Ngân hàng CTHK - Ứng dụng mô hình chi phí ngân hàng với sự trợ giúp của phần mềm Eviews - Pdf 92

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
Chi phí - những nhân tố ảnh hưởng đến chi phí luôn là một vấn đề
quan trọng cho bất kỳ một doanh nghiệp nào, để đảm bảo được hoạt động
kinh doanh một cách có hiệu quả thì phi phí cần phải được quan tâm
đúng mức và giám sát thường xuyên. Bởi rằng mục tiêu của mỗi doanh
nghiệp trong bất kỳ thời đại nào là tối đa hoá lợi nhuận hoặc cực tiểu hoá
chi phí. Từ việc tìm hiểu và phân tích chi phí của doanh nghiệp thay đổi
như thế nào qua các năm, xem xét nó có tuân theo quy luật nào? Những
nhân tố nào có ảnh hưởng đến sự thay đổi của chi phí và cuối cùng là có
thể mô hình hoá được nó hay không? Việc mô hình hoá sẽ giúp chúng ta
biết được những nhân tố nào có ảnh hưởng thực sự và mức độ ảnh hưởng
của chúng. Những câu hỏi trên sẽ được trả lời trong báo cáo này với sự
trợ giúp của phần mềm Eviews.
Ngân hàng là một tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế.
Ngân hàng bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế
nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương mại
thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về qui mô tài sản, thị phần và số lượng
các ngân hàng. Là một trong những mắt xích quan trọng của bất kỳ một
nền kinh tế nào, trung gian tài chính, một nhân vật không thể thiếu trong
nền kinh tế quốc dân. Ngân hàng cũng là một doanh nghiệp, một doanh
nghiệp đặc biệt, nên mục tiêu ngân hàng luôn theo đuổi cũng là cực đại
hoá lợi nhuận, hay tối thiểu hoá chi phí. Xuất phát từ mục tiêu trên, nên
khi được tạo điều kiện thực tập tại ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm
em đã có ý tưởng muốn thành lập mô hình chi phí của ngân hàng, ước
lượng mô hình nhờ sự trợ giúp của phần mềm Eviews. Để xây dựng mô
hình chi phí cho ngân hàng phải dựa trên mô hình chi phí của các doanh
nghiệp kinh doanh, hay chính là lý thuyết về hàm chi phí. Tuy nhiên chi
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
phí của ngân hàng ở đây khác với mô hình chi phí của các doanh nghiệp,

Luật tổ chức tín dụng của nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam ghi: “Hoạt động của ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và
dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng
số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
Như vậy, Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh
trên lĩnh vực tiền tệ thông qua các nghiệp vụ huy động các nguồn để cho
vay, đầu tư và thực hiện các nghiệp vụ tài chính khác.
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển
Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với sự phát
triển của nền sản xuất hàng hóa. Quá trình phát triển kinh tế là điều kiện
đòi hỏi sự phát triển của ngân hàng; đến lượt mình sự phát triển của hệ
thống ngân hàng trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế.
Ngân hàng được ra đời từ rất lâu, hình thức đầu tiên của ngân hàng
là ngân hàng của các thợ vàng hoặc ngân hàng của những kẻ cho vay
nặng lãi. Hình thức cho vay chủ yếu là cho vay thấu chi - tức là cho phép
khách hàng chi nhiều hơn số tiền gửi tại ngân hàng, một hình thức cho
vay chứa đựng nhiều rủi ro. Và chính vì thế, thực trạng này đã đẩy nhiều
ngân hàng đến chỗ mất khả năng thanh toán và phá sản, gây khó khăn cho
các hoạt động thanh toán, ảnh hưởng tới hoạt động buôn bán. Hơn nữa lãi
suất cao nên những nhà buôn không thể sử dụng nguồn vay này. Trước
tình hình này nhiều nhà buôn đã góp vốn lập thành ngân hàng, với chức
năng chủ yếu là tài trợ ngắn hạn và thanh toán hộ... Ngân hàng này được
gọi là ngân hàng thương mại.
Sau này sự phá sản của các ngân hàng thương mại đã gây tổn thất
cho người gửi tiền là nguyên nhân dẫn đến hình thành ngân hàng tiền
gửi... Và ngân hàng Trung ương ra đời với chức năng điều tiết hệ thống
ngân hàng và nền kinh tế.
Quá trình phát triển của ngân hàng đang tạo ra mối liên hệ chặt chẽ,

