Tài liệu Tiểu luận "Sự cần thiết và vai trò của kiểm toán" - Pdf 93

Tiểu luận cá nhân GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh
Trường…………………
Khoa…………………..
TIỂU LUẬN
Sự cần thiết và vai trò của
kiểm toán
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng – Lớp K13KKT3 Trang
1
Tiểu luận cá nhân GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh
MỤC LỤC
........................................................................................................................................................................3
........................................................................................................................................................................4
Phần I: Khái quát chung về Kiểm toán..........................................................................................................4
I. Lịch sử hình thành và phát triển của Kiểm toán trên thế giới và tại Việt Nam........................................4
1. Lịch sử hình thành và phát triển của Kiểm toán trên thế giới................................................................4
II. Khái niệm Kiểm toán ...............................................................................................................................8
3. Vai trò của Kiểm toán nội bộ..................................................................................................................19
Phần III: Những kiến nghị để nâng cao trách nhiệm của kiểm toán..........................................................28
1. Yêu cầu đặt ra đối với Kiểm toán ...........................................................................................................28
4. -Thực trạng đội ngũ kiểm toán viên ở Việt Nam ...................................................................................29
......................................................................................................................................................................41
Tài liệu tham khảo:.................................................................................................................................43
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng – Lớp K13KKT3 Trang
2
Tiểu luận cá nhân GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh
Kiểm toán là một hoạt động không thể thiếu trong quá trình vận hành của nền kinh tế
thị trường nhằm nâng cao chất lượng thông tin, giúp người sử dụng ra quyết định thích
hợp. Một nền kinh tế phát triển lành mạnh với kênh cung cấp vốn từ thị trường chứng
khoán và ngân hàng đòi hỏi phải được cung cấp các dịch vụ kiểm toán có chất lượng
cao.
Xã hội ngày càng phát triển, nền kinh tế ngày càng phức tạp, thông tin kinh tế càng

Cùng với sự phát triển của xã hội và sự phát triển của kế toán là sự phát triển không
ngừng của công cụ kiểm soát về kế toán. Ở đâu có hoạt động của con người ở đó có
hoạt động kiểm tra, kiểm soát, ở đâu có kế toán ở đó có kiểm tra kế toán.
Kiểm tra kế toán phát triển từ thấp đến cao, xã hội phát triển xuất hiện của cải dư thừa,
hoạt động kế toán ngày càng được mở rộng và càng phức tạp thì kiểm tra, kiểm soát về
kế toán và tài chính ngày một được quan tâm với mức độ cao.
Từ thời kỳ cổ đại, kế toán được thực hiện chủ yếu bằng những dấu hiệu riêng trên các
sợi dây, thân cây, lá cây. Hình thức này phù hợp với giai đoạn đầu của thời kỳ cổ đại do
xã hội còn chưa có của cải dư thừa, nhu cầu kiểm tra của quản lý còn ít và ở mức độ
đơn giản.
Đến cuối thời kỳ cổ đại, sản xuất đã phát triển, của cải dư thừa ngày càng nhiều, người
sở hữu và người quản lý tài sản tách rời nhau. Nhu cầu kiểm tra tài sản và các khoản
thu, chi ngày càng phức tạp, hình thức kế toán giản đơn không còn đáp ứng được yêu
cầu quản lý. Vì vậy kiểm tra độc lập đã phát sinh trước hết ở La Mã, Pháp và Anh.
Ở La Mã, vào thế kỷ thứ III TCN các nhà cầm quyền (người sở hữu tài sản) đã
tuyển dụng các quan chức có chuyên môn và độc lập để kiểm tra các báo cáo của người
quản lý về tình hình tài sản của họ và đưa ra ý kiến chấp nhận hoặc yêu cầu sửa đổi các
báo cáo này. Hình thức kiểm tra được thực hiện bằng cách người quản lý đọc to các báo
cáo cho người kiểm tra độc lập nghe rồi chấp nhận.
Ở Pháp, vua Charlemagne cũng theo tiền lệ của La Mã đã tuyển các quan chức cao
cấp phụ trách giám sát công việc quản lý, đặc biệt là các nghiệp vụ tài chính của các
quan chức địa phương và trình bày lại kết quả với Hoàng đế hoặc các vị cận thần.
