Phương pháp JIT Nhóm 3- QT1.2
ĐỀ TÀI
PHƯƠNG PHÁP JIT- JUST IN TIMEGiảng viên hướng dẫn :
Sinh viên thực hiện :
Trang 1
Phương pháp JIT Nhóm 3- QT1.2
******************
Sinh viên thực hiện : .........................................................................................................1
Trang 2
Phương pháp JIT Nhóm 3- QT1.2
I. Mục đích
Mục đích của nghiên cứu này là cung cấp cho người quản lý logistics một sự hiểu biết
phong phú hơn những gì JIT có thể áp dụng :
- Quản lý hậu cần các chức năng.
- Hiệu quả hoạt động của công ty.
II. Sự hình thành và phát triển
1.Hình thành
Từ những năm 1930 của thế kỷ 20, hãng Ford đã áp dụng các dây chuyền lắp ráp
theo phương châm JIT. Henry Ford là người đã phát minh và áp dựng phổ biến các dây
chuyền sản xuất trong hệ thống nhà máy của mình. Tuy nhiên, đó mới chỉ là sơ khai của
JIT.
Đến những năm 1970, quy trình sản xuất theo mô hình JIT này mới được hoàn thiện
và tổng kết thành lý thuyết. Nó được phát triển và hoàn thiện bởi Ohno Taiichi (Phó tổng
giám đốc sản xuất) của Toyota, người mà bây giờ được xem như cha đẻ của JIT. Taiichi
Ohno phát triển những triết học này như một phương tiện nhằm thỏa mãn các yêu cầu của
khách hàng với thời gian nhanh nhất. Trong công cuộc công nghiệp hoá sau Đại chiến thế
giới thứ 2, nước Nhật thực hiện chiến lược nhập khẩu công nghệ nhằm tránh gánh nặng chi
phí cho nghiên cứu và phát triển (R&D) và tập trung vào việc cải thiện quy trình sản xuất
+ Các chi tiết riêng lẽ: đúng thời điểm lắp ghép chúng thành các cụm chi
tiết.
+ Vật liệu thô: đúng thời điểm chế tạo chi tiết.
Trong hệ thống sản xuất “đúng thời điểm” hay còn gọi là “hệ thống sản xuất không
dự trữ”, lượng tồn kho được kiểm soát để luôn ở mức tối thiểu và có xu hướng tiến sát đến
mức đơn vị. Điều này sẽ mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp, nhất là giảm đáng kể chi
phí sản xuất và cải thiện chất lượng sản phẩm cũng như tăng cường khả năng đáp ứng nhu
cầu của khách hàng.
2. Áp dụng phương pháp của hãng Toyota Motor
Để thử cùng tìm hiểu JIT trong hệ thống sản xuất Toyota, trước hết cần phân biệt
được hai khái niệm sản xuất truyền thống là tinh xảo (craft) và đại trà (mass). Sản xuất tinh
xảo thường sử dụng các công nhân cực kỳ lành nghề cùng với những công cụ đơn giản
nhưng linh hoạt (đặc biệt trong các ngành nghề thủ công) để tạo ra từng sản phẩm theo ý
khách hàng. Chất lượng của hình thức sản xuất này có lẽ khỏi cần phải bàn, tuy nhiên giá
thành dẫn tới giá bán rất cao là yếu tố làm thu hẹp thị trường. Cũng vì thế mà sản xuất đại
trà đã ra đời, đánh dấu một bước phát triển trong sản xuất đầu thế kỷ 20. Sản xuất đại trà
sử dụng công nhân có tay nghề bậc trung vận hành các máy công nghiệp đơn năng, tạo ra
các sản phẩm được tiêu chuẩn hoá với số lượng rất lớn. Vì giá trị máy móc cũng như chi
phí tái thiết kế rất đắt tiền nên nhà sản xuất đại trà luôn cố gắng giữ các tiêu chuẩn thiết kế
sản phẩm càng lâu càng tốt. Kết quả là giá thành kéo theo giá bán giảm. Tuy nhiên tác
phong công nghiệp làm cho công nhân nhàm chán và mất động lực làm việc. Toyota Motor
đã kết hợp 2 phương thức sản xuất tinh xảo và đại trà, loại bỏ các yếu điểm về giá thành và
sự chặt chẽ công nghiệp, cho ra đời một phương thức sản xuất mới với đội ngũ công nhân
có tay nghề cao được trang bị hệ thống máy móc linh hoạt, đa năng, có khả năng sản xuất
với nhiều mức công suất. Phương thức này được đánh giá là sử dụng ít nhân lực hơn, ít
diện tích hơn, tạo ra ít phế phẩm hơn, và sản xuất được nhiều loại sản phẩm hơn hình thức
sản xuất đại trà. Nền tảng của hệ thống sản xuất Toyota dựa trên khả năng duy trì liên tục
dòng sản phẩm trong các nhà máy nhằm thích ứng linh hoạt với các thay đổi của thị
trường, chính là khái niệm JIT sau này. Dư thừa tồn kho và lao động được hạn chế tối đa,
qua đó tăng năng suất và giảm chi phí. Bên cạnh đó, mặc dù khả năng giảm thiểu chi phí là
quy trình sau phải sản xuất.
3. Đặc trưng
Mức độ sản xuất đều và cố định
Phương pháp JIT đòi hỏi một dòng sản phẩm đồng nhất khi đi qua một hệ thống thì
các hoạt động khác nhau sẽ thích ứng với nhau và để nguyên vât liệu và sản phẩm có thể
chuyển từ nhà cung cấp đến đầu ra cuối cùng. Mỗi thao tác phải được phối hợp cẩn thận
bởi các hệ thống này rất chặt chẽ. Do đó, lịch trình sản xuất phải được cố định trong một
khoảng thời gian để có thể thiết lập các lịch mua hàng và sản xuất. Rõ ràng là luôn có áp
lực lớn để có được những dự báo tốt và phải xây dựng được lịch trình thực tế bởi vì không
có nhiều tồn kho để bù đắp những thiếu hụt hàng trong hệ thống.
Tồn kho thấp
Một trong những dấu hiệu để nhận biết JIT là lượng tồn kho thấp. Lượng tồn kho
bao gồm các chi tiết và nguyên vật liệu được mua, sản phẩm dở dang và thành phẩm chưa
tiêu thụ. Lượng tồn kho thấp có hai lợi ích quan trọng. Lợi ích rõ ràng nhất của lượng tồn
kho thấp là tiết kiệm được không gian và tiết kiệm chi phí do không phải ứ đọng vốn trong
các sản phẩm còn tồn đọng trong kho. Lợi ích thứ hai thì khó thấy hơn nhưng lại là một
khía cạnh then chốt của triết lý JIT, đó là tồn kho luôn là nguồn lực dự trữ để khắc phục
những mất cân đối trong quá trình sản xuất, có nhiều tồn kho sẽ làm cho những nhà quản lý
ỷ lại, không cố gắng khắc phục những sự cố trong sản xuất và dẫn đến chi phí tăng cao.
Phương pháp JIT làm giảm dần dần lượng tồn kho, từ đó người ta càng dễ tìm thấy và giải
quyết những khó khăn phát sinh.
Kích thước lô hàng nhỏ
Đặc điểm JIT là áp dụng kích thước lô hàng nhỏ trong cả hai quá trình sản xuất và
phân phối từ nhà cung ứng. Kích thước lô hàng nhỏ sẽ tạo ra một số lợi ích cho hệ thống
JIT hoạt động một cách có hiệu quả như sau:
Trang 5