2.2. Tạo phương tiện thanh toán
Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của
khách hàng tăng lên, khách hàng có thể mua hàng hoá hoặc dịch vụ. Do
đó, bằng việc cho vay (hay tạo tín dụng) các ngân hàng đã tạo ra phương
tiện thanh toán.
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2.3. Trung gian thanh toán
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu
hết tất cả các quốc gia trên thế giới. Thay vì khách hàng, ngân hàng thực
hiện thanh toán giá trị hàng hoá dịch vụ. Để thanh toán nhanh chóng
thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều
hình thức thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, các loại thẻ... cung cấp
mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi
khách hàng cần. Các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau
thông qua ngân hàng Trung ương hoặc thông qua các trung tâm thanh
toán. Công nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt hiệu quả cao khi quy
mô sử dụng công nghệ đó càng được mở rộng.
II. TÍN DỤNG - HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA NGÂN HÀNG
1. Tín dụng và phân tích tín dụng của ngân hàng
1.1. Khái niệm tín dụng
Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động chính của ngân
hàng thương mại, một hoạt động rất phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro.
Nó là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng nói riêng và của các trung
gian tài chính nói chung, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo
thu nhập từ lãi lớn nhất. Tín dụng là hoạt động tài trợ của ngân hàng cho
khách hàng (còn được gọi là tín dụng ngân hàng).
Tất cả các lý do trên đã cho thấy rằng tín dụng là một hoạt động
cung cấp dịch vụ cho vay, theo nghĩa đơn giản, của ngân hàng cho khách
hàng. Khách hàng ở đây là các cá nhân, các tổ chức, các doanh nghiệp...

khăn, thì đối với ngân hàng khoản vay đó vẫn được đánh giá là khoản vay
tốt. Vì vậy, sự đánh giá chính xác của ngân hàng về năng lực trả nợ của
người vay cũng quan trọng như sự đánh giá về tính cách năng lực quản lý
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
của người vay. Thường thì ngân hàng xem xét hồ sơ hoạt động sản xuất
kinh doanh trước đây của doanh nghiệp, chủ yếu là báo cáo thu nhập
hàng năm. Thêm vào đó, ngân hàng nghiên cứu đề án thực hiện trong
tương lai dưới hình thức dự toán luồng tiền. Thông tin từ báo cáo thu
nhập đưa ra một bức tranh về khả năng tạo thu nhập trong quá khứ của
doanh nghiệp, và nhờ đó cung cấp một cơ sở vững chắc tương đối cho dự
toán thu nhập, chi phí và trả nợ trong tương lai của doanh nghiệp.
Nói đến quyết định của ngân hàng không thể không nói đến vấn đề
bảo đảm tín dụng. Định chế tài chính là một trung gian tài chính không
cho vay tiền của bản thân mình, mà là đi vay để cho vay, nên trách nhiệm
hàng đầu là bảo vệ lợi ích của người gửi tiền. Mặc dù phần lớn các ngân
hàng đều dự tính trước các rủi ro có thể có, những rủi ro này phải được
kiểm soát một cách chặt chẽ để bảo vệ số tiền gửi của khách hàng. Chính
vì vậy, sự an toàn là một vấn đề cần xem xét trước tíên đối với mọi khoản
vay. Do đó, một ngân hàng thường sẽ vay trên cơ sở có đảm bảo để giảm
thiểu rủi ro.
Một chi tiết cuối cùng được bàn luận ở đây là mục đích vay. Mục
đích vay có ảnh hưởng lớn tới chất lượng của khoản vay. Hầu như bất kỳ
một ngân hàng nào cũng thích cấp một khoản tín dụng đúng đắn. Ngân
hàng sẽ xem xét mục đích vay bằng cách xếp loại các yêu cầu vay thành:
các nhu cầu thiết yếu, nhu cầu và mong muốn. Các nhu cầu thiết yếu là
những thứ cần thiết như chi phí hoạt động, hàng dự trữ, nguyên vật liệu,
sửa chữa và thuế. Quyền ưu tiên trước hết phải dành cho việc tài trợ các
nhu cầu thiết yếu và các nhu cầu của người vay, nếu muốn việc kinh
doanh hoạt động được thực hiện hết công suất. Trong nhiều trường hợp,

