Trường.............................
Khoa………………….
TIỂU LUẬN Những hoạt động huy động vốn và
các giải pháp huy động vốn cho các
doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta
hiện nay
LỜI NÓI ĐẦU
cho doanh nghiệp Nhà nước, em chọn đề tài
"Những hoạt động huy động vốn và các giải pháp huy động vốn cho
các doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta hiện nay".
Đề án được chia thành ba phần:
Phần I:
Những vấn đề lí luận cơ sở về hoạt động huy động vốn cho
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Phần II:
Thực trạng việc huy động vốn ở các doanh nghiệp Nhà
nước ở nước ta hiện nay.
Phần III:
Những giải pháp huy động vốn cho doanh nghiệp nhà
nước ở nước ta hiện nay.
Việc tìm ra giải pháp về vốn cho doanh nghiệp nhà nước là một vấn đề
hết sức khó khăn, phức tạp và phải tiến hành thường xuyên trong quá trình
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do thời gian và trình độ hạn chế
nên em không thể tránh khỏi những vướng mắc và khiếm khuyết. Em rất
mong nhận được ý kiến đóng góp của các th
ầy cô giáo và các bạn. Em xin
chân thành cảm ơn đã giúp đỡ em hoàn thành đề án này
Hà nội tháng 9 năm 2001
PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ SỞ VỀ HOẠT ĐỘNG
HUY ĐỘNG VỐN CHO SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH
NGHIỆP.
Để kinh doanh, trước hết cần có vốn, vốn đầu tư ban đầu và vốn bổ sung để
mở rộng sản xuất, kinh doanh. Vốn kinh doanh được hình thành từ nhiều
nguồ
n vốn khác nhau. Căn cứ vào nguồn hình thành vốn, người ta cũng
phân chia xí nghiệp theo nhiều loại khác nhau. Các nguồn hình thành vốn
trình tập trung vốn nhiều khi mang nặng tính chất hình thức. Tuy nhiên
phải thừa nhận rằng cơ chế tập trung quan liêu bao cấp cho phép chúng ta
tập trung vốn một cách nhanh chóng và có hiệu quả để xây dựng các công
trình trọng điểm quy mô lớn. Thực ra, ngay từ xa xưa các nhà kinh tế đ
ã
đánh giá cao vai trò của vốn đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia.
Chẳng hạn, luận điểm: "Lao động là cha, đất đai là mẹ" của mọi của cải vật
chất đã được nhà kinh tế học người Anh Uyliam Petty đưa ra từ thế kỷ
XVI. Điều đó chứng tỏ rằng, ngay từ khi đó người ta đã nhận thức rõ
những yếu tố cơ bản để tạo ra mọi của cải cho xã hội, đó là nguồ
n lực con
người và đất đai, tài nguyên thiên nhiên. Kế thừa những tư tưởng của các
nhà kinh tế cổ điển, Mác đã trình bày quan điểm của mình về vai trò của
vốn qua các học thuyết: Tích lũy, tuần hoàn và chu chuyển, tái sản xuất tư
bản xã hội, học thuyết địa tô... Đặc biệt là Mác đã chỉ ra nguồn gốc chủ yếu
của vốn tích lũy là lao động thặng dư
do những người lao động đặt ra, và
nguồn vốn đó khi đem vào việc mở rộng và phát triển sản xuất thì nó vận
động như thế nào. Khi nghiên cứu nền sản xuất TBCN, Mác đã tìm thấy
qui luật vận động của tư bản (vốn) mà qui luật này nếu ta trừu tượng những
biểu hiện cụ thể về mặt xã hội thì sẽ thấy một điều bổ
ích bằng công thức
SLĐ
TLSX
Công thức đó đã chỉ ra rằng, bất kỳ một nhà doanh nghiệp nào muốn thực
hiện quá trình sản xuất kinh doanh cũng đều phải trải qua 3 giai đoạn: Mua
- Sản xuất - Bán hàng. Và điều quan trọng đối với mỗi người sản xuất, mỗi
doanh nghiệp chính là phải biết phân bổ một cách hợp lý các yếu tố của
tiền v
ó ra, một lực lượng hoàn
toàn mới đã phát triển lên cùng với nền sản xuất TBCN, đó là tín dụng.
Từ đó, Mác khẳng định: "Sự cạnh tranh bắt buộc nhà tư bản, nếu muốn duy
trì tư bản của mình thì phải làm cho tư bản ngày càng tăng thêm và hắn
không thể naò tiếp tục làm cho tư bản đó ngày một tăng lên được, nếu
không có một sự tích lũy ngày càng nhiều thêm".
Một s
ố nhà kinh tế học khác cũng bàn về vốn và tích lũy vốn trong nền
kinh tế, mà tiêu biểu là cuốn "Kinh tế học" của Paul A. Samuelson. Ông
viết: "Hàng tư bản do bản thân hệ thống kinh tế sản xuất để được sử dụng
làm đầu vào của sản xuất để làm ra hàng hoá dịch vụ. Các hàng tư bản lâu
bền này, vừa là đầu ra, vừa là đầu vào, có thể tồn tại một thời gian dài hoặc
m
ột thời gian ngắn. Chúng có thể được cho thuê trên thị trường có tính
cạnh tranh như cho thuê những mẩu đất hoặc những giờ lao động. Tiền trả
cho việc sử dụng tạm thời những hàng tư bản gọi là tiền cho thuê". Ông còn
cho rằng thực chất của tích lũy chính là chúng ta thường chịu bỏ tiêu dùng
hiện nay để tăng tiêu dùng cho tương lai. Như vậy xã hội đầu tư, hay nhịn
tiêu dùng hiện tại, mà chờ để thu được lợi tức do đầu tư đó tạo ra.
