Sự cần thiết và vai trò của kiểm toán - Pdf 93

Tiểu luận cá nhân GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh
Kiểm toán là một hoạt động không thể thiếu trong quá trình vận hành của nền kinh tế
thị trường nhằm nâng cao chất lượng thông tin, giúp người sử dụng ra quyết định thích
hợp. Một nền kinh tế phát triển lành mạnh với kênh cung cấp vốn từ thị trường chứng
khoán và ngân hàng đòi hỏi phải được cung cấp các dịch vụ kiểm toán có chất lượng
cao.
0Xã hội ngày càng phát triển, nền kinh tế ngày càng phức tạp, thông tin kinh tế càng
có nguy cơ chứa đựng rủi ro, sai lệch, thiếu tin cậy. Đối tượng quan tâm đến thông tin
tài chính của doanh nghiệp không phải chỉ có Nhà Nước mà còn có các cấp quản lý, đối
tác liên doanh và cả người lao động… Tuy từ nhiều gốc độ khác nhau nhưng tất cả các
đối tượng quan tâm đều có nguyện vọng chung là sử dụng thông tin có độ tin cậy cao,
độ chính xác và trung thực. Nếu tất cả những người quan tâm đều phải tự tổ chức kiểm
tra các thông tin tài chính của doanh nghiệp thì chi phí quá lớn. Vì vậy cần thiết phải có
tổ chức độc lập, khách quan tiến hành kiểm tra các thông tin này để đáp ứng yêu cầu
của nhiều đối tượng sử dụng thông tin, đó chính là tổ chức kiểm toán.
Xuất phát từ những đặc điểm trên nên em đã chọn đề tài “Sự cần thiết và vai trò
của kiểm toán”. Đề tài của em gồm 3 phần:
Phần I: Khái quát chung về kiểm toán
Phần II: Sự cần thiết và vai trò của kiểm toán tại Việt Nam
Phần III|: Những kiến nghị để nâng cao trách nhiệm của kiểm toán
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng – Lớp K13KKT3 Trang
1
Tiểu luận cá nhân GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh
Phần I: Khái quát chung về Kiểm toán
I. Lịch sử hình thành và phát triển của Kiểm toán trên thế giới và tại Việt Nam
1. Lịch sử hình thành và phát triển của Kiểm toán trên thế giới
Theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, Kiểm toán ra đời vào thế kỷ thứ III
TCN, gắn liền với nền văn minh của Ai Cập và La Mã cổ đại.
Ở thời kỳ đầu Kiểm toán chỉ hình thành ở mức độ sơ khai với tên gọi là Kiểm toán cổ
điển. Biểu hiện là những người làm công việc ghi chép kế toán đọc to lên những số liệu,
tài liệu kế toán cho một bên độc lập nghe và sau đó chứng thực. Vì vậy từ “AUDIT”

khoản giao dịch đã buộc cả 2 bên cùng ghi sổ, do đó phát sinh quan hệ đối chiếu như
một hình thức kiểm tra kế toán.
Đặc biệt từ thế kỷ XVI trở đi, sự xuất hiện của kế toán kép do một nhà toán học người
Ý là Luca Paciola đã khiến cho phương pháp tự kiểm tra của kế toán hoàn thiện hơn, đã
đáp ứng đủ nhu cầu quản lý và an toàn tài sản lúc bấy giờ.
Từ thế kỷ XVII – XX, các phương pháp kế toán và kỹ thuật thông tin phát triển đến
mức tinh xảo đã đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của quản lý.
Đến năm 30 của thế kỷ XX xuất hiện sự phá sản của các tổ chức tài chính và khủng
hoảng kinh tế, suy thoái về tài chính chức năng kiểm tra kế toán mới bộc lộ những
nhược điểm, đòi hỏi phải có sự kiểm tra ngoài kế toán và kiểm toán được phát triển trở
lại.
Năm 1934, uỷ ban giao dịch chứng khoán đã được thành lập và quy chế về kiểm toán
viên bên ngoài bắt đầu có hiệu lực. Đồng thời trường đào tạo kiểm toán viên công
chứng của Hoa Kỳ (AICPA) đã in ra mẫu chuẩn đầu tiên về báo cáo kiểm toán tài
khoản của các công ty.
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng – Lớp K13KKT3 Trang
3
Tiểu luận cá nhân GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh
Năm 1941, viện Kiểm toán nội bộ Hoa Kỳ (IIA) được thành lập đã đi vào hoạt động và
đào tạo các kiểm toán viên nội bộ. Đồng thời viện đã xây dựng và ban hành hệ thống
chuẩn mực kiểm toán nội bộ Hoa Kỳ vào năm 1978.
Tại Pháp, việc kiểm tra một cách độc lập của những chuyên viên bên ngoài đã được
xác lập và thông qua bởi đạo luật về các công ty thương mại ngày 24/07/1966. Đồng
thời kiểm toán nội bộ ở Pháp cũng đã được hình thành chính thức vào những năm 60
của thế kỷ XX ở những công ty con thuộc tập đoàn ngoại quốc.
Từ lịch sử phát triển Kiểm toán, nhận thấy rằng Kiểm toán ra đời là do nhu cầu kiểm tra
độc lập các số liệu kế toán và thực trạng tài chính của các doanh nghiệp. Trong quá
trình phát triển Kiểm toán không chỉ giới hạn ở lĩnh vực kế toán tài chính mà được mở
rộng sang các lĩnh vực kiểm soát, đánh giá cả hệ thống quản lý của doanh nghiệp;
không chỉ giới hạn ở các doanh nghiệp kinh doanh mà còn được mở rộng đến các đơn