Thứ nhất, tín dụng vốn lưu động ngắn: là loại tín dụng luôn dựa trên
cơ sở dưới một năm, tài trợ cho sự tăng trưởng từng kỳ về hàng hoá dự
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trữ và các khoản phải thu, hoặc trang trải một nhu cầu ngắn hạn về tiền
mặt cho sản xuất, thanh toán. Loại tín dụng này thường sẽ được thanh
toán bằng việc bán hàng, dự trữ và thu các khoản phải thu.
Thứ hai, tín dụng vốn cố định: là một khoản vay để mua tài sản cố
định như thiết bị, đồ đạc, bất động sản, phương tiện giao thông và trong
một số trường hợp, nhà cửa hoặc những cải tạo nâng cấp bất động sản.
Một khoản vay có thời hạn có thể được lập trong thời gian từ 1-10 năm,
dựa vào thời gian khấu hao tài sản được hình thành bằng vốn vay và
thường được bảo đảm bằng quyền được hưởng các tài sản đó.
Thứ ba, tín dụng luân chuyển dành cho các khoản phải trả hoặc hàng
hoá dự trữ: loại tín dụng này thường không có kế hoạch trả nợ đều đặn.
Các khoản nợ đi từ giấy nhờ thu các khoản phải thu theo khoản vay, số
giải ngân mới được thực hiện khi bán hoặc mua hàng dự trữ. Số cho vay
lớn nhất luôn được xác định bằng cách dựa trên số hàng hoá dự trữ hoặc
số phải thu trên sổ sách của người vay vào một ngày nhất định.
Thứ tư, tín dụng dự phòng: là một khoản vay sử dụng trước khi bán
một tài sản trước khi thực hiện tái tài trợ. Loại tín dụng này luôn là ngắn
hạn, mặc dù nhiều khi thời hạn dài khoảng vài năm và xoá một nguồn trả
nợ được xác định một cách rõ ràng – các khoản thu bán hàng hoặc tái tài
trợ. Một khoản vay xây dựng, tài trợ thanh toán định kỳ cho chủ thầu xây
dựng trong một dự án xây dựng và được thanh toán bằng khoản thu từ
việc tài trợ cầm cố lâu dài theo việc hoàn thành dự án là một dạng tín
dụng tạm thời.
Thứ năm, tín dụng vốn hoạt động dài hạn: là loại tín dụng mà phần
lớn ngân hàng tiến hành liên tục, mặc dù nó thường không được hiểu
đúng bản chất. Một khoản vay thuộc loại này trở nên rất giống với vốn