Một nhà nghiên cứu kinh tế người Hàn Quốc tên là Sang Sung Part từ thực
tế kinh tế của Hàn Quốc cùng một số tài liệu nghiên cứu của các nước đang
chậm phát triển, ông đã so sánh với nhiều nước phát triển và đi đến k
ết luận
được nhiều người chấp nhận là "Các nước đang phát triển có rất ít khả năng
sản xuất tư liệu sản xuất, đặc biệt là máy móc thiết bị, nhất là trong giai
đoạn đầu của thời kỳ phát triển một nền kinh tế tự cấp, tự túc. Tiết kiệm
bằng tiền của người tiêu dùng sẽ là quá ít ỏi để có thể đầu tư ở
những nơi
còn chưa có khả năng sản xuất ra tư liệu sản xuất".
Từ nhận định trên Sang Sung Part đã định nghĩa về vốn và tổng số vốn như
các nhà kinh tế học từ xưa đến nay như sau:
- Phạm trù vốn phải được hiểu theo nghĩa rộng gồm toàn bộ các nguồn lực
kinh tế khi được đưa vào chu chuyển. Nó không chỉ bao gồm tiền vốn các
tài sản hiện vật như
máy móc, vật tư, lao động, tài nguyên, đất đai... mà còn
bao gồm giá trị của những tài sản cấu hình như vị trí của đất đai, các thành
tựu khoa học và công nghệ...
- Vốn hiểu theo nghĩa trực tiếp là phần giá trị tài sản quốc gia được tích lũy
dưới dạng tiền và giá trị của tài sản hữu hình và vô hình nhằm mục đích
sinh lợi, được chuyển đổi thông qua các hoạt động đầu tư
thành những tư
liệu sản xuất và các phương tiện sản xuất cần thiết khác để sử dụng vào quá
trình đầu tư cho nền kinh tế.
- Vốn trong nước là toàn bộ những yếu tố cần thiết để cấu thành quá trình
sản xuất, được hình thành nên từ nguồn lực kinh tế và sản phẩm thặng dư
của nhân dân lao động trong một quốc gia.
Như vậy, cùng với quan niệm v
ề vốn của kinh tế chính trị Mác xít, các nhà
kinh tế học hiện đại mà tiêu biểu là Paut A. Samuelson cũng đã nghiên cứu
về vốn dưới các góc độ khác nhau, nhưng tất cả những sự nghiên cứu đó
chỉ làm rõ thêm bức tranh toàn cảnh về vốn mà Mác đã phát triển từ lâu.
Để đạt được mục tiêu tích lũy vốn cao thì vấn đề tiếp theo là phải xác định
được mức tích lũy vốn trong GDP cần hướng t
ới trong từng giai đoạn phát
triển của nền công nghiệp. Ứng với mỗi mục tiêu khác nhau thì mức tích
lũy vốn trong nước thường khác nhau, vấn đề là phải xác định được mức
tích lũy vốn chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong GDP sẽ quyết định quá trình tích
tụ và tập trung của các doanh nghiệp. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho
thấy muốn đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế thì tỷ lệ tích lũy vốn trong
nước thường phải chiếm 3% trong GDP.
máy móc thiết bị trong khu vực doanh nghiệp Nhà nước lạc hậu khoảng 2-3
thế hệ, có lĩnh vực như đường sắt, cơ khí, công nghiệp đóng tàu... lạc hậu
4-5 thế hệ. Các doanh nghiệp Nhà nước địa phương chiếm tỉ lệ lớn nhưng
có trình độ công nghệ lạc hậu hơn so với doanh nghiệp Nhà nước TƯ.
Trong số các doanh nghiệp Nhà nước TƯ có 54,3% số doanh nghiệp ở
trình độ
thủ công, 41% ở trình độ cơ khí, chỉ có 3,7% ở trình độ tự động
hoá. Đối với các doanh nghiệp Nhà nước địa phương có tới 94% số doanh
nghiệp ở trình độ thủ công, 2,4% ở trình độ cơ khí và chỉ có 2% ở trình độ
tự động hoá.
Trình độ trang thiết bị công nghệ lạc hậu và quá yếu kém dẫn tới năng
suất lao động của doanh nghiệp Nhà nước còn thấp, gây ảnh hưởng đế
n khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp Nhà nước với các doanh nghiệp khác và
các doanh nghiệp nước ngoài. Do dó, để doanh nghiệp Nhà nước có khả
năng cạnh tranh và nâng cao hiệu quả hoạt động cần phải có vốn (trung và
dài hạn) để đổi mới các dây chuyền công nghệ - qui mô vốn của một doanh
nghiệp Nhà nước của nước ta còn rất nhỏ. Vốn bình quân thực sự hoạt
động của một doanh nghiệp là 10,468 tỷ đồ
ng(các doanh nghiệp cỡ nhỏ của
các nước trong khu vực đều có vốn trên dưới 1 triệu USD). 68% Doanh
nghiệp Nhà nước có vốn dưới 1 tỷ đồng trong đó có 50% doanh nghiệp
Nhà nước có vốn dưới 500 triệu, thậm chí có doanh nghiệp chỉ có vốn vài
chục triệu đồng. Một số ngành có vốn kinh doanh tương đối lớn (Điện lực:
19298 tỷ, Nông nghiệp:7738 tỷ, Ngân hàng tín dụng 2783 tỷ đồng...), tỷ
trọng vốn t
ừng ngành so với tổng số vốn thường không lớn, chẳng hạn, xây
dựng 4,6%; chế biến khoáng sản 3,6%; vận tải bộ 5,1%. Như vậy, ta thấy
rằng, qui mô vốn của từng doanh nghiệp và của ngành rất nhỏ, nguyên
nhân chính là do doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta hiện nay còn quá nhiều