Tài liệu Tục ngữ. Lời ăn tiếng nói của dân gian(phần 2) doc - Pdf 92

Tục ngữ. Lời ăn tiếng nói của dân gian - IIKhôn là thế nào ? Khi đã "biết" suy xét, nhận định, suy đoán, nhận diện đúng sự vật, thì có thể phân biệt
được "khôn" với "dại", để hành động cho khỏi sai lầm. Trước hết:

1- Khôn không phải là làm khôn, (tiếng Việt, có chữ "làm khôn" nghĩa là tỏ ra mình
khôn ngoan hơn người và can thiệp, xía vào việc của người khác), như thế chỉ có hại cho
mình.
" Khôn vừa chứ, khôn lắm lại chết non." (TN,1/186)
Từ thế kỉ thứ XV, Nguyễn Trãi đã có câu thơ đại ý như thế:
" Hễ kẻ làm khôn thì phải khó." (Qâ,176)
Và Trạng Trình cũng khuyên đừng nên tranh khôn với thiên hạ mà có hại cho mình:
" Tranh khôn ắt có bề lo lắng." (BV,72)
Trái lại, tục ngữ bảo ta phải biết cư xử cho nhún nhường, khiêm tốn:
" Ai nhứt thì tôi thứ nhì,
" Ai mà hơn nũa tôi thì thứ ba." (TN,1/20)

2- Khôn là thận trọng biết giữ gìn lời ăn tiếng nói. Chỉ vì thiếu tinh thần cảnh giác,
không thận trọng, nên người ta thường thốt ra những câu hớ hênh, vô ý thức, gây ra bao
nhiêu tai họa cho bản thân và cho công cuộc đấu tranh của toàn dân:
" Vạ ở miệng ra, bệnh qua miệng vào." (THM,2/172)
" Thứ nhất là tội miệng mà... (THM,1/235)
Nên: " Khôn thì ngậm miệng, khoẻ thì cắp tay." (TN,1/186)
" Người khôn đón trước rào sau,
" Để cho người dại biết đâu mà dò." (TN,1/265)
" Chim khôn tiếc lông, người khôn tiếc lời." (TN,1/95)
" Sông sâu, sào ngắn khôn dò,

4- Khôn, nhưng nhất định không dùng cái khôn của mình để buôn dân, bán nước,
chống lại nguyện vọng của đồng bào, phản lại quyền lợi của quốc gia, và người một nước
lại chém giết lẫn nhau:
" Khôn ngoan đối đáp người ngoài,
" Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau" (TN,191)
..." Chim không đánh chim cùng một tổ,
" Trâu một chuồng, đâu có húc nhau.
" Cùng chung một giọt máu đào,
" Nỡ nào hại nước, nỡ nào hại dân." (THM,4/89)
..." Tiếc thay con chim phượng hoàng còn dại chửa có khôn,
" Núi Tam Sơn chẳng đậu, lại đi đậu cồn cỏ may " (TN,321)

Dân gian ở vùng của chúng tôi cũng có một câu nữa tương tự như thế:
" Chim kia dại lắm không khôn,
" Núi Lam Sơn không đậu, lại đậu cồn cỏ may."
Lam Sơn là nơi ngày xưa Lê Lợi khởi nghĩa, ở đây "Lam Sơn" dùng để tượng trưng cho
"kháng chiến". Câu nầy đại ý nói: Thương hại cho những kẻ dại dột không biết theo
kháng chiến cứu nước, mà lại đi theo phường Việt gian (đậu cồn cỏ may là một thứ cỏ,
mỗi lần ta ngang qua, thì bị những hạt nhỏ của cỏ móc vào quần, rất dơ bẩn, phải mất thì
giờ mới gỡ hết được)?
Và cũng có câu:
" Gáo đồng múc nước giếng tây,
" Khôn ngoan cho lắm tớ thầy người ta." (TN,1/152)
"Giếng tây" là "giếng ở phía tây" mà cũng có thể hiểu là "người Tây"; "múc nước giếng
Tây" có thể hiểu là "đem nước dâng cho Tây".
Đại ý câu nầy là: Cọng tác với Tây, mà tự cho là mình khôn, nhưng có khôn cho lắm,
cũng chỉ là đem thân ra làm nô lệ cho ngoại nhân mà thôi!
Mà Khôn là phải giữ vững lập trường, đừng để cho đối phương lung lạc, mua chuộc, dụ
dỗ.
" Người đời phải xét thiệt hơn,

" Khôn ba năm, dại một giờ " (TN,1/184)
- Bản tính trời sinh:
" Khôn từ trong trứng khôn ra,
" Dại dẫu đến già cũng dại." (TN,1/188)
- Tuổi già lú lẫn:
" Trẻ khôn qua, già lú lại." (TN,1/348)... 2 . Ứng xử ở đời của dân gianĐối tượng ứng xử ở đời của dân gian, theo tục ngữ, nhằm hai phàm vi Nhân sinh và Vũ
trụ.

a)- Ứng xử trong phạm vi nhân sinh

1- Trung với vua .

