Tài liệu Nước và độ ẩm đối với đời sống sinh vật - Pdf 92



Nước và độ ẩm đối
với đời sống sinh vật - Ý nghĩa của nước đối với sinh vật: Sau
nhân tố nhiệt độ, nước (độ ẩm) là một
nhân tố sinh thái vô cùng quan trọng.
Trong lịch sử phát triển của sinh giới trên
bề mặt trái đất luôn luôn gắn liền với môi
trường nước. Các sinh vật đầu tiên xuất
hiện trong môi trường nước. Quá trình
đấu tranh lên sống ở cạn, chúng cũng
không tách khỏi môi trường nước; nước
cần thiết cho quá trình sinh sản. Sự kết
hợp của các giao tử hầu hết được thực
hiện trong môi trường nước, nước cần
thiết cho quá trình trao đổi chất. Nước
chứa trong cơ thể sinh vật một hàm
lượng rất cao, từ 50 - 90% khối lượng cơ
thể sinh vật là nước, có trường hợp nước
chiếm tỷ lệ cao hơn, tới 98% như ở một
số cây mọng nước, ở ruột khoang (ví dụ:
thủy tức).
Nước là nguyên liệu cho cây trong quá
trình quang hợp tạo ra các chất hữu cơ.
Nước là môi trường hoà tan chất vô cơ và
phương tiện vận chuyển chất vô cơ và
hữu cơ trong cây, vận chuyển máu và các
chất dinh dưỡng ở động vật.

nhất là các loài cây trồng.
- Mưa. Đóng vai trò quan trọng nhất
trong việc cung cấp nước cho các cơ thể
sống. Có các dạng như sau :
+ Mưa rào : thường xuất hiện ở các vùng
nhiệt đới, thời gian mưa không kéo dài
nhưng lượng nước lớn. Tuy cung cấp rất
nhiều nước nhưng mưa rào cũng gây
nhiều thiệt hại như các chồi non của
cây bị hư thối, ngăn chặn sự nảy mầm
của hạt giống và các chồi mầm dưới đất
do mưa lớn làm lớp đất mặt bị nén chặt.
Hoạt động của hệ động vật và vinh sinh
vật ở trong đất bị xáo trộn; nơi ở của
nhiều loài động vật bị phá hủy (hang, ổ).
Ngoài ra mưa lớn còn gây ra nạn xói mòn
và rửa trôi lớp đất mặt và đất bị thoái hóa
thành đất lateritic.
+ Mưa đá: thường xuất hiện vào mùa
nóng, gây tác hại đối với thực vật,
nhất là cây trồng và động vật.
+ Mưa phùn: cung cấp một lượng nước ít
cho cây nhưng kéo dài nhiều ngày nên
duy trì được độ ẩm, hạn chế được sự
thoát hơi nước của thực vật.
- Tuyết: ở vùng ôn đới, lớp tuyết
phủ trên mặt đất có tác dụng nhiều
mặt, đó là tấm thảm xốp cách nhiệt, bảo
vệ cho các chồi cây trên mặt đất và động
vật nhỏ.

lượng nước trong không khí mà nhiệt độ
khác nhau thì độ ẩm tương đối khác
nhau.
Độ hụt bão hoà là hiệu số giữa áp suất
hơi nước trong điều kiện bão hoà và áp
suất hơi nước trong thực tế. Độ hụt bão
hoà có ý nghĩa sinh thái rất quan trọng
bởi sự bốc hơi nước thường tỷ lệ thuận
với độ hụt bão hoà chứ không phụ thuộc
vào độ ẩm tương đối.
Độ ẩm không khí có ảnh hưởng nhiều
đến các sinh vật, nhất là các sinh vật ở
trên cạn. Một số loài sinh vật để đảm bảo
cho hoạt động sống bình thường cần độ
ẩm tương đối. Đối với thực vật, khi độ
ẩm thấp, cường độ thoát hơi nước tăng,
cây bị héo. Còn nếu độ ẩm cao quá mức
thì thời gian ra hoa, kết quả của cây bị
chậm lại. Yêu cầu về độ ẩm của các loài
thực vật không giống nhau, ví dụ như cây
samu sinh trưởng tốt ở nơi có độ ẩm cao,
cây phi lao chịu được độ ẩm tương đối
thấp. Ngoài ra độ ẩm còn ảnh hưởng đến
sự phân bố của thực vật, ví dụ cây mỡ
đòi hỏi không khí ẩm hơn cây chè, nên
sự phân bố tự nhiên của cây mỡ thu hẹp
trong một khu vực nhất định. Tuy vậy,
khi nghiên cứu sự phân bố của sinh vật
không nên dựa vào chỉ số độ ẩm mà phải
dựa vào chỉ số khô hạn.

