Vấn đề cho vay kinh tế ngoài quốc doanh tại ngan hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Phục Hòa -Thức trạng và giải pháp - Pdf 92

Lời nói đầu
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá dới sự lãnh đạo của
Đảng và Nhà nớc chúng ta đã đạt đợc một số thành tựu đáng kể, những năm
qua nền kinh tế đất nớc ta ngày tăng trởng, thu nhập bình quân đầu ngời dần
dần đợc nâng cao, đời sống nhân dân không ngừng đợc cải thiện, đạt đợc kết
quả đó là sự phấn đấu của tất cả các cấp các ngành trong đó có sự đóng góp
không nhỏ của ngành Ngân hàng.
Trong công cuộc đổi mới, ngành Ngân hàng nói chung, các Ngân hàng
thơng mại nói riêng đã có những bớc tiến đáng kể và đã khẳng định đợc vai
trò của mình trong nền kinh tế, tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay những khó
khăn về vốn cho nền kinh tế nói chung và đáp ứng nhu cầu vốn cho các thành
phần kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng là một vấn đề bức súc đang đợc các
cấp các ngành quan tâm tháo gỡ, luật Ngân hàng ra đời đã tạo nhiều thuận lợi
cho ngành Ngân hàng và các thành phần kinh tế mở rộng mối quan hệ tín
dụng, nhng hiện nay mối quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng với các thành
phần kinh tế, đặc biệt là các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh còn nhiều
hạn chế. Việc nghiên cứu thực tế tìm nguyên nhân và đa ra các giải pháp để
tháo gỡ là cần thiết. Cho nên qua quá trình học tập và sau một thời gian đi
thực tập tại NHNo&PTNT khu vực Phục Hoà Em đã nghiên cứu và trọn viết
chuyên đề về đề tài:
Vấn đề cho vay kinh tế ngoài quốc doanh tại Ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển nông thôn Phục Hoà - Thực trạng và giải pháp.
Chuyên đề này đợc trình bày theo kết cấu:
Ch ơng I : Ngân hàng thơng mại và kinh tế ngoài quốc doanh trong
nền kinh tế thị trờng.
Ch ơng II : Thực trạng về cho vay kinh tế ngoài quốc doanh tại NHNo
& PTNT Phục Hoà.
Ch ơng III : Một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao chất lợng tín
dụng Ngân hàng với kinh tế ngoài quốc doanh Tại
NHNO&PTNT Phục Hoà
Chơng I

vốn của các cổ đông mỗi cổ đông chỉ chịu trách nhiệm theo phần vốn góp
của mình trong công ty.
1. 3. Doanh nghiệp t nhân:
Doanh nghiệp t nhân là đơn vị kinh tế do một ngời đứng ra tổ chức và
tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình, trong quá trình hoạt động
kinh doanh, doanh nghiệp t nhân hoạt động theo luật doanh nghiệp.
1. 4. Cá nhân, hộ cá thể kinh doanh
Cá nhân, hộ cá thể kinh doanh có mức vốn thấp hơn mức vốn pháp
định của doanh nghiệp t nhân, họ tự bỏ vốn ra kinh doanh và tự chịu trách
nhiệm về kết quả kinh doanh của mình, bộ phận kinh tế t nhân cá thể này
chiếm một số lợng lớn trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
Chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nớc ta hiện nay đã tạo điều kiện
thuận lợi cho kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng phát triển, đặc biệt trong
giai đoạn hiện nay Nhà nớc ta thực hiện cổ phần hoá một số doanh nghiệp
nhà nớc làm cho kinh tế ngoài quốc doanh càng khẳng định đợc vị trí của
mình trong nền kinh tế.
2. Đặc điểm của kinh tế ngoài quốc doanh :
Một là : Kinh tế ngoài quốc doanh có quy mô hoạt động sản xuất kinh
doanh nhỏ, tham gia vào tất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh.
