rất cao cùng với tốc độ và tốc độ chính xác
cho thành lập bản đồ số trên máy tính. Với chức năng phân tích dữ liệu như:
Overlay, Network, … tạo lên sức mạnh trong khai thác dữ liệu địa lý trên cơ sở
các phép toán không gian cũng như khả năng mô hình hoá các đối tượng địa lý.
Theo quan điểm của GIS thì ArcInfor có ba chức năng: xây dựng cơ sở dữ liệu
17
địa lý, phân tích và trình bày dữ liệu địa lý. Ở Nước ta, ArcInfor không chỉ ứng dụng
để xây dựng bản đồ mà được ưa chuộng áp dụng trong các ngành như: Địa chất, Địa
chính, Nông nghiệp, Quy hoạch đô thị, …
MapInfo là một công cụ rất quan trọng trong việc xây dựng, quản lý, cập
nhật, xử lý, phân tích và mô hình hoá các đối tượng địa lý, MapInfo tổ chức,
quản lý cơ sở dữ liệu theo các lớp đối tượng địa lý trên máy tính bởi các File dữ
liệu với các phần mở rộng như sau:
[*.Tab]: Chứa các thông tin mô tả cấu trúc dữ liệu
[*.Dat]: Chứa các thông tin nguyên thuỷ
[*.Map]: Chứa các thông tin mô tả đối tượng không gian
[*.ID]: Chứa các thông tin về chỉ số liên kết không gian và thuộc tính
[*.Ind]: Chứa các thông tin về chỉ số đối tượng.
3.3.3. Phần mềm ArcView
ARCVIEW là phần mềm hệ GIS cũng giống như ArcInfo và MapInfo, nó
có chức năng như:
- Thành lập mới hoặc xử lý, xây dựng thêm dữ liệu không gian có sẵn; Tìm
kiếm thuộc tính của đối tượng trên cửa sổ (View); Biên tập đồ thị để thể hiện
thuộc tính của các đối tượng, tổng hợp lại các thuộc tính của đối tượng; Xử lý,
biên tập trong trang in (Layout) theo ý muốn và in ra giấy.
- Hiển thị dữ liệu bản đồ trên cửa sổ (View) và cùng lúc hiển thị kiểu bảng của

Sau khi đã nạp các thông tin đầu vào các phương tiện lưu trữ dữ liệu,
chúng ta cần tổ chức các dữ liệu theo một cấu trúc thống nhất. Mục tiêu của
19
công việc này là để bảo vệ thông tin, dễ tìm thông tin, dễ loại bỏ những thông
tin cũ và dễ bổ xung những thông tin mới.
Quản trị cơ sở dữ liệu là hoạt động của con người có sự trợ giúp của các
phần mềm để hình thành một cấu trúc hợp lý các dữ liệu đang được lưu trữ đang
được lưu trữ, cấu trúc này phải đảm bảo các điều kiện:
- Lượng thông tin dư thừa là tối thiểu
- Mối quan hệ giữa các dữ liệu là thống nhất
- Dễ dàng tác động vào dữ liệu để thực hiện công việc quản trị dữ liệu như
tìm kiếm theo yêu cầu, cập nhật dữ liệu, giải các bài toán ứng dụng phổ biến,
hiển thị dữ liệu theo yêu cầu của người dùng.
Phần cơ sở dữ liệu chung là phần được quản lý riêng biệt, có những mục
tiêu riêng tạo cơ sở cho cả phần dữ liệu bản đồ và dữ liệu thuộc tính, phần này
bao gồm hệ quy chiếu, hệ toạ độ - độ cao, hệ thống ảnh phủ trùm, hệ thống biên
giới và địa giới, các dữ liệu thuyết minh về dữ liệu khác có liên quan.
Để quản lý các dữ liệu người ta phải dùng một hệ thống phần mềm phù
hợp đủ sức để quản lý khối lượng dữ liệu đã được lưu trữ. Điều cần quan tâm
đặc biệt là giải pháp là đảm bảo an toàn dữ liệu trong cơ sở dữ liệu trong cơ sở
dữ liệu. Cập nhật dữ liệu là hoạt động thường xuyên của cơ sở dữ liệu, đặc biệt
là dữ liệu đất đai. Tiếp nhận các thông tin về biến động đất đai người quản lý dữ
liệu cần tìm kiếm thông tin để loại bỏ những thông tin cũ, đưa vào các thông tin
mới hoặc biến đổi các thông tin cũ theo một số biến động mới. Trong CSDL về
tài nguyên đất còn phải lưu ý tới định hướng xây dựng một cơ sở dữ liệu động,
biến đổi theo thời gian để phân tích các hiện tượng tự nhiên cũng như kinh tế -
xã hội.
Việc lựa chọn một hệ thống phần mềm ứng dụng để phân tích và tổng hợp
dữ liệu của hệ thống thông tin tài nguyên đất đóng vai trò hết sức quan trọng. Vì
ngoài chức năng quản lý CSDL nói trên, phần mềm này cần có chức năng xây

