Lời mở đầu
Cuc thi tỡm hiu Thng Long - H Ni nghỡn nm Vn hin v Anh
hựng vi quy mụ ton quc chớnh thc c phỏt ng ngày 11/10/2009.
Cuc thi gm 12 cõu hi trc nghim liờn quan n lch s Thng Long - H Ni
v mt cõu hi t lun ngi vit c t do by t cm xỳc, tỡnh yờu ca
mỡnh vi Th ụ nghỡn nm vn hin v anh hựng qua mt bi vit nờu bỡnh
lun, cm tng v cõu m u trong bi hỏt "Ngi H Ni" ca tỏc gi
Nguyn ỡnh Thi. Mc ớch ca cuc thi nhm gúp phn tuyờn truyn, giỏo dc
sõu rng ý ngha k nim 1000 nm Thng Long - H Ni, nõng cao hiu bit
v truyn thng lch s vn húa, phỏt huy giỏ tr tt p ca Thng Long - H
Ni nghỡn nm vn hin, Th ụ Anh hựng, Thnh ph vỡ hũa bỡnh trong thanh
niờn v nhõn dõn c nc, hng ti vic hỡnh thnh phong tro thi ua thit
thc cho mng i l k nim k nim 1000 nm Thng Long - H Ni.
BTV Đoàn xã Văn Môn, Yên Phong, Bắc Ninh.
Trang 1
Là những ngời con quê hơng Bắc Ninh anh hùng, quê hơng của vị
vua tài ba anh minh và lỗi lạc Lý Công Uẩn, ngời đã xây dựng lên vơng
chiều nhà Lý và đặt nền móng xây dựng thủ đô Thăng Long - Hà Nội
của dân tộc Việt nam anh hùng; Chúng tôi BTV đoàn xã Văn Môn, Yên
Phong - Bắc Ninh đón nhận và tham gia cuộc thi này với tình cảm tự
hào về Lý Công Uẩn, về vơng triều nhà Lý, về quê hơng Bắc Ninh và
Thủ đô Thăng Long - Hà Nội. Qua cuộc thi này chúng tôi đã hiểu rõ
hơn về lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam, với trách nhiệm cao nhất
thu thập những t liệu và sự hiểu biết của mình để cùng với mọi công dân
Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh hiện nay trao đổi, nghiên cứu và đặc
biệt nhằm giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống oai hùng của dân tộc Việt
Nam, về thủ đô Hà Nội và quê hơng Bắc Ninh anh hùng.
Lý Công Uẩn (974 - 1028)
BTV Đoàn xã Văn Môn, Yên Phong, Bắc Ninh.
Trang 2
Lý Công Uẩn, người khai sáng vương triều Lý, khai sinh Thủ đô Thăng
Từ Liêm), phủ Thường Tín (gồm 3 huyện Thượng Phúc, Thanh Trì, Phú
Xuyên), phủ Ứng Hòa (gồm 4 huyện Sơn Minh - nay là Ứng Hòa; Hoài An -
nay là phía nam Ứng Hòa (gồm 4 huyện Sơn Minh - nay là Ứng Hòa; Hoài
An - nay là phía nam Ứng Hòa và một phần Mỹ Đức; Chương Đức - nay là
BTV §oµn x· V¨n M«n, Yªn Phong, B¾c Ninh.
Trang 5
Chương Mỹ; Thanh Oai), phủ Lý Nhân (gồm 5 huyện: Nam Xang - nay là Lý
Nhân, Kim Bảng, Duy Tiên, Thanh Liêm, Bình Lục). Như vậy, tỉnh Hà Nội lúc
đó gồm thành phố Hà Nội, nửa phía đông tỉnh Hà Tây (chính là tỉnh Hà
Đông thời Pháp Thuộc) và toàn bộ tỉnh Hà Nam. Rõ ràng, tỉnh Hà Nội đại bộ
phận nằm kẹp giữa hai sông Hồng và sông Đáy.
Có người cho rằng chữ Hà Nội lấy từ câu sách Mạnh Tử (Thiên Lương Huệ
Vương): “Hà Nội hung tắc di kỳ dân ư Hà Đông, chuyển kỳ túc ư Hà Nội”
(Hà Nội bị tai họa thì đưa dân về Hà Đông, đưa thóc từ Hà Đông về Hà
Nội). Nguyên ở Trung Quốc thời Mạnh Tử (thế kỷ thứ III tr.CN) phía bắc
sông Hoàng gọi là đất Hà Nội, phía nam là Hà Ngoại. Vùng đất Hà Nội ấy
nay ứng với tỉnh Hà Bắc. Lại do sông Hoàng khi tới địa đầu tỉnh Sơn Tây
ngày nay thì chạy theo hướng Bắc-Nam, trở thành ranh giới của hai tỉnh
Thiểm Tây và Sơn Tây. Sơn Tây ở phía Đông sông Hoàng nên thời cổ có tên
là đất Hà Đông, còn Thiểm Tây là Hà Tây.