Các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh ở nớc ta đợc hình thành chủ yếu
do một số t nhân cá thể tự bỏ vốn ra để tổ chức hoạt động sản xuất kinh
doanh, một phần đợc hình thành từ các doanh nghiệp Nhà nớc sản xuất kinh
doanh thua lỗ, hoặc phá sản tiến hành cổ phần hoá thành các doanh nghiệp t
nhân v.v... Do đó cha có quá trình để tích tụ, tập trung vốn nên hầu hết các tổ
chức kinh tế ngoài quốc doanh đều hoạt động với số vốn ít ỏi, chủ yếu hoạt
động bằng vốn tự có của mình, còn việc sử dụng vốn vay của các Ngân hàng
thơng mại, tổ chức tín dụng khác còn nhiều hạn chế. Cho nên đại bộ phần các
tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh đều có cơ sở vật chất nghèo nàn, sử dụng
trang thiết bị cũ kỹ của các doanh nghiệp Nhà nớc thải ra, do đó năng lực sản
xuất kinh doanh còn nhiều hạn chế, năng suất lao động thấp, hiệu quả sản

làm giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Từ khi thực hiện chủ trơng phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần, nhiều tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh đợc thành lập, đặc biệt trong
những năm gần đây các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng phát
triển mạnh mẽ cả về số lợng cũng nh quy mô hoạt động do đó đã thu hút đợc
một khối lợng lớn lao động trong xã hội tham gia vào hoạt động SXKD ở khu
vực kinh tế này, làm giảm đáng kể tỷ lệ ngời lao động không có việc làm
trong xã hội.
3.2. Kinh tế ngoài quốc doanh đã tạo ra một khối lợng lớn của cải vật
chất cho xã hội, góp phần làm tăng thêm nguồn thu cho ngân sách Nhà nớc.
Trong nền kinh tế thị trờng với tính năng động, sáng tạo của mình,
kinh tế ngoài quốc doanh đã có nhiều đóng góp cho nền kinh tế, tạo ra đợc
một khối lợng lớn hàng hoá dịch vụ đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng trong nớc
và xuất khẩu ra nớc ngoài, làm tăng kim ngạch xuất khẩu, năm 1999 giá trị
làm ra của khu vực kinh tế t nhân là 151. 388 tỷ VND, chiếm 41% trong tổng
GDP. (Báo pháp luật - số 59/2000). Với các khoản đóng góp cho ngân sách
nhà nớc thì đóng góp của kinh tế ngoài quốc doanh cho ngân sách nhà nớc
cũng rất lớn, trong những năm gần đây trong tổng thu ngân sách nhà nớc thì
chiếm tới gần 40% là thu từ kinh tế ngoài quốc doanh, do vậy để khơi tăng
nguồn thu ngân sách từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh Nhà nớc cần phải
tạo môi trờng cho các thành phần kinh tế phát triển, coi trọng việc đầu t vào
cơ sở hạ tầng để các tổ chức kinh tế này mở rộng liên doanh với các doanh
nghiệp trong và ngoài nớc, thúc đẩy sản xuất phát triển.
3.3. Kinh tế ngoài quốc doanh tạo môi trờng cạnh tranh lành mạnh,
thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Trong cơ chế thị trờng các tổ chức kinh tế muốn tồn tại và phát triển
thì những hàng hoá, dịch vụ họ đa ra thị trờng phải đợc thị trờng chấp nhận
tức là ngoài yêu cầu về chất lợng còn đòi hỏi phải có giá cả hợp lý, mẫu mã,
chủng loại phải phong phú nếu không sẽ bị quy luật cạnh tranh đào thải.
Chính điều đó đã tạo ra một môi trờng cạnh tranh gay gắt đòi hỏi tất cả các tổ

nền kinh tế bởi hoạt động của NHTM là một loại hình kinh doanh đặc biệt,
không giống với bất cứ loại hình kinh doanh nào, sản phẩm kinh doanh của
NHTM là "Tiền tệ" và hoạt động của các NHTM gắn liền với mọi hoạt động
SXKD. Hoạt động của các NHTM bao gồm:
+ Nghiệp vụ huy động vốn:
Để tiến hành hoạt động kinh doanh của mình các NHTM phải thực
hiện nghiệp vụ huy động vốn, vốn đợc huy động dới các hình thức nhận tiền
gửi của các tổ chức kinh tế, tiền gửi của các tầng lớp dân c, phát hành chứng
chỉ tiền gửi, ngoài ra còn có thể vay Ngân hàng Nhà nớc, các tổ chức tín
dụng khác
+ Nghiệp vụ cho vay của các NHTM:
Đây là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu chiếm từ 70 % đến 80 % tổng thu
của các NHTM. Các NHTM tiến hành cho vay vốn ngắn hạn, cho vay trung,
dài hạn đối với mọi thành phần kinh tế, phơng thức cho vay phong phú nh
cho vay theo từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng v.v...