11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chi phí cho tiền lương : chi trả lương công nhân viên chức của ngân
hàng
Chi phí khác: các chi phí khác phát sinh trong các hoạt động của ngân
hàng
2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí của ngân hàng
2.1. Lãi xuất đi vay
Trong tổng chi phí của ngân hàng thì chi phí cho hoạt động huy động
vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất. Chi phí này cụ thể là chi phí trả lãi cho các
hộ gia đình và các tổ chức tín dụng khác. Vì vậy, một nhân tố ảnh hưởng
tới chi phí này là lãi suất đi vay của ngân hàng thương mại.
Khi lãi suất đi vay tăng dẫn đến khoản tiền chi trả của ngân hàng đối
với các tổ chức gửi tiền và các tổ chức tín dụng khác tăng, điều này làm
tăng chi phí giao dịch của ngân hàng.
2.2. Tính thanh khoản của ngân hàng
Khi ngân hàng kém trong khả năng thanh khoản (lượng tiền mặt trong
két không đủ thanh toán cho khách hàng, không đủ chi trả lãi cho khách
hàng...) cũng có thể làm phát sinh chi phí và làm tăng chi phí giao dịch
của ngân hàng. Khi ngân hàng bị rơi vào tình trạng này, việc huy động
thêm vốn trên thị trường liên ngân hàng, đi vay các tổ chức tín dụng khác
là điều kiện bắt buộc nếu muốn duy trì sự tồn tại cũng như uy tín của
ngân hàng không bị giảm sút. Việc huy động vốn trong trường hợp này
ngân hàng sẽ phải trả một khoản tiền rất cao vì lãi suất cho các món vay
này thường rất cao. Tính thanh khoản một phần được thể hiện ở số dư
tiền mặt tại ngân hàng và ở các máy ATM.Vì vậy, tính thanh khoản của
ngân hàng cũng có thể ảnh hưởng tới chi phí của ngân hàng.
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2.3. Chính sách của ngân hàng Nhà nước

lý do lãi suất chi trả cho tiền gửi bao giờ cũng bé hơn lãi suất mang lại từ
20
20đầu tư. Do vậy, việc tăng đầu tư có thể làm giảm chi phí của ngân
hàng. Mặt khác, nó cũng có thể phát sinh những rủi ro tiềm tàng làm tăng
chi phí của ngân hàng. Nhưng thường thì ngân hàng sẽ thận trọng trong
việc đầu tư để thu được hiệu quả cao nhất.
VI. MÔ HÌNH CHI PHÍ CHO NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1. Bài toán chung của các công ty
Bài toán chung của công ty, là bài toán cực đại lợi nhuận với ràng
buộc về công nghệ cho trước. Lợi nhuận bằng doanh thu trừ chi phí;
doanh thu là mức đầu ra nhân với giá của đầu ra; chi phí là tổng trên tất
cả các đầu vào của mức đầu vào nhân với tiền công của mỗi đầu vào.
Trong lý thuyết tân cổ điển, công nghệ được biểu diễn bằng hàm sản xuất,
một mối quan hệ kỹ thuật trên cơ sở những xem xét vật lý hoặc công
nghệ chỉ đầu ra (cực đại) có thể đạt được đối với các tổ hợp khác nhau
của tất cả các yếu tố sản xuất đầu vào có thể có. Trong trường hợp một
công ty sản xuất một đầu ra đơn lẻ từ hai đầu vào, hàm sản xuất có thể là:
Y= f(x
1
,x
2
) (1)
Trong đó y là mức cực đại có thể của đầu ra, còn x
1
và x
2
là các mức
của đầu vào và hàm f là hàm được giả định là khả vi liên tục, do đó có các
đạo hàm riêng liên tục.
Hàm sản xuất này chỉ ra mức đầu ra y gắn với một tổ hợp bất kỳ của

1
x
1
+
w
2
x
2
), p là giá của đầu ra w
1
và w
2
là giá của đầu vào. Khi ràng buộc hàm
sản xuất được thế vào biểu thức lợi nhuận, bài toán này có thể phát biểu
như bái toán không có ràng buộc:
21
x,,
Max
x
π
=p.f(x
1
,x
2
)- w
1
x
1
- w
2