Thực sự cũng có việc dùng câu sách Mạnh Tử nói trên. Nhưng đó là
trường hợp năm 1904 khi muốn đổi tên tỉnh Cầu Đơ cho khỏi nôm na,
người ta mới dùng để gọi tỉnh Cầu Đơ là tỉnh Hà Đông dựa vào cái tên Hà
Nội đã có từ trước.
BTV §oµn x· V¨n M«n, Yªn Phong, B¾c Ninh.
Trang 6
* Hà Nội đã qua bao lần đổi tên (lấy mốc thời gian từ
1010 đến nay)?
Huống Cao Vương cố đô Đại La thành, trạch thiên địa khu vực chi
trung; đắc long bàn hổ cứ chi thế. Chính Nam Bắc Đông Tây chi vị; tiện
BTV §oµn x· V¨n M«n, Yªn Phong, B¾c Ninh.
Trang 8
giang sơn hướng bối chi nghi. Kỳ địa quảng nhi thản bình, quyết thổ cao
nhi sảng khải. Dân cư miệt hôn điếm chi khốn; vạn vật cực phồn phụ chi
phong. Biến lãm Việt bang, tư vi thắng địa. Thành tứ phương bức thấu
chi yếu hội; vi vạn thế đế vương chi thượng đô.
Trẫm dục nhân thử địa lợi dĩ định quyết cư, khanh đẳng như hà?
* Bản dịch tiếng Việt:
Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến
đời Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam Đại; ấy theo ý riêng
tự tiện dời đô. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế
cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ
tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai
nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ
Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số
BTV §oµn x· V¨n M«n, Yªn Phong, B¾c Ninh.
Trang 9
ngn ngi, trm h tn hao, muụn vt khụng hp. Trm rt au n, khụng th
khụng di.
Hung chi thnh i La, ụ c ca Cao Vng, gia khu vc tri t,
c th rng chu h phc, chớnh gia nam bc ụng tõy, tin nghi nỳi sụng
sau trc. Vựng ny mt t rng m bng phng, th t cao m sỏng sa,
dõn c khụng kh thp trng ti tm, muụn vt ht sc ti tt phn thnh. Xem
khp nc Vit ú l ni thng a, thc l ch t hi quan yu ca bn
phng, ỳng l ni thng ụ kinh s mói muụn i.
Trm mun nhõn a li y m nh ni , cỏc khanh ngh th no?
(Bn dch ca Vin Khoa hc Xó hi Vit Nam, in trong i Vit s ký ton th, Nh Xut bn
Khoa hc Xó hi, H Ni, 1993)
hưởng ở tầm quốc tế.
Khát vọng độc lập: Các nhà nghiên cứu đều cho rằng việc lập đô của
các nhà Đinh và nhà Tiền Lê không phải là tự theo ý riêng, thiển cận. Trong bối
cảnh vừa thoát khỏi thời Bắc thuộc, chính quyền còn non trẻ, kinh đô Cổ Loa
không còn trấn áp được loạn cát cứ thì việc lập đô ở Hoa Lư trở lên lợi hại hơn
cả. Người Việt đã xây dựng kinh đô Hoa Lư của riêng mình mà không theo một
BTV §oµn x· V¨n M«n, Yªn Phong, B¾c Ninh.
Trang 12
hình mẫu nào của Trung Hoa.
[10]
Sự xuất hiện của chiếu dời đô là bằng chứng
cho thấy đất nước đã phát triển sang trang mới, vua Lý Thái Tổkhông tự khởi
nghiệp ở Thăng Long mà là người được triều đình Hoa Lư tiến cử lên ngôi
thay nhà Tiền Lê. Vì thế mà hệ thống triều đình và cơ sở vật chất của kinh
thành Thăng Long có được đều thừa hưởng từ đô cũ Hoa Lư. Sự kiện ban
Chiếu dời đô vừa khẳng định vừa phủ định vai trò của kinh đô Hoa Lư. Là mốc
son đánh dấu lịch sử hình thành thủ đô Hà Nội của Việt Nam trên cơ sở, nền
tảng kinh đô Hoa Lư.