+ Nghiệp vụ kinh doanh khác :
NHTM là trung tâm thanh toán thực hiện các nghiệp vụ thu hộ, chi hộ,
làm dịch vụ chuyển tiền, mua bán ngoại tệ, dịch vụ thanh toán quốc tế, tham
gia đầu t vào các loại chứng khoán, làm đại lý phát hành chứng khoán cho
các công ty. v.v...
Các Ngân hàng thơng mại với t cách là một trung gian tài chính và
hoạt động của các Ngân hàng thơng mại(NHTM) là tìm kiếm lợi nhuận,
trong quá trình thực hiện mục tiêu kinh doanh của mình NHTM đã có những
đóng góp không nhỏ trong việc ổn định tiền tệ, chống lạm phát và thúc đẩy
nền kinh tế phát triển, những đóng góp đó đợc thể hiện qua vai trò của nó
trong nền kinh tế.
2. Vai trò của NHTM trong nền kinh tế:
2.1. NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế:
Vốn đợc tạo ra từ quá trình tích luỹ, tiết kiệm của mỗi cá nhân, tổ chức
kinh tế do vậy muốn có nhiều vốn phải tăng thu nhập quốc dân, giảm nhịp độ

thống, các NHTM đã góp phần mở rộng khối lợng tiền cung ứng trong lu
thông. Thông qua việc cấp các khoản tín dụng cho các ngành kinh tế NHTM
thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân chia vốn của thị trờng,
điều khiển chúng một cách có hiệu quả, thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ
mô "Nhà nớc điều tiết NH, NH dẫn dắt thị trờng"
2.4. NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế
Trong nền kinh tế thị trờng khi mà các mối quan hệ hàng hoá tiền tệ
ngày càng đợc mở rộng thì nhu cầu giao lu kinh tế - xã hội giữa các nớc trên
thế giới ngày càng trở nên cần thiết và cấp bách. Việc phát triển kinh tế của
mỗi quốc gia luôn gắn với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, vì vậy nền
tài chính của mỗi nớc cũng phải hoà nhập với nền tài chính quốc tế. NHTM
thông qua hoạt động kinh doanh của mình đã đóng một vai trò vô cùng quan
trọng trong sự hoà nhập này. Với các nghiệp vụ kinh doanh nh nhận tiền gửi,
cho vay, thanh toán, nghiệp vụ hối đoái... NHTM đã tạo điều kiện thúc đẩy
ngoại thơng không ngừng mở rộng. Thông qua các hoạt động thanh toán,
buôn bán ngoại hối, quan hệ với các NHTM nớc ngoài, NHTM đã thực hiện
vai trò điều tiết nền tài chính trong nớc phù hợp với sự vận động của nền tài
chính quốc tế.
Ngân hàng thơng mại ra đời và phát triển trên cơ sở nền sản xuất và lu
thông hàng hoá phát triển, nền kinh tế càng phát triển ngày càng cần đến hoạt
động của NHTM. Thông qua việc thực hiện các chức năng vai trò của mình
nhất là chức năng trung gian tài chính NHTM đã trở thành một bộ phận quan
trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
3. Vai trò của NHTM đối với kinh tế ngoài quốc doanh:
- NHTM tác động tích cực đến việc tăng khối lợng sản phẩm sản xuất
ra và tăng nhịp độ sản xuất của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
Sản phẩm sản xuất ra là những hàng hoá để sử dụng cho sản xuất hoặc
phục vụ cho tiêu dùng khi nó đợc đem ra thị trờng tiêu thụ, để việc tiêu thụ đ-
ợc thực hiện nhanh chóng đòi hỏi ngời mua tại thời điểm cần thiết phải có đủ
tiền để thanh toán, tuy nhiên có những lúc ngời mua không có khả năng

vay vốn của Ngân hàng, do đó tín dụng NHTM thúc đẩy doanh nghiệp quan
tâm hơn đến việc sử dụng vốn vay, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Xuất phát từ vai trò, đặc điểm cả các thành phần kinh tế ngoài quốc
doanh chúng ta thấy khu vực kinh tế này có một tiềm năng rất lớn, tuy nhiên
để phát huy đợc vai trò to lớn của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh cần phải
có sự hỗ trợ của nhà nớc để thúc đẩy các thành phần kinh tế ngoài quốc
doanh ngày càng phát triển.