Ở Anh, theo văn kiện của Nghị viện, vua Edouard đệ nhất cho các Nam tước quyền
tuyển dụng kiểm toán viên (Auditors), bản thân vua cũng cho đối chiếu lại các tài khoản
thuộc di chúc của cố Hoàng hậu Elonor.
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng – Lớp K13KKT3 Trang
5
Tiểu luận cá nhân GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh
Từ trung đại trở đi, đã có sự hoàn thiện và phát triển dần của kế toán, chẳng hạn với các
khoản giao dịch đã buộc cả 2 bên cùng ghi sổ, do đó phát sinh quan hệ đối chiếu như

2. Lịch sử hình thành và phát triển của Kiểm toán tại Việt Nam
Ở Việt Nam, Kiểm toán nói chung cũng như kiểm tra kế toán nói riêng đã được
quan tâm ngay từ khi bắt đầu xây dựng đất nước. Trước năm 1975, ở miền Nam nước ta
đã có hoạt động Kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập dưới chế độ Việt Nam
cộng hòa thời Mỹ Diệm.
Sau khi nước ta chuyển đổi cơ chế quản lý (năm 1986) từ kế hoạch hóa tập trung
sang cơ chế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, ngày 13/05/1991 Bộ tài chính
đã kí hai quyết định thành lập hai công ty kiểm toán đầu tiên là công ty kiểm toán Việt
Nam được thành lập lấy tên là VACO với 13 nhân viên và công ty dịch vụ kế toán Việt
Nam với tên giao dịch ASC sau này đổi tên là công ty dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán,
kiểm toán – AASC (quyết định 639- TC/QĐ/TCCB ngày 14/09/1993). Số lượng công
ty kiểm toán đã tăng lên đáng kể và loại hình công ty cũng đa dạng hơn, tính đến tháng
10/2006 ở Việt Nam đã có 81 công ty kiểm toán trong đó có 75 công ty đã đăng ký hoạt
động tại BTC, gồm 3 DNNN (VACO, AASC, AISC) 4 công ty 100% vốn đầu tư nước
ngoài (P&C, HPMG, E&Y, Grant Thomtion), 1 công ty liên doanh, 5 công ty hợp danh,
123 công ty cổ phần và công ty TNHH.
Cùng với sự phát triển của kiểm toán độc lập, kiểm toán Nhà nước Việt Nam được
thành lập theo NĐ số 70/CP ngày 11/07/1994 của chính phủ và đến ngày 13/08/2003
được thay bằng NĐ số 93/2003/NĐ-CP. Ngày 14/06/2005 luật kiểm toán Nhà Nước
được Quốc hội ban hành và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2006. Đến nay kiểm toán Nhà
nước có 9 đơn vị kiểm toán khu vực : Khu vực I ( Hà Nội); Khu vực II (Vinh); Khu vực
III (Đà Nẵng); Khu vực IV (TP HCM); Khu vực V (Cần Thơ); Khu vực VI (Hạ Long);
Khu vực VII (Yên Bái); Khu vực VIII (Khánh Hòa); Khu vực IX (Tiền Giang).
Đồng thời kiểm toán nội bộ cũng đã được thành lập trong các doanh nghiệp có quy mô
lớn như: Tổng công ty hàng không, bưu chính viễn thông, dầu khí, điện lực,...
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng – Lớp K13KKT3 Trang
7
Tiểu luận cá nhân GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh
II. Khái niệm Kiểm toán
1.Khái niệm

toán.
2.5. Báo cáo Kiểm toán
Đây là khâu cuối cùng của quá trình kiểm toán. Tùy theo mục đích, tính chất của cuộc
kiểm toán mà báo cáo kiểm toán đi từ báo cáo đơn giản đến phức tạp. Nội dung báo cáo
kiểm toán phải thông tin cho người sử dụng thông tin về mức độ phù hợp giữa thông tin
số lượng và chuẩn mực đã được thiết lập.
