MCA&TðK
•
7 Chương 1
TỔNG QUAN VỀ
CUNG CẤP ðIỆN CHO GIAO THÔNG ðIỆN
1.1. SƠ LƯỢC VỀ GIAO THÔNG ðIỆN
Các lĩnh vực sử dụng giao thông ñiện bao gồm: giao thông ñường sắt có ñầu máy
ñiện kéo các toa xe chở hàng hoặc chở khách, ñoàn tàu gồm các toa xe gắn môtơ ñiện
thường dùng chở khách trên các ñường ngoại ô ở các thành phố lớn; giao thông thành
phố có tàu ñiện bánh sắt, xe ñiện bánh hơi, tàu ñiện ngầm; giao thông công nghiệp có
ñầu máy ñiện kéo các xe goòng chở than trong các hầm lò, ñầu máy ñiện kéo các toa xe
chở nguyên vật liệu và công nhân trong các xí nghiệp.
Tất cả các loại giao thông ñiện sử dụng trong các lĩnh vực nêu trên có chung một
cơ sở nguyên lý làm việc và có thể biểu thị khái quát quá trình làm việc bằng sơ ñồ khối
sau ñây:
Hình 1.1
Trên sơ ñồ: Hình 1.1.
Tầu ñiện bánh sắt ở Hà Nội ñược sử dụng từ những năm 1920, ñồng thời cũng
trong khoảng thời gian ñó ñầu máy ñiện ñược áp dụng ñể chở than từ các hầm lò ñến
bến Cửa Ông (Quảng Ninh) và các ñàu máy ñiện chở goòng trong khai thác than dưới
hầm lò.
Ngót 70 – 80 năm ở Việt Nam giao thông ñiện ở mỏ than Quảng Ninh cũng như ở
Hà Nội ñã ñược khai thác. ðó là các hệ thống ñiện một chiều, nguồn ñiện là các máy
phát ñiện một chiều, còn ñộng cơ ñiện kéo là ñộng cơ ñiện một chiều kíck từ nối tiếp.
Từ sau ngày giải phóng (1954) ñến nay ñã sửa chữa và ñổi mới như thay các trạm phát
ñiện bằng các trạm chỉnh lưu bán dẫn, riêng ở thành phố Hà Nội thì hệ thống giao thông
ñiện ñã quá cũ và bị xoá bỏ hoàn toàn từ năm 1980.
Áp dụng giao thông ñiện trong ngành ñường sắt, giao thông thành phố và vận tải
công nghiệp có những ưu việt sau:
1. Giao thông ñiện cho phép nâng cao công suất kéo của ñầu máy tương ñối dễ
dàng nhờ công suất lớn, tốc ñộ lớn nên khả năng chuyên chở và khả năng
thông qua nhanh.
2. Hiệu suất của giao thông ñiện lớn. Nếu không tính ñến tổn hao ñiện năng trong
hệ thống cung cấp ñiện cũng như tổn hao ở nhà máy ñiện (nhiệt ñiện) thì hiệu
suất bằng 29,5 – 33,4%, trong khi ñó giao thông ñiêzen có trị số hiệu suất là
22,8 –23,8%. Như vậy hiệu suất của ñầu máy ñiện cao hơn của ñầu máy ñiêzen
khoảng từ (6,7 – 9,6%).
3. Trên ñầu máy ñiện không có các bộ phận làm việc ở nhiệt ñộ cao và chuyển
ñộng tịnh tiến qua lại như ở ñầu máy ñiêzen, do vậy ít sửa chữa, giảm chi phí
khai thác.
4. Do ñặc tính cơ ñiện, ñầu máy ñiện có gia tốc lớn hơn ñầu máy ñiêzen, do ñó sử
dụng ñầu máy ñiện ở ñoạn ñường nhiều chỗ ñỗ rất thuận lợi. Vì vậy người ta
thường dùng ñầu máy ñiện chạy ở các khu vực ngoại ô thành phố ñể chuyên
chở hành khách.
5. ðộng cơ ñiện là loại ñộng cơ duy nhất mang tính chất biến ñổi năng lượng
thuận nghịch. Vì vậy ñầu máy ñiện ở chế ñộ kéo nó là ñộng cơ tiêu thụ ñiện
năng, ở chế ñộ hãm nó là máy phát ñiện ñưa ñiện năng trở về lưới. Nhờ
cho phép hoàn vốn ñầu tư nhanh.