Kinh tế ngoài quốc doanh với đặc điểm là có quy mô hoạt động nhỏ,
thiếu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và mở rộng quy mô hoạt động
sản xuất kinh doanh, thiếu máy móc thiết bị hiện đại, cơ sở vật chất kỹ thuật
còn thiếu thốn. v.v... cho nên vốn tín dụng của NHTM lại càng có vai trò
quan trọng đối với kinh tế ngoài quốc doanh.
Trong những năm qua từ chỗ chỉ tập chung vốn đầu t cho khu vực kinh
tế Nhà nớc, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ít đợc quan tâm thì trong giai
đoạn hiện nay, thực hiện công cuộc đổi mới phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã đợc quan tâm, đặc biệt là
việc đầu t vốn cho khu vực kinh tế này, tạo điều kiện cho khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh phát triển, mở rộng quy mô hoạt động sản xuất kinh
doanh, đổi mới trang thiết bị, nâng cao năng lực sản xuất. Trong những năm
gần đây thông qua việc đầu t tín dụng vào khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
đã phần nào khuyến khích các tổ chức kinh tế này phát triển cụ thể nh: bằng
các chính sách tín dụng của Nhà nớc đã thúc đẩy các thành phần kinh tế
ngoài quốc doanh phát triển đúng hớng đầu t vào các ngành nghề SXKD
thuộc lĩnh vực Nhà nớc u tiên và tập chung phát triển, từ đó góp phần thúc
đẩy các tổ chức kinh tế này tích tụ, tập trung vốn mua sắm máy móc thiết bị
công nghệ hiện đại, mở rộng quy mô sản xuất, giảm đợc tình trạng sản xuất
kinh doanh nhỏ lẻ, làm ăn kém hiệu quả, tạo ra thế cạnh tranh lành mạnh với
kinh tế Nhà nớc.
Mặc dù trong những năm gần đây đợc Đảng và Nhà nớc quan tâm,
Ngân hàng đã có nhiều chính sách đổi mới, có những đầu t đáng kể vào khu

2. Tình hình hoạt động kinh doanh của NHNo Phục Hoà.
2.1. Khái quát về môi trờng kinh doanh.
NHNo Phục Hoà hoạt động trên địa bàn bao gồm 6 xã và 1 thị trấn,
đây là khu vực miền núi do đó trong khu vực có tới 5 xã thuộc khu vực III là
vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn.
Trên địa bàn hoạt động chỉ có 1 doanh nghiệp nhà nớc, còn lại là các
hộ kinh doanh sản xuất nhỏ, các tổ chức kinh tế nh công ty, doanh nghiệp
ngoài quốc doanh không có trên địa bàn.
Các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn gặp không ít khó khăn
do điều kiện tự nhiên tác động tới. Trong những năm gần đây, thực hiện ch-
ơng trình xoá đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nớc, nhằm hỗ trợ nguồn lực
cho cho các xã đặc biệt khó khăn, do đó nhiều chơng trình phát triển kinh tế,
xã hội tại địa phơng đã và đang đợc thực hiện, đã tạo điều kiện thuận lợi cho
các hoạt động kinh tế - xã hội phát triển.
Khu vực Phục hòa là vùng kinh tế mới của tỉnh do vậy đợc tỉnh tập
chung nhiều nguồn lực hỗ trợ phát triển vùng công nghiệp mía đờng, hơn nữa
tại đây có cửa khẩu quốc gia rất thuận lợi cho việc mở rộng thông thơng giao
lu hàng hoá giữa Việt Nam và Trung Quốc.