Phần II: Sự cần thiết và vai trò của Kiểm toán tại Việt Nam
I. Sự cần thiết của Kiểm toán
Kiểm toán ra đời, phát triển do yêu cầu quản lý và phục vụ cho quản lý. Kiểm toán là
một công cụ quản lý phát triển từ thấp lên cao, gắn liền với hoạt động kinh tế của con
người. Từ khi kế toán ra đời con người biết khai thác công cụ kế toán vào quản lý. Kế
toán cung cấp thông tin phục vụ quản lý. Xã hội ngày càng phát triển thông tin kế toán
càng được mở rộng, đa dạng, phức tạp và chứa nhiều rủi ro. Đồng thời xuất hiện nhiều
đối tượng quan tâm và sử dụng thông tin kế toán như Nhà nước, chủ doanh nghiệp, cổ
đông, nhà đầu tư, ngân hàng, các tổ chức tín dụng, người bán, người mua, người lao
động,…Thực trạng này xuất phát từ những nguyên nhân sau:
-Khoảng cách lớn giữa người sử dụng thông tin và người cung cấp thông tin và sự điều
chỉnh có lợi cho người cung cấp thông tin. Xã hội càng phát triển kéo theo hoạt động
kinh tế càng phát triển, mở rộng và đa dạng. Sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền
sử dụng tài sản ngày càng tăng, các thông tin được cung cấp ngày càng bị hợp pháp hóa
và thành tích hóa có lợi cho người cung cấp thông tin.
-Khối lượng thông tin quá nhiều. Xã hội càng phát triển thông tin càng phong phú, đa
dạng và khối lượng càng nhiều khả năng chứa đựng những thông tin sai lệch trong
những thông tin đúng đắn ngày càng tăng.
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng – Lớp K13KKT3 Trang
9
Tiểu luận cá nhân GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh
-Tính phức tạp của thông tin và nghiệp vụ kinh tế ngày càng tăng. Xã hội càng phát
triển hoạt động kinh tế ngày càng đa dạng, các nghiệp vụ và thông tin ngày càng phức
tạp, nguy cơ chứa đựng thông tin sai lệch là khó tránh khỏi.

đã được hợp pháp bằng nhiều cách. Chỉ có kiểm toán với các kỹ thuật thu thập bằng
chứng phong phú thích hợp mới có thể tạo niềm tin cho người sử dụng thông tin bằng
những xác nhận khách quan và độc lập về thực trạng tài chính của doanh nghiệp.
Các tác giả nghiên cứu đều thống nhất rằng nhu cầu kiểm toán xuất hiện từ khi có
sự phân tách giữa quyền sở hữu và quyền quản lý, khai thác kinh doanh các tài sản, tiền
vốn. Từ những hình thức đơn giản khi các thương gia giao các tài sản của mình cho
người khác quản lý và kinh doanh đến các hình thức phức tạp, hoàn thiện hơn là hình
thái các công ty cổ phần trong đó các cổ đông không trực tiếp quản lý điều hành hoạt
động công ty mà do một nhóm các nhà quản lý đại diện thực hiện chức năng quản lý
kinh doanh. Những người thực hiện chức năng quản lý kinh doanh này được hưởng thu
nhập dưới hình thức cố định (tiền lương) hoặc biến đổi theo kết quả kinh doanh. Dù
dưới hình thức nào thì có rất nhiều lý do dẫn đến khả năng báo cáo tài chính do những
người này lập nên và đệ trình lên chủ sở hữu, các cổ đông có thể sẽ không phản ánh
trung thực về tình hình tài chính và kết quả kinh doanh hoặc ít nhất là thiếu khách quan.
Điều này làm phát sinh yêu cầu phải có giải pháp để chủ sở hữu, các cổ đông có cơ sở
để tin tưởng rằng báo cáo do các nhà quản lý lập nên là phù hợp với các nguyên tắc kế
toán chung được thừa nhận đồng thời bảo vệ được quyền lợi của những người quản lý.
Đây chính là lý do cho sự ra đời và phát triển của kiểm toán. Mặt khác, thực tế hầu như
và không thể mọi chủ sở hữu, các cổ đông đều có điều kiện và khả năng để soát xét các
sổ sách kế toán và báo cáo tài chính của công ty. Do vậy chủ sở hữu, các cổ đông bổ
nhiệm kiểm toán viên thay thế họ để làm việc đó và báo cáo lại cho họ. Các kiểm toán
viên kiểm tra và báo cáo lại một cách độc lập khách quan về tình hình tài chính của họ,
đồng thời, chủ sở hữu, các cổ đông tin tưởng rằng với kiểm toán các hành vi gian lận
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng – Lớp K13KKT3 Trang
11
Tiểu luận cá nhân GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh
hoặc thiếu trung thực của các nhà quản lý sẽ không có cơ hội thực hiện, do đó kiểm
toán là cần thiết và được xem như là một sự đảm bảo.