- Tính toán thống kê khoảng cách, mô hình hoá và kết hợp với các hệ chuyên
gia
- Xác định chọn lọc vùng theo một tiêu chuẩn bất kỳ.
5. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH ỨNG DỤNG GIS TRONG
XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU TÀI NGUYÊN ĐẤT
5.1. Tình hình ứng dụng trên thế giới
Năm 1964 Canada đã xây dựng Hệ thống thông tin địa lý đầu tiên trên thế
giới có tên gọi là Canadian Geographical Information System. Song song với
Canada, tại Mỹ hàng loạt các trường đại học cũng tiến hành nghiên cứu và xây
dựng các Hệ thống thông tin địa lý. Tuy nhiên rất nhiều hệ thống trong số đó đã
không tồn tại được bao lâu do khâu thiết kế cồng kềnh và giá thành quá cao.
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu ở giai đoạn này đã đưa ra những lý luận nhận
định quan trọng về vai trò, chức năng của Hệ thống thông tin địa lý: Hàng loạt
loại bản đồ có thể được số hoá và liên kết với nhau tạo ra một bức tranh tổng thể
về tài nguyên thiên nhiên của một khu vực, một quốc gia hay một châu lục. Sau
đó máy tính được xử dụng để phân tích các đặc trưng của nguồn tài nguyên đó
và cung cấp các thông tin bổ ích, kịp thời cho việc quy hoạch.
Trong những năm 70 – 80, đứng trước sự gia tăng nhu cầu quản lý nguồn
tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, nhiều quốc gia và các tổ chức
quốc tế đã quan tâm nhiều hơn đến sự nghiên cứu và phát triển của hệ thống
thông tin địa lý. Cũng trong khung cảnh đó, có hàng loạt các yếu tố đã thay đổi
một cách thuận lợi cho sự phát triển của Hệ thống thông tin địa lý. Các hệ ứng
dụng GIS trong lĩnh vực quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường phát triển
mạnh trong thời gian này, điển hình như các hệ LIS (Land Information System),
22
LRIS (Land Resource Information System), ILWIS (Integrated Land and Water
Information System), … và hàng loạt các sản phẩm thương mại của các hãng,
các tổ chức nghiên cứu phát triển ứng dụng GIS như ESRI, Computerversion,
Intergraph, …
Trên thế giới cũng như trong khu vực hiện nay, đã xuất hiện nhiều nhu cầu

rừng), công tác điều tra đánh giá và quy hoạch đất nông nghiệp của viện quy
hoạch, thiết kế nông nghiệp, …
Năm 1998 Tổng cục địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã xây
dựng dự án khả thi xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về tài nguyên đất (bao gồm cơ
sở dữ liệu địa lý và cơ sở dữ liệu đất đai), mục tiêu của dự án: Nghiên cứu phân
tích thiết kế tổng thể hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về tài nguyên đất và kế hoạch
triển khai dài hạn. Theo dự án, trong giai đoạn 2000 – 2010 sẽ tập trung xây dựng
cơ sở hạ tầng thông tin cho cơ sở dữ liệu tài nguyên đất ở trung ương và các tỉnh
bao gồm: Đầu tư từng bước phần cứng phần mềm, đường truyền cho cơ sở dữ liệu
thành phần; đào tạo cán bộ tin học; xây dựng chuẩn thông tin thống nhất; xây dựng
cơ sở dữ liệu thông tin bao gồm hệ quy chiếu, hệ toạ độ - độ cao nhà nước, hệ
thống địa danh, địa giới hành chính, xây dựng thông tin bản đồ nền địa hình các tỷ
lệ 1/50.000, 1/100.000 phủ trùm cả nước và tỷ lệ 1/25.000, 1/10.000 các vùng kinh
tế trọng điểm; Xây dựng thông tin bản đồ nền địa hình đáy biển các tỷ lệ từ
1/10.000 đến 1/1000.000; bản đồ nền địa lý các tỷ lệ nhỏ hơn 1/1000.000 cả nước;
xây dựng thông tin không gian có liên quan khác như bản đồ ảnh hàng không, vũ
trụ, các loại bản đồ địa lý khác; xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin đất đai đến từng
thửa đất ở cấp tỉnh, xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin hiện trạng sử dụng đất, chất
lượng đất, giá đất, quy hoạch sử dụng đất; xây dựng các phần mềm ứng dụng để
khai thác thông tin.
24
Theo đề án trên, được sự thoả thuận chấp nhận của Bộ Kế hoạch và đầu
tư, tại quyết định 448/QĐ – TCĐC ngày 14/10 năm 2002 Tổng cục trưởng cục
Địa chính phê duyệt quyết định đầu tư đề án tổng thể đầu tư thiết bị, công nghệ
phục vụ hiện đại hoá hệ thống thông tin – lưu trữ ngành địa chính.
Sau khi Bộ Tài nguyên và Môi trương được thành lập, đề án trên được
điều chỉnh bổ sung theo hướng mở rộng cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường
theo các lĩnh vực thuộc Bộ quản lý để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về Tài
nguyên và Môi trường.
Đến ngày 31/12/2004 đã có 6 dự án đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status