Thực vật bậc thấp lấy nước qua toàn bộ
bề mặt cơ thể, còn thực vật bậc cao,
ngành Rêu lấy nước trong đất bằng rễ
giả, các ngành còn lại có rễ thật, là cơ
quan chuyên hóa để lấy nước trong đất.
Ngoài ra ở thực vật bậc cao có một số
loài sống bì sinh trong rừng nhiệt đới, có
khả năng hấp thụ nước qua bề mặt lá và
các rễ khí sinh. Ở các loài phong lan
thuộc họ Lan (Orchidaceae) có rễ khí
sinh được bao bọc bởi một màng biểu bì
nhiều lớp xốp, màng này khi trời mưa hút
nước, khi trời khô ráo thì chứa đầy
không khí. Ngoài ra ở nhiều loài sống bì
sinh còn phát triển các mô chứa nước
chuyên hóa.
Có những dẫn liệu cho rằng gai của một
số cây mọng nước (như cây xương
rồng: Cactus) có khả năng hút nước dạng
giọt như những mao quản nhờ cấu trúc
hiển vi đặc biệt. Người ta dùng
những giọt nước có chứa các nguyên
tố đánh dấu nhỏ trên gai của xương
rồng, sau đó thấy trong mô của chúng
có chứa nguyên tố này.
Sự mất nước ở thực vật chủ yếu là bằng
con đường thoát hơi nước. Tốc độ mất
nước được biểu thị bằng cường độ thoát
hơi nước. Số lượng nước thoát ra trong
một giờ trên một đơn vị khối lượng

điều hòa sự vận chuyển nước, hay đúng
hơn là không có khả năng điều chỉnh tích
cực chế độ nước của mình, lượng nước
trong mô phụ thuộc nhiều vào độ ẩm
của môi trường xung quanh. Chúng
hút nước ở dạng sương, sương mù,
nước mưa dễ dàng và chúng cũng sử
dụng phóng khoáng các loại nước đó.
Trong thời kỳ khô ráo, chúng có thể
mất hết nước và sống tiềm sinh. Thuộc
nhóm này có các loài tảo lục sống trên vỏ
cây; đất ẩm trong rừng, rêu, dương xỉ và
cả một vài loài thực vật có hoa.
Các nhóm thực vật liên quan đến chế độ
nước: theo độ tập trung
đến các nơi ở có chế độ nước khác nhau
mà người ta chia thực vật trên cạn ra 4
nhóm sinh thái cơ bản : nhóm cây ngập
nước định kỳ, nhóm cây ưa ẩm, nhóm
cây chịu hạn và nhóm cây trung sinh.
- Nhóm cây ngập nước định kỳ. Bao gồm
những loài thực vật sống trên đất bùn dọc
bờ sông, cửa sông, cửa biển chịu tác
động định kỳ của thủy triều. Đây là môi
trường không thuận lợi đối với nhiều loài
thực vật trên cạn. Chỉ có một số loài có
khả năng thích nghi. Đặc biệt là ở các
bãi lầy ven biển, cửa sông vùng nhiệt đới
có những loài cây gỗ, cây bụi hình thành
nên quần xã rừng ngập nước mặn,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status