Hơn nữa, với nền kinh tế phát triển như hiện nay sự ra đời của kiểm toán là rất cần thiết
bởi:

- Ngân hàng và các tổ chức tín dụng: căn cứ vào kết quả kiểm toán để xem xét tình
hình cho các doanh nghiệp vay khi cần thiết và khả năng thu hồi nợ.
- Người lao động: cần có thông tin đáng tin cậy về kết quả kinh doanh, về lợi nhuận
phân phối, về thực hiện chính sách tiền lương và bảo hiểm...nhu cầu đó chỉ có thể
đáp ứng thông qua hệ thống kiểm toán hoàn chỉnh.
- Khách hàng và nhà cung cấp: cũng cần hiểu rõ thực chất về kinh doanh, về tài
chính của các đơn vị kiểm toán về nhiều mặt: số lượng, chất lượng sản phẩm hàng
hóa, cơ cấu tài sản và khả năng thanh toán của đơn vị được kiểm toán.
Tất cả các những đối tượng này, họ đều có nguyện vọng chung là được sử dụng
thông tin có độ tin cậy cao, chính xác và trung thực.
 Kiểm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và ổn định cũng cố hoạt động tài
chính, kế toán nói riêng và hoạt động của các đơn vị kiểm toán nói chung. Thông
qua kiểm toán khi phát hiện sai sót kiểm toán viên chỉ dẫn và đề nghị doanh
nghiệp sửa chữa, tư vấn giúp doanh nghiệp ổn định và kinh doanh hiệu quả. Hoạt
động kiểm toán không những cũng cố hoạt động tài chính, kế toán cho doanh
nghiệp nói riêng mà còn làm lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia, đồng thời
thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính.
 Kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả quản lý. Ngoài chức năng xác nhận thông
tin tài chính, kiểm toán còn có chức năng tư vấn cho các doanh nghiệp, đơn vị
được kiểm toán nhằm kinh doanh hiệu quả, hạn chế rủi ro. Chức năng này được
phát huy tác dụng rất lớn ở các đơn vị được kiểm toán thường xuyên. Trong điều
kiện hiện nay, hệ thống pháp lý chưa hoàn chỉnh, kinh nghiệm và chuyên gia
quản lý giỏi theo cơ chế thị trường chưa nhiều, các doanh nghiệp đứng trước một
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng – Lớp K13KKT3 Trang
13
Tiểu luận cá nhân GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh
cơ chế thị trường đầy phức tạp và cạnh tranh gay gắt vì lợi nhuận. Tính chất xã
hội, môi trường, hiện tại, tương lai, xu hướng đa phương hóa đầu tư và mở rộng
quan hệ có lợi kinh tế ngày càng mở rộng. Trong điều kiện đó để ổn định, duy trì
kỹ cương, kinh doanh hiệu quả, phát triển đúng hướng...chỉ có thể tiến hành trên

đề ra các quyết định hiệu quả và hợp lý. Việc các quy định mang tính pháp lý bắt buộc
các thông tin tài chính trước khi công bố phải được kiểm toán, điều này thể hiện rõ nét
vai trò của kiểm toán trong quá trình đổi mới nền kinh tế. Kiểm toán độc lập không thể
thiếu được của hoạt động kinh tế trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước. Kiểm toán làm tăng mức độ tin cậy đối với các thông tin tài chính, góp phần lành
mạnh hoá các quan hệ kinh tế. Dựa vào kết quả kiểm toán, những người sử dụng báo
cáo tài chính được kiểm toán có được các thông tin khách quan, chính xác theo đó có
thể đánh giá một cách đúng đắn tình hình tài chính cũng như kết quả hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp làm cơ sở cho các quyết định kinh tế của mình. Bên cạnh mục
tiêu chính là đưa ra ý kiến về báo cáo tài chính, các KTV thông qua quá trình kiểm toán,
còn có thể đưa ra những kiến nghị giúp doanh nghiệp hoàn thiện hệ thống kiểm soát,
nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý tài chính nói riêng cũng như hoạt động kinh
doanh nói chung.