2. Tính cơ ñộng của ñầu máy ñiện yếu hơn so với ñầu máy ñiêzen.Nhất là khi xảy
ra chiến tranh. Vì ngoài ñường sắt, công trình ñường sắt và bản thân ñầu máy
còn có cả hệ thống mạng lưới cung cấp ñiện năng.
3. Sử dụng sức kéo ñiện gây nên những ảnh hưởng ñối với các hệ thống khác như
ảnh hưởng ñiện từ trường ñối với ñường dây thông tin liên lạc, ảnh hưởng
dòng ñiện rò, phá hoại các công trình ngầm dưới lòng ñất... Các ảnh hưởng ñó
ñã ñược nghiên cứu và có các biện pháp khắc phục, giảm thiểu.
1.2. CÁC DẠNG GIAO THÔNG ðIỆN
Giao thông ñiện có thể phân thành loại lấy ñiện từ mạng tiếp xúc và loại tự hành.
Phổ biến, phát triển nhất là loại giao thông ñiện tiếp xúc tức nhận ñiện năng từ dây dẫn
tiếp xúc tức là phải có một hệ thống cung cấp ñiện kéo bao gồm: mạng ñiện tiếp xúc,
trạm ñiện kéo và hệ thống ñiều khiển cung cấp ñiện.
Giao thông ñiện tự hành: ñiện năng cần thiết cho việc vận chuyển ñược sản sinh
bởi máy phát ñiện ñặt trên ñầu máy (ñoàn tàu). ðiện năng sinh ra bởi các máy phát ñiện
ñược ñưa ñến các ñộng cơ ñiện kéo.
Khảo sát ñặc tính của từng dạng giao thông ñiện – giao thông ñiện tiếp xúc và
giao thông ñiện tự hành, theo sơ ñồ hình 1.2.
Phát triển và phổ biến nhất là giao thông ñiện với lưới ñiện tiếp xúc. ðặc biệt là
giao thông ñiện trong vận tải ñường sắt và vận tải hành khách trong thành phố. Trên
ñường sắt sức kéo dùng ñể dịch chuyển ñoàn tàu trên ñường ray gọi là ñầu máy. ðầu
máy nhận năng lượng ñiện từ mạng dây tiếp xúc gọi là ñầu máy ñiện. ðầu máy ñiện chở
hàng dùng ñể kéo các toa xe hàng nặng có lức kéo lớn nhưng tốc ñộ cực ñại không cao
(nhỏ hơn 110Km/h), ñầu máy chở khách có tốc ñộ tương ñối cao (160,180Km/h và có
thể ñạt 200Km/h và hơn nữa)
Hình 1.2. Các dạng giao thông ñiện
Dựa vào loại hình sức kéo ñiện ñược áp dụng, người ta phân thành ñầu máy ñiện 1
chiều, ñầu máy ñiện xoay chiều và ñầu máy ñiện hỗn hợp.
Phần cơ của ñầu máy bao gồm thùng xe và giá ñỡ chuyển ñộng. Thùng xe gồm 1
ðường sắt
– ðầu máy ðiêzen
– ðầu máy chạy khí
– ðoàn tàu ðiêzen
Không ray
– Vận tải ñiện
bánh hơi
– Vận chuyển
hàng bánh hơi
– Vận tải ñặc
biệt
MCA&TðK
•
11
của ñộng cơ ñiện kéo và của bánh xe dẫn ñộng có thể thay ñổi (về khoảng cách) trong
một giới hạn nhất ñịnh. Vì thế truyền ñộng sức kéo với tất cả các sự thay ñổi ñó cần
phải ñảm bảo truyền ñộng tin cậy của mômen quay từ ñộng cơ ñiện kéo ñến cặp bánh xe
dẫn ñộng. Các yêu cầu ñể có thể thực hiện ñược bằng biện pháp kỹ thuật là trên ñộng cơ
ñiện kéo và và ứng dụng trong truyền ñộng ñiện kéo những phân tử ñàn hồi.