=


w
x
f
p
x
π
(5)
Các điều kiện này đòi hỏi rằng:
2,1, ===


j
p
w
MP
x
f
j
j
j
(6)
Ở đây các đạo hàm riêng của các sản phẩm cận biên MP
j
, được định
nghĩa xấp xỉ trong trường hợp rời rạc là lượng tăng trong đầu ra trên một
đơn vị tăng trong đầu vào khi đầu vào kia được giữ cố định. Các điều

12
bằng w
1
/w
2.
Cân bằng của công ty có thể được chỉ ra bằng hình học như trong
hình a). Các đường thẳng là các đường đồng phí, được định nghĩa là quỹ
tích của các tổ hợp đầu vào (x
1
,x
2
) mà đối phó với nó chi phí C, tổng chi
trả cho cả hai đầu vào, là hằng số:
C = (w
1
x
1
+ w
2
x
2
) = hằng số (8)
Lấy vi phân toàn phần đồng nhất thức này ta có:
w
1
dx
1
+ w
2
dx

2
1
1
=


+


dx
x
f
dx
x
f
(12)
Cho nên độ dốc của đường đồng lượng bất kỳ tại một điểm bất kỳ
được cho bởi:
12
2
1
2
1
1
2
MRTS
MP
MP
x
f

2211
a) Các dải mở rộng đối với công ty
Như vậy, độ dốc của đường đồng lượng là âm của tỷ suất thay thế
cận biên, nói chung nó thay đổi khi đầu vào thay đổi như chỉ ra bởi sự
thay đổi độ dốc của một đường đồng lượng bất kỳ khi một đầu vào được
thay thế cho một đầu vào khác.
Cân bằng của công ty ở dài hạn khi cả hai đầu vào có thể thay đổi tự
do, xảy ra tại điểm tiếp xúc của một đường đồng phí với một đường đồng
17
y
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
lượng. Chỉ tại một điểm như thế, đầu ra đạt cực đại với một chi phí cho
trước. Mệnh đề thứ nhất suy từ việc di chuyển dọc theo một đường đồng
phí bất kỳ: nếu tại một điểm bất kỳ, nó cắt một đường đồng lượng thì có
thể tăng đầu ra mà không cần thêm một chi phí nào - bằng cách di chuyển
về phía tiếp xúc. Tương tự, khi di chuyển dọc theo một đường đồng
lượng bất kỳ, nếu tại một điểm bất kỳ nó cắt một đường đồng phí thì có
thể giảm chi phí trong khi giữ đầu ra không đổi - bằng cách di chuyển về
phía điểm tiếp xúc. Quỹ tích của các tiếp điểm tiếp xúc của các đường
đồng lượng và các đường đồng phí là tập hợp các điểm cân bằng có thể
có đối với công ty; nó được gọi là dải mở rộng.
Các điểm cân bằng A
1
,A
2
,A
3
,A
4
,... có thể có dọc theo dải mở rộng

C(y) tại mỗi y (16)
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Vì tại mọi điểm ngoài các điểm mà đối với nó hai dải mở rộng cắt
nhau, trong ngắn hạn kéo theo việc sản sinh một mức riêng của đầu ra y
với chi phí cao hơn.
Các đường chi phí trung bình ở dài hạn và ngắn hạn được định nghĩa
như sau:
y
yC
yAC
y
yC
yAC
s
s
)(
)(,
)(
)( ==
(17)
dy
ydC
yMC
dy
ydC
yMC
s
s
)(