Trong các quan hệ kinh tế nhờ có kiểm toán mà các doanh nghiệp đã tìm được tiếng nói
chung đó là sự tin cậy lẫn nhau, sự thẳng thắn, trung thực trình bày về tình hình tài
chính của mình. Đây là yếu tố hết sức quan trọng để đánh giá, lựa chọn đối tác kinh
doanh. Đặc biệt trong quan hệ hợp tác kinh doanh với nước ngoài, nếu nhà đầu tư nước
ngoài muốn tìm hiểu về hoạt động kinh doanh và đánh giá tình hình tài chính của một
doanh nghiệp trước khi đầu tư, hợp tác kinh doanh thì chi phí cho cuộc kiểm toán sẽ
hiệu quả và rẻ hơn nhiều so với chi phí mà hai bên phải bỏ ra để đàm phán, tự chứng
minh về khả năng tài chính của mình. Đồng thời ý kiến khách quan của kiểm toán luôn
đáng tin cậy hơn. Ngay cả khi các công ty có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập thì
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng – Lớp K13KKT3 Trang
15
Tiểu luận cá nhân GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh
nhu cầu kiểm toán của các công ty này là tất yếu bởi yêu cầu quản lý của các đối tác
nước ngoài trong doanh nghiệp. Do vậy kiểm toán độc lập ra đời đã đáp ứng tốt nhu cầu
của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, góp phần hoàn thiện môi trường đầu tư và
thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi nền kinh tế. Ngoài những đóng góp tích cực nêu
trên cho nền kinh tế, kiểm toán độc lập còn là hoạt động dịch vụ và như vậy nó tạo ra

độc lập... các loại hình doanh nghiệp này rất cần sự trợ giúp, hướng dẫn từ thủ tục đăng
ký thành lập doanh nghiệp, thủ tục đăng ký thuế, mua hóa đơn, kê khai và quyết toán
thuế... vì họ thiếu kinh nghiệm và không bố trí nhân viên làm kế toán... Bên cạnh đó,
Chính phủ đang áp dụng Luật thuế Thu nhập cá nhân, chính vì vậy đã phát sinh thêm vô
cùng nhiều người phải kê khai thuế, quyết toán thuế và tất yếu những người nộp thuế
thu nhập cá nhân này lại phải tìm đến công ty tư vấn thuế, đại lý thuế để giúp họ thực
hiện nghĩa vụ của mình với Nhà nước được đầy đủ, đúng, không nộp quá, không lạm
thu, xử lý thủ tục hoàn thuế được kịp thời...
Thông qua hoạt động kiểm toán và tư vấn thuế, các công ty Kiểm toán độc lập đã góp
phần tăng cường công tác quản lý thuế, cụ thể:
- Công ty Kiểm toán độc lập là một kênh cung cấp thông tin cho cơ quan thuế về các
vướng mắc về thuế phát sinh trong quá trình sản xuất, kinh doanh của các doanh
nghiệp. Trong quá trình kiểm toán, tư vấn tài chính, thuế cho doanh nghiệp với chuyên
môn và kinh nghiệm trong lĩnh vực này, công ty kiểm toán độc lập đã phát hiện ra
những bất cập về chính sách thuế trong quá trình thực hiện. Ngoài chức năng tư vấn,
giải thích cho doanh nghiệp hiểu rõ về chính sách thuế thì công ty kiểm toán còn đóng
vai trò tổng hợp, phân tích các bất cập về chính sách thuế trong quá trình thực hiện. Các
vướng mắc, kiến nghị về thuế của doanh nghiệp do các công ty kiểm toán cung cấp
thường được tổng hợp từ nhiều doanh nghiệp, đã được phân tích, đánh giá và có cơ sở
vì vậy có tính thuyết phục cao. Điều này đã giúp cho các cơ quan Nhà nước hiểu rõ hơn
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng – Lớp K13KKT3 Trang
17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status