2.2. Tình hình hoạt động kinh doanh của NHNo & PTNT Phục Hoà.
NHNo & PTNT Phục Hoà là một Ngân hàng cấp III, địa bàn hoạt động
hẹp, hoạt động kinh doanh gặp nhiều khó khăn nhng NHNo & PTNT Phục
Hoà đã có nhiều biện pháp tích cực nh kiện toàn tổ chức bộ máy hoạt động,
thực hiện tốt chiến lợc khách hàng, sử dụng linh hoạt công cụ lãi suất. v.v...
nên đã đạt đợc một số kết quả nhất định trong hoạt động kinh doanh.
Biểu 1 :
Tình hình hoạt động kinh doanh của NHNo & PTNT
Phục Hoà trong một số năm gần đây :
ĐV: Triệu VND
Chỉ tiêu Năm 1998 Năm 1999 30/9/2000
1. Nguồn vốn huy động 2.097 2.226 3.397

Cùng với việc đẩy mạnh công tác huy động vốn thì việc sử dụng vốn
đầu t tín dụng cũng đợc đặc biệt quan tâm, nó là nhiệm vụ hàng đầu của hoạt
động kinh doanh bởi các khoản thu lãi cho vay ở đây chiếm gần 100% tổng
thu, cho nên nếu không coi trọng công tác này sẽ ảnh hởng lớn tới kết quả
kinh doanh của đơn vị. Vì vậy NHNo Phục Hoà đã và đang thực hiện việc
đẩy mạnh cho vay, quản lý tốt d nợ, làm tốt công tác tín dụng.
- Doanh số cho vay năm 1999 tăng 14.253 triệu đồng, doanh số cho
vay tăng chủ yếu ở doanh nghiệp Nhà nớc (tăng 13.335 triệu đồng), còn kinh
tế ngoài quốc doanh tăng không đáng kể chỉ tăng 939 triệu đồng, đến
30/9/2000 doanh số cho vay đạt 16.751 triệu đồng, đạt 76,5% so với doanh
số cho vay năm 1999.
- Doanh số thu nợ: thu nợ năm 1999 tăng 13.390 triệu đồng, đặc biệt
đến 30/9/2000 doanh số thu nợ đạt 20.489 triệu đồng tăng so với năm trớc
3.573 triệu đồng với tỷ lệ tăng là 21%.
- D nợ năm 1999 tăng hơn so với năm trớc nhng đến 30/9/2000 chỉ đạt
10.558 triệu đồng, giảm so với năm 1999 là 3.738 triệu đồng, d nợ giảm là do
các nguyên nhân sau: đối với doanh nghiệp nhà nớc d nợ giảm là do hoạt
động kinh doanh theo thời vụ, nhu cầu vay vốn chỉ tăng vào những tháng
cuối năm và đầu năm. Còn đối với kinh tế ngoài quốc doanh thì 100% vay
vốn là các hộ SXKD nhỏ mà hiện nay Ngân hàng phục vụ Ngời nghèo đang
đẩy mạnh cho vay nên một bộ phận không nhỏ khách hàng là các hộ nghèo
trớc đây vay vốn NHNo đã trả nợ và chuyển sang vay vốn từ Ngân hàng phục
vụ ngời nghèo, làm cho doanh số cho vay và d nợ của kinh tế ngoài quốc
doanh giảm đáng kể so với những năm trớc.
Ngoài nhiệm vụ cho vay thu nợ của mình NHNo Phục Hoà còn nhận
làm dịch vụ tổ chức cho vay hộ nghèo cho NH phục vụ ngời nghèo. Công tác
này đợc thực hiện từ khâu thành lập các tổ vay vốn hộ nghèo cho đến việc
thẩm định trớc khi cho vay, giải ngân đến tận tay các hộ nghèo thiếu vốn sản
xuất, kiểm tra việc sử dụng vốn sau khi cho vay và tổ chức thu nợ, thu lãi khi
đến hạn, thực hiện tốt công tác này NHNo Phục Hoà đã thu đợc một khoản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status