Cơ cấu xã hội- giai cấp, đặc điểm xu hướng biến đổi của cơ cấu XH
giai cấp trong thời ký quá độ. Chính sách đối với giai tầng hiện nay.
XH mà chúng ta đang sống là tổng thể cộng đồng, tổng hợp
những thành viên tồn tại và sinh hoạt trong 1 lĩnh vực XH nhất định.
Cơ cấu XH là tất cả những cộng đồng người và toàn bộ các quan
hệ XH do sự tác động lẫn nhau của các cộng đồng ấy tạo nên.
Cơ cầu XHGC là hệ thống các giai cấp và tầng lớp XH tốn tại
khách quan, hoạt động hợp pháp trong chế độ XH nhất định, chủ yếu là
thống qua những mối quan hệ nhất định, chủ yếu là thống qua những
MQH về sở hữu TLSX, về quản lý, về phân phối, về địa vị chính trị
xãhội …giữa các giai cấp và tầng lớp đó.
Đặc điểm của cơ cấu XH giai cấp là đấu tranh giai cấp nếu thắng
lợi về phía gc vô sản thì tạo ra cơ cấu XH giai cấp tiến bộ, ngược lại nếu
thắng lợi về phía gc tư sản thì cơ cấu Xh giai cấp sẽ trở trên phức tạp. Vì
vậy, phục vụ đấu tranh giai cấp phải liên minh giai cấp. Các giai tầng
XH sẽ xích lại gần nhau trong quan hệ đối với TLSX và phân phối sp.
Các giai tầng Xh xích lại gần nhau trong quan hệ tích chất lao động và
mức độ hưởng thụ. Mác nói: lao động phức tạp là bội số của lao động
giản đơn. Các giai tầng XH sẽ xích lại gần nhau trong việc hưởng thụ và
sáng tạo ra những giá trị tinh thần, khoa học...
Đặc điểm xu hướng biến đổi của cơ cấu XH-GC trong thời kỳ
quá độ:
- Xu hướng xích lại gần nhau giữa các g/c, tầng lớp trong XH về
quan hệ với TLSX. Xu hướng này diễn ra do trong thời kỳ quá độ vẫn
còn tồn tịa các thành phần kinh tế dựa trên các hình thức sở hữu khác
nhau.
- Xu hướng xích lại gần nhau về tính chất lao động. Xu hướng
này thể hiện thông qua cuộc cm KH-CN, áp dụng những thành tựu mới
vào quá trinhd phát triển LLSX. Cũng từ đó xu hướng quốc tế hoá ngày
càng đựoc thể hiện rõ nét thông qua việc giao lưu kinh tếvà mở rộng
quan hệ kinh tế đối ngoại.
cách là những nhân tố chủ quan mạnh nhất, tác động chi phốiđến sự biến
đổi cơ cấu XH giai cấp, phát triển theo tính chất XHCN thống qua chính
sách KT phù hợp với điềukiện XH lịch sử.
- Quá trình biến đổi cơ cầu XH g/c cũ sang cơ cấu XH g/c mới là
một quá trình liên tục trong suốt thời kỳ quá độ. Quá trình biến đổi này
ngày càng đa dạng, phức tạp, với nhiều thành phần kinh tế trong XH
nhưng sẽdần ổn định khi nền kinh tế ổn định, lực lượng SX đã pát triển
và quá trình CNH-HĐH triển khai có kết quả.
- Cơ cầu XH g/c biến động và phát triển trong MQH vừa có mâu
thuẫn, vừa liên minh tiến tới từng bước xoá bỏ hiện tượng bất bình đẳng
trong Xh sẽ đưa đến sự xích lại gần nhau giữa các giai cấp, tầng lớp cơ
bản trong XH, đặc biệt giữacông nông và trí thức. Mức độ củaquá trình
này tuỳ thuộc vào điều kiện KT-XH của đất nước trong từng giai đoạn
của thời kỳ quá độ.
1
- Xu hướng phát triển của cơ cầu XH g/c của nước ta phản ánh
tính đa dạng và tính thống nhất của cơ cấu XHVN trong thời kỳ quá độ
lên CNXH.
= Tính đa dạng thể hiện không những ở sự tồn tại của các g/c,
tầng lớp, các nhóm XH khác nhau trong ĐK KT nhiều thành phần mà
còn thể hiện cả trong kết cấu đa dạng của từng giai cấp, tầng lớp, nhóm
trong XH.
= Tính thống nhất xã hội thể hiện thông suqa xu hướng phát
triển về số lượng, chất lượng và cơ cấu của giai cấp công nhân - lực
lượng tiêu biểu cho phương thức sản xuất mới, giữ vai trò chủ đạo trong
quá trình cải biến xã hội. Tính thống nhất ấy còn thể hiện thông qua sự
liên minh công nhân, nông dân, trí thức - nền tảng chính trị xãhội nước ta
trong thời kỳ quá độ, thông qua nhiệm vụ chung có tính chất chiến lược
của các cộng đồng xã hội ở nước ta là sự nghiệp XD và BVTQ
VNXHCN.
giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn liền với xây dựng Đảng trong
sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, xây dựng tổ chức
công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức
chính trị - xã hội khác trong giai cấp công nhân vững mạnh.
