Tài liệu Đề tài “Mở rộng và nâng cao hiệu quả KTĐN ở nước ta theo hướng tăng khả năng cạnh tranh và chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế” - Pdf 92





Đề Tài : Mở rộng và nâng cao hiệu quả
KTĐN ở nước ta theo hướng tăng khả
năng cạnh tranh và chủ động hội nhập
kinh tế khu vực và quốc tế
Ngày nay, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một xu thế
phát triển tất yếu của lịch sử. Chính vì vậy, chiến lược KTĐN cần được mở rộng
và nâng cao theo hướng tăng khả năng cạnh tranh và chủ động hội nhập với nền
kinh tế trong khu vực và nền kinh tế thế giới. Thực tiến lịch sử có thể chứng
minh, nhiều quốc gia đã phát triển nền kinh tế trong nước thành công thông qua
chiến lược KTĐN, tận dụng các điều kiện hợp tác quốc tế và khai thác tốt các
2
nguồn lực ở bên ngoài. Chẳng hạn, Anh, Pháp, Bỉ, Tây Ban Nha... đã tận dụng
ưu thế đường biển để tăng cường trao đổi buôn bán với nước ngoài nhằm mục
tiêu mở rộng thị trường, phát triển nền kinh tế. Ngược lại chính sách đóng cửa
nền kinh tế, bế quan tỏa cảng có thể dẫn đến sự tụt hậu rất xa so với các nước
khác.
Nền kinh tế Việt Nam, với xuất phát điểm là một nền nông nghiệp lạc hậu, cơ
sở hạ tầng thấp kém, do đó không thể phát triển nếu không có chiến lược KTĐN
hợp lý, chủ động hội nhập với nền kinh tế khu vực và hợp tác kinh tế quốc tế.
Nhận ra tầm quan trọng của KTĐN, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương “đa
dạng hóa, đa phương hóa” các mối quan hệ kinh tế quốc tế, nêu rõ quan điểm
Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu
vì hòa bình, độc lập và phát triển.
Với những ý nghĩa và tầm quan trọng nêu trên, tác giả xin đi sâu vào phân
tích vấn đề “Mở rộng và nâng cao hiệu quả KTĐN ở nước ta theo hướng
tăng khả năng cạnh tranh và chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc
tế”.


Ban đầu, do sự khác biệt về điều kiện tự nhiên giữa các quốc gia như đất đai,
khí hậu, khoáng sản...dẫn đến tình trạng mỗi quốc gia có khả năng sản xuất một
số loại sản phẩm nào đó và trao đổi cho nhau để cân bằng phần dư thừa sản
phẩm này với sự thiếu hụt về sản phẩm khác.
Sau đó, sự phát triển không đồng đều về kinh tế và khoa học kỹ thuật giữa
các quốc gia đã tạo ra sự khác nhau về điều kiện tái sản xuất. Điều này đòi hỏi
các quốc gia phải mở rộng phạm vi trao đổi quốc tế. Do đó đối tượng tham gia
vào việc trao đổi quốc tế được mở rộng.
Quá trình phát triển kinh tế tất yếu dẫn đến phân công lao động. Sự phân
công dần dần vượt qua ngoài phạm vi biên giới quốc gia, dẫn đến sự chuyên môn
hoá và hợp tác hoá giữa các công ty thuộc các quốc gia khác nhau. Từ đó đối
tượng và phạm vi trao đổi quốc tế càng được mở rộng.
Bên cạnh đó cũng đặt ra yêu cầu chuyên môn hoá sản xuất giữa các quốc gia
nhằm đạt được quy mô tối ưu cho từng ngành sản xuất. Như vậy, không phải
mỗi nước đều tự sản xuất mọi thứ hàng hoá để tự đáp ứng nhu cầu của mình, mà
quốc gia phải tập trung vào một số ngành và sản phẩm lợi thế. Đây cũng là một
nền tảng quan trọng để quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng phát triển về chiều sâu.
Một cơ sở quan trọng khác của việc phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế là
sự đa dạng hoá của nhu cầu về tiêu dùng ở mỗi quốc gia.
Nói tóm lại, cơ sở của việc phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế không chỉ là
sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển, các nguồn lực sẵn có của
các quốc gia mà còn là sự đa dạng về nhu cầu, sự ưu việt của quá trình chuyên
môn hoá sản xuất, quá trình hợp tác hoá và ưu thế của quy mô tối ưu trong sự
phân công lao động quốc tế.
5
3. Tính tất yếu khách quan của việc mở rộng và nâng cao hiệu quả của
KTĐN.
3.1. Vai trò của KTĐN
KTĐN nối liền hoạt động sản xuất và trao đổi trong nước với hoạt động sản
xuất và trao đổi quốc tế, nối liền thị trường trong nước với thị trường thế giới và