Chính quyền đô hộ và phong kiến đã dựa vào Nho giáo, để đòi hỏi nơi người dân bị trị
phải giữ lòng chung thủy trong đạo vua tôi.
Thật ra, dân ta cũng không phải không chấp nhận điều ấy:
" Ong kiến còn có vua tôi,
" Huống chi loài người chẳng có nghĩa ư ?" (TN,1/277)
Và " Làm tôi thì ở cho trung,
" Chớ ở hai lòng mà hóa dở dang." (TN,1/207)
Xưa Nguyễn Trãi, cũng như Trạng Trình, cũng thường nhắc đến lòng "Ưu quân, ái dân",
tức là "Lo việc cho vua, yêu thương dân", và gọi tắt là "Ưu ái" hay "Ái ưu" (chớ không
dùng chữ "trung quân" như các nhà Nho sau nầy):
" Bui (chỉ ) một tấc lòng ưu ái cũ." (Qâ,50)
... " Tóc nên bạc bởi lòng ưu ái." (Qâ,112)

Theo ý nghĩa câu nầy, nhà Vua, nói cho cùng, cũng chỉ là một tên giặc, một "tên giặc đã
thắng trận" mà thôi. Chính Mạnh Tử ngày xưa cũng đã nói trắng ra rằng: "Nếu vua chỉ
xem tôi như đất, như cỏ rác, thì tôi cũng coi vua như giặc như thù" và chủ trương là "Dân
vi quí, quân vi khinh". (21)
Tục ngữ ta cũng phân biệt được như thế: Dân là vạn đại, trường tồn mãi mãi, còn vua
chúa, triều đại thì chỉ nhất thời mà thôi.
" (Vua) quan nhất thời, dân vạn đại. " (TN,1/286)
Vua chúa lãnh mệnh của Trời để chăm sóc cho dân được sống yên lành, no cơm ấm áo.
Nhưng nếu vua không làm tròn sứ mệnh ấy, dân gian oán ghét, thì Trời sẽ chiều theo ý
dân mà thu hồi cái sứ mệnh ấy đi, dân chúng sẽ nổi loạn lên để truất phế:
" Con vua thì lại làm vua,
" Con sãi ở chùa thì quét lá đa.
" Bao giờ dân nổi can qua,
" Con vua thất thế lại ra ở chùa." (22)

2 - Đối phó với quan lại tham nhũng.

Đại diện cho vua để cai trị dân là các quan lại. Số thanh liêm, cần mẫn thì ít, mà phần
nhiều là phường "tham quan ô lại" chuyên việc hà hiếp, bọc lột dân lành:
" Con ơi, nhớ lấy câu nầy :
" Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan."
..." Muốn nói oan, làm quan mà nói." (TN,1/227)
" Vô phúc, bước cửa quan." (TN,1/ 365)
" Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ." (TN,1/287)
" Của vào nhà quan như than vào lò." (TN,1/65)
" Nén bạc đâm toạc tờ giấy." (TN,1/247)
Phần nhiều quan lại đã bất liêm lại còn bất chính nữa:
" Ngày thì quan-lớn như thần,
" Đêm thì quan-lớn tần-mần như ma."(23)
" Lập nghiêm ai dám tới gần,

Việt-Nam chúng ta b) Ứng xử trong phạm vi vũ trụ 1 - Đạo Trời và vận mệnh con người.

Theo tục ngữ, nhờ có "biết" mới thông được "đạo Trời", và mọi việc ở đời mới được ổn
thỏa, yên lành:
"Biết sự Trời" muôn đời chẳng khó." (TN,1/40)
Như thế, thì :
"Làm người phải giữ Lẽ Trời dám sai." (26)
Ông cha chúng ta ngày xưa tin tưởng chắc chắn vào "đạo Trời" nên:
" Dù ai nói ngược, nói xuôi,
" Ta đây vẫn giữ đạo Trời khăng khăng." (TN,1/114)
"Đạo Trời" trong tục ngữ, phải chăng cũng là "đạo Trời" mà Nguyễn Trãi đã đề cập đến
trongQuốc âm thi tập :
" Tự nhiên đắp đổi đạo Trời" (Qâ,104)
" Yêu nhau chẳng đã đạo thường thường." (Qâ,147)
" Làm người thì giữ đạo trung dung." (Qâ,127)
Trong mấy câu thơ của Nguyễn Trãi, các "đạo Trời", "đạo thường thường" và "đạo trung
dung" chỉ là một.
Đạo Trung Dung của Nho giáo, lý luận siêu hình rất huyền diệu cao xa (27). Tuy nhiên,
theo Phan Bội Châu, trong thuyết Trung Dung có phần thực dụng cụ thể và dễ hiểu hơn.
Phần nầy bao gồm hai chữ "trung" và "dung". "Trung" nghĩa là ở giữa, không hành động
thái quá, hay bất cập, không thiên lệch bên nào, và "dung" nghĩa là thường, mà cũng có
nghĩa là dùng. Đúng với đạo lý mà thường thường dùng được luôn, gọi là "dung". (28)
Phần thực dụng nầy cụ thể, dễ hiểu hơn và giống với "tinh thần chừng mực" của dân ta.
Đó là chủ trương trong mọi trường hợp, nên cư xử "một vừa hai phải", thế nào cho "đừng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status