Trên khung giá ñỡ ñặt bộ phận hãm cơ khí, các phần tử lò xo treo, những thiết bị
cơ và ñiện còn lại, máy biến thế, các phần tử biến ñổi, khởi ñộng, hãm. Thiết bị ñiều
khiển và các máy phụ ñặt ở trên thùng ñầu máy. Cần tiếp ñiện và một phần thiết bị ñặt ở
trên nóc ñầu máy.
Kết cấu ñại ña số các ñầu máy cho phép sử dụng nhiều ñơn vị ñầu máy như một
tập hợp, trong ñó những ñầu máy riêng lẻ ñược nối với nhau ñể tăng sức kéo, còn chỗ
ñiều khiển sử dụng trên hệ thống ñiều khiển của một ñầu máy (trong một buồng lái của
lái tầu). Khi hãm các ñầu máy sử dụng hãm ñiện (ñiện trở, tái sinh) và hãm cơ khí. hãm
thường ñoàn tầu chạy ñiện cho phép thành lập từ 4,6,8,9,11 toa phụ thuộc vào lưu lượng
hành khách.
Các toa xe cuối và ñầu ñoàn tầu chạy ñiện có buồng lái cho người ñiều khiển và
nhanh chóng quay nhanh ñoàn tầu ở những ga cuối. Những toa như vậy gọi là toa ñiều
khiển. ðoàn tầu ñiện một chiều ñược sử dụng trên nhiều ñoạn ñường sắt với hệ thống
ñiện khí hoá bằng dòng ñiện một chiều, ñối với hệ thống dòng ñiện xoay chiều một pha
tần số công nghiệp ñiện áp 25kV có các ñoàn tầu ñiện xoay chiều sử dụng các ñộng cơ
ñiện kéo một chiều với chỉnh lưu bán dẫn hoặc các ñộng cơ xoay chiều không ñồng bộ.
Tất cả các ñoàn tầu chạy ñiện cùng với hãm cơ khí ñược lắp ñặt hệ thống hãm ñiện –
hãm tái sinh và hãm ñiện trở. Hiệu quả của hãm tái sinh sẽ rất cao khi sử dụng các toa
xe tự hành trên những không gian ngắn có mật ñộ vận chuyển lớn và cho phép tiết kiệm
ñến 30% ñiện năng.
ðường sắt tốc ñộ cao trên ñó cho phép các ñoàn tầu ñặc biệt chạy với tốc ñộ hơn
200km/h. Khái niệm ñường sắt tốc ñộ cao xuất hiện sau khi ñưa vào khai thác tuyến
ñường sắt chuyên dụng ñầu tiên tại Nhật vào năm 1964. ðến năm 2001 tại 15 nước trên
thế giới ñã khai thác hơn 5000km ñường sắt tốc ñộ cao.
Trong các thành phố, giao thông ñiện có các dạng sau: xe ñiện bánh sắt, xe ñiện
bánh hơi, xe ñiện ngầm.
Xe ñiện bánh sắt – một loại giao thông thành phố trên ray với sức kéo ñiện lấy
năng lượng ñiện theo ñường dây tiếp xúc. ðường ray là bộ phận không tách rời của
mạng ñiện kéo vì theo mạch ray dòng ñiện quay trở về trạm ñiện kéo theo ñường dây
về.
Xe ñiện gồm thùng xe trên giá ñỡ khung xe 2 trục, trên phần trước của thùng xe
ñặt buồng lái cho lái tầu, phần còn lại là ghế ngồi của hành khách. Các ñộng cơ ñiện kéo
ñặt trên giá ñỡ khung xe thường có số lượng ñộng cơ ñiện kéo bằng số lượng trục xe.
Các thiết bị ñiện khác còn lại ñặt dưới gầm thùng xe hoặc trên nóc thùng xe. Ngoài toa
xe gắn ñộng cơ ñiện kéo có thể móc thêm các toa xe không gắn ñộng cơ ñiện kéo,
thường thường cứ một toa xe gắn ñộng cơ ñiện kéo nối với một hoặc hai toa xe không
gắn ñộng cơ ñiện kéo.
ðể cung cấp ñiện cho xe ñiện bánh sắt thường dùng hệ thống dòng ñiện một chiều