* Hành trình dời đô:
Hơn 1 năm sau khi lên ngôi Hoàng đế, tháng 7 năm Canh Tuất, Lý Thái
Tổ bắt đầu dời đô từ Hoa Lư về Đại La. Việc tìm đất, nghị bàn đến việc chuẩn
bị để dời đô diễn ra tương đối khẩn trương. Từ Hoa Lư về thành Đại La có thể
đi theo đường bộ hoặc theo đường thuỷ. Sử cũ không ghi chép chi tiết nhà
Lý dời đô bằng đường nào. Các nhà nghiên cứu đã kết luận: nhà Lý dời đô
bằng đường thuỷ. Và chỉ có dời đô bằng đường thuỷ thì mới an toàn và tải
được cả bộ máy triều đình đông đảo cùng vật chất bảo đảm đồ sộ đi kèm.
BTV §oµn x· V¨n M«n, Yªn Phong, B¾c Ninh.
Trang 13
Năm Thái Bình thứ 7 (976) dưới thời vua Đinh Tiên Hoàng đã có việc
buôn bán với nước ngoài bằng thuyền. Các nhà nghiên cứu khẳng định Lý
Nm 1010, Vua Lý Thỏi T quyt nh di kinh ụ t Hoa L lờn Thng
Long, bt u khi cụng xõy dng hong thnh. Vo giai on hng thnh ca
nh Lý, kinh ụ Thng Long ó thc s tr thnh mt trung tõm chớnh tr - kinh
BTV Đoàn xã Văn Môn, Yên Phong, Bắc Ninh.
Trang 16
a
b
d
tế, văn hóa lớn nhất và tiêu biểu cho cả nước. Kỷ nguyên văn minh Đại Việt
trong lịch sử dân tộc ta cũng được mở ra từ đây.
Thăng Long - Hà Nội, kinh đô ngàn năm
Việc từ Hoa Lư lên Thăng Long đã thể hiện tầm nhìn xa trông rộng của
Nhà Vua Lý Thái Tổ trong việc xác định xây dựng trung tâm nước Việt.
Việc dời đô từ Hoa Lư lên Thăng Long là một sự kiện lịch sử quan trọng
báo hiệu sự thống nhất đất nước và sự tập trung chính quyền về Trung ương
đã thực hiện được ở Việt Nam. Đó là điều chưa có trong các thời đại trước và
rất cần thiết để đẩy mạnh sự phát triển xã hội và bảo đảm lâu dài nền độc lập
của Tổ quốc.
Trước thế kỷ XI, các triều đại xưa đã từng đóng đô ở nhiều nơi: Hùng
Vương (2897 - 258 trước Công nguyên) ở Phong Châu (Phú Thọ); An Dương
Vương (257 - 207 trước Công nguyên) ở Cổ Loa...
BTV §oµn x· V¨n M«n, Yªn Phong, B¾c Ninh.
Trang 17
Hà Nội là trung tâm của đất nước Việt Nam đương thời. Giao thông liên
lạc giữa Hà Nội với các địa phương khác trong nước, bằng đường thủy cũng
như đường bộ, đều thuận tiện dễ dàng.
Triều đình muốn liên hệ chặt chẽ được với tất cả các địa phương trong
toàn quốc thì việc đóng đô ở Thăng Long lúc ấy là thuận lợi hơn ở Hoa Lư cả
về ngoại giao, về chính trị cũng như về kinh tế. Lý Thái Tổ chọn miền Hà Nội, vì
ngoài những điều kiện thiên nhiên thuận lợi sẵn có, Hà Nội còn có những điều
xut hin c trong tỏc phm Nụm, c bit cũn thy tỏch thnh long bn v h
BTV Đoàn xã Văn Môn, Yên Phong, Bắc Ninh.
Trang 19
cứ để dùng, chẳng hạn như trong một bài thơ của Chúa Trịnh Căn (1872-1709)
chép trong tác phẩm Thiên hòa doanh bách vịnh.