P
0 Y Y
s
Y
L
Y
Hình b). Các đường chi phí và các mức cân bằng của đầu ra
C(0) = 0 (19)
Tuy nhiên, ở ngắn hạn có một số các yếu tố cố định, và do đó sẽ có
một chi phí nào đó tại đầu ra 0 – chi phí cố định nghĩa bởi:
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
C
s
(0) = FC>0 (20)
Ví dụ, nếu C
s
(y) biểu thị đường chi phí ngắn hạn tưng ứng với dải
mở rộng ngắn hạn thì FC = w
2
x
2
. Cả đường chi phí dài hạn lẫn ngắn hạn
phải tăng khi đầu ra tăng và thoả mãn bất đẳng thức (16). Hai đường này
sẽ tiếp xúc nhau tại mức đầu ra tương ứng với điểm cắt nhau của giải mở
rộng ngắn hạn và dài hạn (VD, y trong hình a) cũng được chỉ ra trong
hình b). Hình dạng của các đường chi phí phản ảnh những giả thiết đằng
sau liên quan tới công nghệ - rằng đầu tiêu chi phí tăng với tốc độ giảm
dần, tương ứng với sự chuyên môn hoá tăng lên và phân công lao động,
trong khi tại các mức đầu ra cao hơn chi phí tăng với tốc độ tăng dần,

π
(21)
Nên cực đại lợi nhuận từ việc lựa chọn đầu ra dẫn tới việc chọn y
sao cho:
0)()()( ===−= yMcpy
dy
dC
py
dy
d
π
(22)
Như vậy điều kiện cấp một cực đại lợi nhuận là:
P = Mc (y) (23)
Điều kiện cấp hai là:
0
)(
2
2
2
2
≤−=−
dy
ydMC
dy
Cd
dy
d
π
(24)

21
== jpwwxx
jj
(27)
Hệ phương trình này được gọi là hệ thống các hàm cầu yếu tố.
Chúng cũng được gọi là các hàm cầu dẫn xuất bởi vì chúng được dẫn
xuất từ cầu đối với các sản phẩm sản xuất của công ty đó.
njpwwwxx
njj
,...,2,1),,,...,,(
21
==
(28)
Ở đây w
j
là giá của đầu vào j. Nếu giá đầu ra và tất cả các tiền công
ngoài chính đầu vào đó được giữ cố định thì đường cong thu được:
),,...,,()(
21
pwwwwxwDx
njjjjj
==
(29)
Là hàm cầu yếu tố thứ j.
Mức tối ưu của đầu ra cũng là một hàm của các giá đầu vào và giá đầu ra.
Trong trường hợp hai đầu vào thì:
{ }
),,(),,,(),,(
21221121
pwwxpwwxfpwwyy ==

21211
=≡


(33)
Nó cùng với các đồng nhất thức
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
[ ]
),,...,,(),...,,,...,,(
21211
pwwwxpwwwxfy
nnn

(34)
[ ]
),,...,(),,...,,(),...,,,...,,(
1
1
21211
pwwxwpwwwxpwwwxpf
n
n
j
jjnnn

=
−≡
π
(35)



là dương và chúng bổ sung nếu
đạo hàm riêng này âm.
Một tập hợp các kết quả khác là các điều kiện dấu đối với các đầu vào và
đầu ra cực đại lợi nhuận.
0<


j
j
w
x
(37)
0>


p
x
j
, với một vài j nào đó (38)
0>


p
y
(39)
0<



x
j
j



−=


,
(41)
Đầu vào mà đối với nó thoả mãn điều kiện:
j
j
w
y
p
x


−=


<0 (42)
được gọi là đầu vào thứ cấp. Như vậy, đối với thứ cấp thì cầu giảm khi
giá đầu ra (và vì thề cả đầu ra) tăng, hoặc tương đường, đối với nó đầu ra
tăng khi giá yếu tố tăng. Do (38) và (40) không phải tất cả các đầu vào
đều có thể là thứ cấp.
Một tập hợp khác suy ra từ tính thuần nhất của các phương trình cầu
yếu tố và hàm cung đầu ra. Việc nâng giá và giá yếu tố lên một thừa số

x
j
),,...,,(
21
pwww
n
αααα
= x
j
),,...,,(
21
pwww
n
mọi j, mọi
α
>0 (43)
Hàm cung:
y
),,...,,(
21
pwww
n
αααα
= y
),,...,,(
21
pwww
n
mọi
α


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status