1.Khái niệm
Kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động tài chính bằng hệ thống
phương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ do các kiểm toán viên
có trình độ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực.
2. Các yếu tố chính trong khái niệm Kiểm toán
2.1. Chủ thể Kiểm toán
Chủ thể Kiểm toán là các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền. Giữa các KTV và các
nhà quản lý trong công ty không có mối quan hệ thân thiết với nhau. KTV cần phải giải
quyết mâu thuẫn một cách thành thực, không lẫn trốn trách nhiệm của mình trước các
cổ đông , phải độc lập về kinh tế cũng như độc lập về hoạt động nghiệp vụ. KTV hoạt
động theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo hộ và chịu trách nhiệm trước
pháp luật.
2.2. Phương pháp Kiểm toán
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng – Lớp K13KKT3 Trang
5
Tiểu luận cá nhân GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh
Thu thập và đánh giá các bằng chứng. Bằng chứng là thông tin mà KTV sử dụng để
xác định xem liệu thông tin đang được kiểm toán có được trình bày phù hợp với các
chuẩn mực hay không.
2.3. Khách thể Kiểm toán
Khách thể Kiểm toán là các tổ chức, đơn vị, cá nhân… nơi có những thông tin cần kiểm
toán. Tùy từng loại kiểm toán mà khách thể kiểm toán có sự khác nhau. Tổ chức kinh tế
có thể là tổ chức pháp nhân như một DNNN, một công ty cổ phần, một công ty liên
doanh, doanh nghiệp tư nhân…Trong một số trường hợp đặc biệt tổ chức được xác định
là một phân xưởng, cửa hàng hoặc thậm chí là một cá nhân.
Thời gian kiểm toán thường là 1 năm tuy nhiên cũng có trường hợp kiểm toán 1 kỳ, 1
quý, 1 tháng hoặc là vài năm và trong một số trường hợp là thời gian tồn tại của tổ chức
đó.
2.4. Căn cứ Kiểm toán
Căn cứ thực hiện Kiểm toán đó là các chuẩn mực kiểm toán đã được thiết lập. Còn căn

tạp, nguy cơ chứa đựng thông tin sai lệch là khó tránh khỏi.
-Khả năng thông đồng trong xử lý thông tin có lợi cho người cung cấp thông tin ngày
càng lớn. Xã hội càng phát triển các hiện tượng tiêu cực càng tinh vi với mức độ gia
tăng. Khả năng cấu kết, thông đồng đem lại lợi ích cho người cung cấp thông tin ngày
càng lớn, rủi ro thông tin ngày càng cao.
Để giảm thiểu rủi ro thông tin có 3 cách:
- Người sử dụng thông tin tự kiểm tra thông tin mà mình sử dụng. Việc này không hiệu
quả lại tốn kém không phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Mặt khác còn bị giới
hạn bởi năng lực của người sử dụng thông tin.
- Người sử dụng thông tin chia sẻ rủi ro thông tin với người quản lý doanh nghiệp hay
người cung cấp thông tin. Cách này có thể được thỏa thuận hai bên nhưng nó không thể
chia sẻ được khi người cung cấp thông tin bị giải thể hoặc phá sản. Lúc này mọi hậu
quả đều dồn về người sử dụng thông tin.
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng – Lớp K13KKT3 Trang
7
Tiểu luận cá nhân GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh
-Sử dụng thông tin trên BCTC khi đã được kiểm toán độc lập xác nhận. Cách này rất
hiệu lực, phát huy tính chuyên môn hóa sâu sắc, phù hợp với xu thế phát triển của thời
đại, tiết kiệm chi phí, đảm bảo lợi ích vật chất và tránh được hậu quả cho người sử dụng
thông tin. Đồng thời gắn chặt giữa trách nhiệm pháp lý và vật chất của kiểm toán viên
với những nhận xét, kết luận mà họ đã đưa ra.
Mặt khác, kiểm tra kế toán được thực hiện thông qua cơ chế duyệt quyết toán chủ yếu
được tiến hành trên tài liệu, giấy tờ là chính chứ chưa đi sâu vào hoạt đông của doanh
nghiệp. Chẳng hạn việc xét duyệt quyết toán thường được thực hiện vào quý I hoặc quý
II năm sau nên việc xác định tài sản thực tế của doanh nghiệp vào thời điểm kiểm kê
(31/12 năm trước) có tồn tại thật hay không. Một số vấn đề khác như công nợ, giá trị
của tài sản… cần sử dụng các kỹ thuật như xác nhận, điều tra… cũng không thực hiện
được mà thường chỉ chấp nhận trên cơ sở chứng từ, tài liệu kế toán. Do những hạn chế
này, nên việc duyệt quyết toán không thể phát hiện thực trạng tài chính yếu kém chuyên
kinh doanh, mua bán lòng vòng để gian lận trong việc vay vốn ngân hàng huy động từ