Giải pháp:
1- Tiếp tục nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về
giai cấp công nhân trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập
kinh tế quốc tế
2- Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng đào tạo nghề, từng bước trí
thức hoá giai cấp công
3- Quan tâm bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, ý thức giai
cấp, tinh thần dân tộc cho giai cho công nhân, bảo quyền, lợi ích hợp
pháp, chính đáng của công nhân; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần
4- Bổ sung, sửa đổi, xây dựng và thực hiện nghiêm hệ thống
chính sách, pháp luật để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng
của công nhân; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân
5. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của tổ
chức công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội khác trong xây dựng
giai cấp công nhân
Đối với đội ngũ trí thức:
Quan điểm:
1- Trí thức Việt Nam là lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt
quan trọng trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước và hội nhập quốc tế, xây dựng kinh tế tri thức, phát triển nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Xây dựng đội ngũ trí
thức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của
đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Ðảng và chất lượng hoạt động
của hệ thống chính trị. Ðầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là đầu tư cho
phát triển bền vững.
bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Giữ gìn và phát huy
những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những
người có công với Tổ quốc, với nhân dân. Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử
với công dân vì lý do tín ngưỡng tôn giáo. Nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng,
tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật, kích động
chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia.
3. Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động
quần chúng. Lấy mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh là điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp
chung. Mọi công dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có quyền và
nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác vận động quần chúng các
tôn giáo phải động viên đồng bào nêu cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ
độc lập và thống nhất của Tổ quốc thông qua việc thực hiện tốt các chính
sách KT-XH, an ninh quốc phòng, bảo đảm lợi ích vật chất và tinh thần của
nhân dân nói chung, trong đó có đồng bào tôn giáo.
4. Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Tổ
chức bộ máy và đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tôn giáo có trách
nhiệm trực tiếp, cần được củng cố và kiện toàn. Công tác quản lý Nhà nước
đối với các tôn giáo và đấu tranh chống việc lợi dụng tôn giáo để chống đối
chế độ chỉ thành công nếu làm tốt công tác vận động quần chúng.
5. Vấn đề theo đạo và truyền đạo. Mọi tín đồ đều có quyền tự do
hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo qui định của pháp luật.
Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được hoạt động tôn giáo theo
pháp luật qui định và được pháp luật bảo hộ. Việc theo đạo, truyền đạo cũng
như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật.
Không được lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan,
không được ép buộc người dân theo đạo. Nghiêm cấm các tổ chức truyền
đạo, người truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái phép, vi phạm các qui
định của Hiến pháp và pháp luật.
Chính sách đối với giai cấp nông dân:
được đào tạo nghề.
Tuy nhiên, sự phát triển của giai cấp công nhân vẫn chưa đáp
ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế
quốc tế: Thiếu các chuyên gia, công nhân lành nghề; cơ cấu ngành nghề
còn bất hợp lý, chưa có nhiều công nhân làm việc trong các ngành nghề
kỹ thuật cao; tuy được đào tạo nghề nhưng chưa thật cơ bản, tác phong
công nghiệp và kỷ luật lao động còn hạn chế; một số, chưa thật sự gắn
bó với doanh nghiệp; giác ngộ giai cấp, bản lĩnh chính trị, sự hiểu biết về
chính sách, pháp luật không đồng đều.
Đời sống, điều kiện lao động của đại bộ phận công nhân trên địa
bàn tỉnh vẫn còn khó khăn. Thu nhập của công nhân còn thấp so với mặt
bằng chung của cả nước
Giai cấp nông dân: Trong quá trình phát triển nhanh về công
nghiệp-dịch vụ và quá trình đô thị hoá, cơ cấu dân số thành thị và nông
thôn của tỉnh đã thay đổi, đên năm 2008 lao động trong khu vực nông
nghiệp chiếm còn khoảng 68% tổng số lao động trong toàn tỉnh (năm
2001 chiếm 81%); bình quân đất sản xuất nông nghiệp/nhân khẩu
540m2.
Tri thức: Chương trình hành động số 23-Ctr/TU ngày
31/10/2008 về việc thực hiện nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban
Chấp hành Trung ương Đảng, khóa X “Về xây dựng đội ngũ trí
thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước”
Đến nay, toàn tỉnh có trên 17.600 người có trình độ từ cao đẳng,
đại học trở lên, tăng 258% so với năm 1997, chiếm 4,09% lực lượng lao
động toàn tỉnh; trong đó, có 418 người có trình độ sau đại học, chiếm tỷ
lệ 2,37% tổng số cán bộ có trình độ cao đẳng trở lên.Đội ngũ trí thức ở
Quảng Nam đã có nhiều đóng góp trong việc phát triển KT-XH, đảm bảo
an ninh-quốc phòng. Trí thức trong lĩnh vực khoa học và công nghệ
(KH&CN) đã tham gia các chương trình, đề tài, dự án nghiên cứu khoa