kinh tế, khoa học công nghệ với bên ngoài là một tất yếu khách quan và là một
yêu cầu cấp bách.
4. Các nguyên tắc cơ bản và những hình thức chủ yếu của KTĐN
4.1. Các nguyên tắc cơ bản của KTĐN
 Bình đẳng: Đây là nguyên tắc có ý nghĩa rất quan trọng, là nền tảng để
thiết lập và lựa chọn đối tác trong quan hệ kinh tế quốc tế của các nước. Mỗi
quốc gia, đặc biệt là những quốc gia có lợi thế so sánh kém hơn so với các quốc
gia phát triển cần tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc này trong tiến trình mở cửa và hội
nhập.
 Cùng có lợi: Nguyên tắc này đóng vai trò là nền tảng kinh tế để thiết lập
và mở rộng quan hệ kinh tế , đồng thời là động lực kinh tế để thiết lập và duy trì
lâu dài mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia. Nguyên tắc này được cụ thể hoá
trong các điều khoản làm cơ sở để ký kết trong các nghị định thư giữa các chính
phủ và trong các hợp đồng kinh tế giữa các tổ chức kinh tế.
7
 Tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của
mỗi quốc gia: Trong quan hệ quốc tế, mỗi quốc gia với tư cách là quốc gia độc
lập có chủ quyền về mặt chính trị, kinh tế, xã hội và địa lý.
 Giữ vững độc lập, chủ quyền dân tộc và giữ vững định hướng xã hội chủ
nghĩa đã chọn: Đây là nguyên tắc vừa mang tính chất chung cho tất cả các nước
khi thiết lập và thực hiện quan hệ đối ngoại,vừa là nguyên tắc có tính đậc thù đối
với các nước XHCN trong đó có nước ta.
Bốn nguyên tắc nói trên có mối quan hệ mật thiết với nhau và đều có ý nghĩa
chi phối hoạt động KTĐN, đặ biệt là những nguyên tắc cơ bản trong chiến lược
phát triển KTĐN ở nước ta.
4.2. Những hình thức chủ yếu của KTĐN
4.2.1. Ngoại thương
Ngoại thương, hay thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ (hàng
hoá hữu hình, vô hình) giữa các quốc gia thông qua xuất khẩu.
Trong KTĐN, ngoại thương giữ vị trí trung tâm và có ý nghĩa quan trọng,

sách bảo hộ thương mại có nghĩa là chính phủ thông qua biện pháp thuế quan và
phi thuế quan như hạn chế số lượng nhập khẩu, chế độ quản lý ngoại tệ để hạn
chế sự xâm nhập của hàng hóa nước ngoài. Trong điều kiện hiện nay, vấn đề đặt
ra đối với nước ta là phải xử lý thoả đáng hai xu hướng nói trên bằng cách kết
hợp hai xu hướng đó trong chính sách ngoại thương sao cho vừa bảo vệ vừa phát
9
triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá, bảo vệ thị trường trong nước, thúc đẩy tự do
thương mại, khai thác có hiệu quả thị trường thế giới.
Trong phát triển ngoại thương, phải hình thành một tỷ giá hối đoái sát với sức
mua của đồng tiền Việt Nam. Tỷ giá hối đoái, được hiểu là giá cả ngoại tệ hoặc
giá cả trên thị trường ngoại tệ, tỷ giá giữa hai đồng tiền của nước sở tại với đồng
tiền của nước ngoài, đóng vai trò một trong những đòn bẩy kinh tế quan trọng
trong kinh tế quốc tế. Do vậy, việc xây dựng một tỷ giá hối đoái, thống nhất giá
thị trường tiền tệ là rất cần thiết cho mỗi nước.
4.2.2. Hợp tác sản xuất
Hợp tác trong lĩnh vực sản xuất bao gồm gia công, xây dựng xí nghiệp chung,
chuyên môn hoá và hợp tác sản xuất quốc tế...
Nhận gia công là hình thức cho phép tận dụng nguồn dự trữ lao động, tạo
công ăn việc làm và tận dụng công suất máy móc hiện có.
Xây dựng các xí nghiệp chung với sự hùn vốn và công nghệ từ nước ngoài...
là kiểu tổ chức xí nghiệp thương nghiệp, dịch vụ và tổ chức tài chính, tín dụng
tồn tại dưới dạng các công ty cổ phần. Các xí nghiệp này được ưu tiên xây dựng
ở những ngành kinh tế quốc dân hướng vào xuất khẩu thay thế hàng nhập khẩu
và trở thành nguồn thu ngoại tệ chuyển đổi, tạo điều kiện cho nhà nước tiết kiệm
ngoại tệ.
Hợp tác sản xuất quốc tế trên cơ sở chuyên môn hoá. Chuyên môn hoá bao
gồm chuyên môn hoá ở các ngành khác nhau và chuyên môn hoá trong cùng một
ngành. Hình thức hợp tác này làm cho cơ cấu kinh tế theo ngành của các nước
tham gia đan kết vào nhau, phụ thuộc lẫn nhau.
4.2.3. Hợp tác khoa học – công nghệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status