bởi:
-Về khách quan: Do có sự đầu tư từ nước ngoài vào Việt nam, tất sẽ phát sinh nhu cầu
cần phải có hoạt động kiểm toán cũng như nhu cầu tư vấn của bản thân các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đây là thông lệ và cũng là yêu cầu của công ty mẹ.
Mặt khác về phía quản lý nhà nước cũng cần phải có được thông tin đáng tin cậy để
đánh giá thực trạng đầu tư cũng như thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong khi
không thể áp dụng các hình thức duyệt quyết toán như đối với các doanh nghiệp nhà
nước.
-Về chủ quan: Khi tính chủ động trong kinh doanh của các doanh nghiệp được phát
huy, các doanh nghiệp hạch toán kinh doanh độc lập, theo đó các yêu cầu thông tin kinh
tế trung thực và đáng tin cậy là hết sức quan trọng. Các thông tin này không chỉ phục vụ
cho cho một đối tượng là nhà nước mà còn phục vụ cho nhiều các đối tượng khác như
Ngân hàng (tư cách là người cho vay), đối tác kinh doanh, người lao động,…
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng – Lớp K13KKT3 Trang
9
Tiểu luận cá nhân GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh
II. Vai trò của Kiểm toán
1.Vai trò chung
Từ những nghiên cứu có thể tháy rõ vai trò của Kiểm toán trên nhiều mặt:
 Kiểm toán tạo niềm tin cho những người quan tâm. Trong cơ chế thị trường có
rất nhiều người quan tâm tới tình hình tài chính và sự phản ánh của nó trong tài
liệu kế toán và BCTC. Trong đó có thể kể đến:
- Các cơ quan Nhà nước: cần thông tin trung thực để điều tiết vĩ mô nền kinh tế bằng
hệ thống pháp luật.
- Các đơn vị được kiểm toán: giúp đơn vị kiểm toán thấy rõ chân dung và thực lực
của mình, đánh giá chính xác thực trạng tài chính, thẩm định đúng kết quả kinh
doanh để có biện pháp quản lý, điều hành phù hợp nhằm đạt được hiệu quả cao.
- Các nhà đầu tư: cần thông tin tin cậy để có hướng dẫn đúng, điều hành sử dụng vốn
đầu tư. Các nhà đầu tư ở đây không chỉ trong nước mà còn cả nước ngoài. Họ cần sự
xác nhận vô tư và trung thực của kiểm toán mới yên tam và tin tưởng khi bỏ vốn đầu

kỹ cương, kinh doanh hiệu quả, phát triển đúng hướng...chỉ có thể tiến hành trên
cơ sở sử dụng đồng bộ và hiệu quả các công cụ quản lý đặc biệt là kiểm toán.
2.Vai trò của Kiểm toán độc lập
Kiểm toán độc lập bảo vệ quyền lợi cho những người có liên quan và sử dụng thông tin
của đơn vị được kiểm toán như: chính phủ, cổ đông, ngân hàng, nhà đầu tư... và cũng
rất hữu ích cho chính các nhà quản lý đơn vị được kiểm toán. Tổ chức Kiểm toán độc
lập đóng vai trò là một bên độc lập (bên thứ ba) thực hiện chức năng thẩm định thông
tin do một đơn vị báo cáo và đưa ra lời xác nhận về mức độ tin cậy của các thông tin
này. Từ BCTC đã được Kiểm toán độc lập xác nhận người sử dụng sẽ có cơ sở tin cậy
cho việc đưa ra các quyết định, các đối sách thích hợp. Nhà đầu tư quyết định duy trì,
mở rộng hay thu hẹp mức độ đầu tư. Nhà cung cấp quyết định duy trì, tăng cường hay
giảm thiểu mức độ cung cấp vật tư, hàng hóa...
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng – Lớp K13KKT3 Trang
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status