Về cách lý giải thành ngữ long bàn hổ cứ này cũng có ý kiến giải thích
chưa thuyết phục. Có người cho rằng long bàn là địa bàn của rồng, và hổ cứ là
căn cứ của hổ. Theo tôi, để hiểu thật rõ ý nghĩa của thành ngữ này, thiết nghĩ
cần tách ra hai vế để tìm hiểu:
1. Long bàn, đôi khi còn thấy nói là bàn long, như ngọn núi Bàn Long ở
xã Hồng Sơn huyện Mỹ Đức Hà Nội. Đây là từ dùng để miêu tả động tác di
chuyển vị trí của con rồng. Rồng là loài động vật thuộc họ rắn, nó di chuyển thế
nào hẳn hiếm người biết được. Thế nhưng con rắn di chuyển trên mặt đất như
thế nào hẳn là nhiều người đã tận mắt nhìn thấy. Rắn thuộc loài bò sát không
có chân, nó di chuyển vị trí bằng cách uốn các đốt xương sống lại để nhích đi
từng chút, giống như con sâu đo. Quan sát cách di chuyển của loài rắn, chúng
ta có thể phần nào mường tượng thấy cách di chuyển của loài rồng. Các thầy
địa lý phong thủy ngày xưa quan sát dãy núi nhấp nhô trùng điệp, ngọn cao
ngọn thấp nối nhau chạy dài mãi, họ cho đó là hình ảnh con rồng di chuyển vị
trí trong không gian nên gọi là Sơn mạch hay Long mạch. Con rồng vận động
trong vũ trụ như thế, gặp được nơi địa lợi nó liền cuộn lại nhiều hơn, tiếng Hán
gọi động tác đó là long bàn, có thể giải nghĩa ra tiếng Việt là con rồng cuộn
mình làm tổ.
BTV §oµn x· V¨n M«n, Yªn Phong, B¾c Ninh.
Trang 20
2. Hổ cứ, là tư thế ngồi xổm chuẩn bị vồ mồi của con hổ. Trong tiếng
Hán, từ cứ có nghĩa là ngồi với tư thế hai mông không chạm đất mà đặt nhẹ lên
hai gót chân, tức là ở tư thế sẵn sàng bật dậy tấn công đánh trả kẻ địch.
Vậy thì thành ngữ long bàn hổ cứ có thể dùng để miêu tả thế đất chắc
chắn bền vững, vừa tiện lợi cho việc phòng thủ giữ gìn, vừa phù hợp với việc
văn hoá của quốc gia.
Nhận xét về kinh đô Thăng Long, sử gia Ngô Sỹ Liên viết:
“Núi là vạt áo che, sông là dải đai thắt, sau lưng là sông nước, trước mặt là
biển, địa thế hùng mạnh mà hiếm, rộng mà dài, có thể là nơi vua ở hùng tráng,
ngôi báu vững bền, hình thể Việt Nam không nơi nào hơn được nơi này”..
BTV §oµn x· V¨n M«n, Yªn Phong, B¾c Ninh.
Trang 22
Cöa B¾c kinh thµnh Th¨ng Long
Câu hỏi 2: Tòa thành cổ nhất trên đất Thủ đô là tòa thành nào?
a Thành Đại La
Thành Cổ Loa
c Thành cổ Sơn Tây
d Thành cổ Hà Nội
Lêi b×nh:
Đất Thủ đô là trung tâm (đầu não) hành chính - chính trị của quốc gia. Là
một Thủ đô có lịch sử rất lâu đời, Hà Nội tất phải xây dựng rất nhiều thành cổ
qua các đời, để thể hiện và làm căn cứ cho chức năng đứng đầu cả nước về
mặt hành chính - chính trị. Từ năm 2008, Hà Nội được mở rộng, tích hợp vào
BTV §oµn x· V¨n M«n, Yªn Phong, B¾c Ninh.
Trang 23
b
đất Thủ đô nhiều miền đất cổ, vốn cũng đã sẵn có nhiều thành cổ được xây
dựng ở đấy rồi, cho nên càng thêm nhiều di sản thành cổ.
* Thành Cổ Loa: Tòa thành kỳ vĩ này, gọi thế vì còn vết tích ở xã Cổ
Loa, huyện Đông Anh. Ba chức năng quan trọng được thành Cổ Loa xưa thực
hiện là: quân thành, thị thành, và đặc biệt là Kinh thành. Vì có đến 2 lần, Cổ Loa
là kinh đô nước Việt. Lần thứ nhất, ngay khi khởi dựng vào thế kỷ III trước
Công nguyên, Cổ Loa là kinh đô của triều đại An Dương Vương. Lần thứ hai,
vào thế kỷ X, Cổ Loa là Kinh đô của Ngô Vương Quyền.
BTV §oµn x· V¨n M«n, Yªn Phong, B¾c Ninh.